|
C |
huyến xe khách muộn đỗ lại ở ngã ba Trà Bá. Đăm Noi xách va li bước xuống đường. Đêm lạnh… Anh kéo cao cổ áo măng tô bật lửa châm một điếu thuốc. Plây Cu đây rồi. Sương mù huyền hoặc giăng giăng. Phố xá chập chờn xanh đổ. Suốt quãng đường ngược lên cao nguyên, lúc còn ngồi mơ màng trên xe Đăm Noi bỗng có ý nghĩ tinh quái: Giá như có ai đánh cuộc rằng, họ để anh bịt mắt, nút tai, cởi trền, rồi cứ thế phóng xe đi, chỉ bằng cảm giác thôi anh cũng dừng xe lại được giữa đất trời Plây cu. Đăm Noi bước chầm chậm, hít hà làn không khí ẩm ướt đầu mùa khô. “Không hỏi đường, nhất định không hỏi đường! Nhưng trước hết phải tìm tới một nhà trọ”. Một chiếc xe ôm trờ tới. Noi lên xe không mặc cả. Nhìn dáng vẻ anh, gã xe ôm cũng không dám nói giá hơn. Phố xá vụt qua, đèn chớp nhì nhằng. Một cái gì vừa quen vừa lạ. Có thể là màn đêm, đường phố ánh đèn và có thể là hương vị cao nguyên đã một lần máu thịt trong anh.
Với anh, đây là chuyến “về nguồn” đầu tiên, một chuyến đi như vô định, như còn mơ hồ nhưng không dừng được nửa. Lời hẹn đã kéo ra tới một phần tư thế kỷ. Vẻ mặt buồn buồn, hơi cúi xuống của chị “ôsin” cùng câu nói “Cháu cứ tưởng bác về kịp nên bảo chú ấy đứng chờ ngoài đường, rất lâu”. “Cháu có biếu chú ấy ít tiền mua vé tàu rồi”. Nó bỏ nữa đứng dậy rút cái ví tiền trong áo vét nhưng chị giúp việc lại thẽ thót: “Bác làm gì vậy, chú ấy là người huyện cháu”. Huệ có vẻ không bằng lòng: “Thôi, chị xuống bếp đi. Khiếp! Bây giờ sau nhiều người bị mất cắp thế. Cứ có người làng ra phố là y như kêu mất cắp với mất mùa”. Noi định nói lại. “Không phải người làng, cậu ấy cùng đươn vị vũ”. Lại thôi. Dường như từ lâu cái tổ từ “Đơn vị cũ” nó lạc đi đâu. Phát âm nghe ngường ngượng, cứng cứng thế nào ấy. Hòa quê tận Khu Bốn, vùng đồi trọc, rất nghèo. Lần trước cách đây ba năm, cậu ta ra Hà Nội, tìm tới công ty của anh nhưng không hiểu loạng quạng thế nào cứ đòi gặp anh Noi. Phòng bảo vệ khăng khăng bảo cơ quan không có ai tên ấy, rồi đẩy Hòa ra. Mấy ngày sau, qua câu chuyện của người trong cơ quan Noi mới biết. Lần này Hòa lại ra, nghe nói đưa con đi thi, nhưng xui xẻo thế nào lại bị mất cắp. Phải tuyệt vọng lắm Hòa mới tìm đến đây nhờ trợ giúp. Từ ngày nhà anh chắp cái bức tường sắt phía ngoài, khách khứa không còn còn được bước bào sân, phải đứng ngoài đường giao dịch với chị giúp việc qua cái lỗ hình vuông nhỏ bằng con bài. Cô Ô Sin đã nói dối: “Chị ở Hải Dương, Hòa ở Quảng Bình sao gọi là đồng hương được. Có chăng thì hồi đi thanh niên xung phong chị có ở đường 20 chạy qua quê Hòa. Hòa là chiến sĩ cuối cùng trong số 19 người còn lại của đại đội được “kiểm kê” trước ngày giải ngũ. Mùa hè năm 1969, đại đội trinh sát đạc nhiệm mới ra lò của Noi vượt Bến Hải hành quân một mạch vào chiến trường Tây Ngyên. Đại đội 120 người, Hòa là chiến sĩ trẻ nhất trong tiệu đội do Noi làm tiểu đội trưởng. Mấy năm gần đây cũng có đôi ba lần gặp mặt đơn vị cũ, làm nhưng đều vắng Hòa. Những lần trước đều hẹn nhau ở nhà đại đội trưởng, nhưng sau chúng nó chuyển qua Gia Lâm ở nhà của Nãm. Có thể vì nhà Noi quá lớn, sang quá và kín cổng quá. Nhà Mãn ba gian xây kiểu cũ, vườn lại rộng phảng phất vùng quê. Nhưng lần này Hòa đến, kỷ niệm cũ, món nợ cũ lại dội lên chập chờn. Và rồi, Noi đi. Gộp luôn ba cái pháp để đi, không lùi được nữa. Nó đi tìm một mùa mưa Tây Nguyên.
* * *
Mùa mưa Tây Nguyên âm ỉ, lê thê trầm buồn và hùng tráng. Người nóng tính, người nhát gan không trụ qua nổi vài tháng.
Làng JơMa cách Plây Cu vài con dao quăng. Đại đội trinh sát được chia thành ba mũi chốt ở các làng bản bao quanh thành phố phục vụ cho tham mưu các trung đoàn lập phương án tác chiến mùa khô. Trung đội trưởng Mai Khoa cùng bình nhất Hòa nghỉ tại nhà ông Rơ Chăm ấp, một nghệ nhân Hơ Mông (H’mon). Từ khi ông Rơ chắp ấp qua tuổi bốn lăm trờ thành “nghệ nhân chuyên nghiệp” thì mặc nhiên nhà sàn của ông thành một “nhà rông” thứ hai chuyên tu họp dân bản nghe Hơ Mông, theo lệ, đàn ba trẻ con không được đến nhà rông chính. Cũng từ khi trung đội Mai Khoa đến đóng quan, những đêm trắng, dân bản đến nghe Hơ Mông nhiều hơn. Họ có vẻ thấy ấm áp yên ổn khi có các chiến sĩ giải phóng cùng nghe. Đêm, con thú hoàng ngoài rừng ướt nhoẹt càu nhàu lê lết về hàng. Bếp lửa giữa nhà bập bùng. Ché rượu cần buộc yên lặng bên cột Gung trầm tĩnh như tráng sĩ đang lắng nghe hiệu lệnh. Rơ Chăm ấp nằm nghiêng, đầu gói cao hướng ra bếp lửa, mắt sáng rực. Bóng ông hắt lên vách một khối hình to lớn, huyền ảo. Mọi người im lặng thàng kính nuốt lấy từng lời. Giọng Rơ Chăm ấp âm vực rộng tăn dần độ cao như nói, như hát, như ru, như than, như ra lệnh, như cầu xin, lúc chồm lên như thác sông Ba cao sừng sửng như núi Hơ rung (H’rung), lúc trầm lắng như biển hồ là Nueng.
Hơ Mông Đăm Noi kể rẳng: Xưa, thuở trời đất mới phân chia, người Ba Na đang vui sống, ngày làm nương bẩy thú bắt ca, đêm đêm người già cầm cần rượu, trai gái xoang không biết ngủ. Bỗng có con quỷ Drang hạ - Drang hơm “rốn to bằng núm chiêng, mắt to bằng quả cà bát, mặt to bằng cái nong của người kinh, thân hình to cao sừng sững tận trời xanh”. Lão đã ăn thịt bao nhiều người kinh, người jơ rai, người Chăn. Lão tàn phá làng jơ Ma, ăn thịt hết người jơ Ma. Chỉ còn sót lại chàng Xét trốn nhủi trong hốc cây. Bốc kây đây (Bokeidei – tức trời) thương tình co con gái yêu là Hơ – Bia – Rắc (H’Biarak) xuống làm vợ Xét đẻ năm đứa con trai. Noi là con út, nhưng khi mới ra đời “như con sâu mới nở, con sóc mới sinh, đã có sức mạnh đánh núi núi lở, đánh đá đá vở, đánh nước nước cạn”. Bằng tài trí của mình, với sự giúp sức của các anh trai Dung (Jun), Don (Yon), Hơ Mon (H’Mon), Hơ Rết (H’Rit) và các cô gái xin đẹp như Biakiaen (Bia – Kơ – Nhí, Bia Kơ Xét) đã đánh bại Kơ Lơm bơrrit (K’lơm Brit) quỷ Gan rừng, tiêu diệt Drang hạ - Drang hơm, chinh phục Bốc ơ rao (Bók prao) Thần Nước Lốt Rồng, trả thù cho dân bnar. Chàng ca khúc khải hoàn làm lễ tạm và đẹp duyên cùng Bia Kơ Nhí, người con gái xinh đẹp được chàng cứu thoát khỏi vuốt quỷ…
Không ai trong trung đội có sức khỏe bằng Mai Khoa, cũng không ai có tài thức trăng đêm bằng anh. Sau những đợt đi trinh sát về cả tổ thường lăn ra ngủ. Mai Khoa chui vào cái chỗ quen thuộc khuất sau lưng Rơ Chăm ấp. Và ở đây, trong cơn rã rời của cơ bắp, hiện lên những nguy hiểm chết người của ban ngày trên đường phố Plây cu đầy bóng giặc, hiện lên chập chờn mái rạ đồn quê Bắc Bộ, màu phượng vĩ tuổi học trò. Văn vẳng tiếng ve kêu mùa hạ hòa âm với giọng nghệ nhân H’Mon và ì ầm tiếng nặng nhẹ của đại bác từ mạn An Khê âm âm vọng về. Mai Khoa trở thành con nuôi của Rơ Chăp ấp lúc nào không hay, thành anh nuôi của Bia Kơ Nhí. Một lần uống rườu cần bên bếp lửa Rơ Chăp ấp nói với các chiến sĩ trong trung đội rằng: Người Ba Na không chỉ có H’Mon Đăm Noi mà con nhiều H’Mon khác nữa. Người Ê Đê có nhiều Khan, người jơ Rai có nhiều H’Ri kể nhiều màu rẫy không hết. Nhưng nuốn kể H’Mon, H’Ri hay Khan phải qua tuổi bốn lăm. Trẻ quá không đủ mà già quá hết giọng. Một mai Đăm Noi (Mai Khoa) và lũ Jung, Jít… đánh đuổi xong Drang hạ - Drang hơm (giặc xâm lược) rồi thì về đây mùa kể H;Mon. Cái anh chàng trung đội trưởng Mai Khoa đã hóa thân thành Đăm Noi như vậy. Các chiến sĩ khác cũng thi nhau khoác những cái tên con trai chính diên trong Trường ca Đăm Noi.
Đêm chuẩn bị hành quân chiến dịch Tây Nguyên, lũ làng Jo Ma bỏ nghe H’Mon, rậm rịch gói ghém cho Trung đội xuất phát. Mai Khoa cầm tay Bia Kơ Nhí thì thầm: “Giải phóng miền Nam rồi thì anh về tìm em”. Bia Kơ Nhí khóc nói: “Đăm Noi nhớ giữ gìn, quỷ Drang hạ - Drang hơm dữ lắm”.
* * *
Công bằng mà nói thì Huệ có cái lý của mình. Chị bị căn bệnh nghề nghiệp của một bác sĩ ưa yên tĩnh mà chiến hữu của Noi thì mỗi lần tập hợp đều ồn ào và hơi bừa. Hồi đâu, nghe cái tên Bia Kơ Nhí gán cho mình, Huệ có vẻ thích. Sau ngày ba mươi tháng tư, đâu như giữa tháng năm, bảy lăm, một hôm đang đi trên một đường phố lớn giữa Sài Gòn, “Bia Kơ Nhí” bỗng lùi lại ngó ngược nhìn xuôi mặt xanh tái. Phải vài phút sau Noi mới hiểu được chuyện. Nhìn ra đường, những xe là xe, người là người, không có một góc khuất. Một cậu trong đoàn bỗng nêu sáng kiến. Thế là, cả “đại đội” mười chín người đứng quây lại thành vòng kết, ba mươi tám cái ống quần quân phục bạc màu rộng thùng thình lại thành một cái toilet cho Bia Kơ Nhí “trút bầu tâm sự”. Khi vào chiến trường Huệ mới học xong năm thứ ba Trường Đại học Y, làm y tá trong trạm phẩu thuật tiền phương, tình cơ được chăm sóc “Đăm Noi”, trong lần anh bị tương ở ngoại vi Sài Gòn. Gần đây Huệ thành đạt trong công danh và bắt đầu quê kỷ niệm. Nhiều lần, anh em trong đại đội ngày xưa đến thăm, từ tầng gác trên Huệ đã không xuống chào. Mai Khoa cũng ngại, không muốn kéo vợ vào những câu chuyện cũ. Đã mươi lần tụ tập không có Hòa. Hai lần, Hòa tìm đến không gặp anh. Đăm Noi! Hòa vẫn gọi anh bằng cái tên Tây Nguyên tha thiết như năm xưa đã giằng lấy khẩu tiểu liên AK vừa điểm xạ vừa chạy ra kéo hỏa lực bọn thám báo ra khỏi Đăm Noi – Khoa và Bia Kơ Nhí đang ẩn nấp cạnh làng JO Ma, đã nhảy bổ vào ôm lấy anh lăn tròn xuống đồi tránh điểm rơi quả bom đang lao xuống tròn vo. Vậy mà, người em út của đại đội, ân nhân của anh đã bị xếp vào hàng những người lũ lượt kéo tời nhà anh kể nỗi mất cắp, mất mùa. Có phải Hòa đến để nhắc anh về lời hẹn năm nào, rằng, đánh xong Drang hạ - Drang Hơm sẽ trở về Jơ Ma học tiếng Ba Na, dịch H’Mon Đăm Noi cho toàn Tây Nguyên, cho toàn Việt Nam cùng đọc như trường ca Đăm San Xinh Nhã của người Ê Đê, “đẻ đất đẻ nước” của người Mường, Thánh gióng của người Kinh, Prômêtê của người Hi Lạp; sẽ kể với người người, nơi nơi rằng làng Jơ Ma từng có chàng dũng sĩ Đăm Noi sức mạnh phi thường.
“Đánh núi núi lở
Đánh đá đá vỡ”
Nghe tên chàng: “Con cá Trầu sông Ba phải chui xuống bùn
Con trăn lớn phải giật mình
Con rồng thần phải nhỏm dậy ngó xem”
Nhưng nói “quần chúng” hơn các dũng sĩ khác. Anh vui chơ ca hát làm rẫy săn bắn như người Jơ Ma, chiến công của anh có sự giúp sức của dân Jơ Ma. Sau chiến thắng anh không bay về trời nơi quê ngoại mà ở lại cùng lũ làng làm lễ Tạm đẹp duyên với nàng Bia Kơ Nhí “Da trắng như nồi mới lấy khỏi khuôn, mịn như da cá Chình sông Ba. Môi đỏ như dây nỉ, chân tay mềm trằng như cúi bông”…
Đại đội khải hoàn không có lỗi rẽ lên Tây Nguyên mà thẳng hướng ra Bắc. Mỗi người trong số mười chín chiến sĩ sống sót của đại đội đều nghĩ rằng, hãy về thăm quê sau bao nhiêu năm xa cách rồi sẽ trở lại Jơ Ma. Một năm, hai năm sau, mười năm sau, hai mươi lăm năm!? Có thể họ mãi vật lộn trên đồng quê với củ khoai, hạt lúa, tấm áo mạnh quần cho con thơ, cho cha mẹ già. Có thể có người đã quên hay họ còn chờ một mệnh lệnh, một tín hiệu ở anh. Hơn một lần họ nhắc anh nhưng anh đã lờ đi như có thể đó chỉ là một việc phù phiếm không thực tế.
Và hôm nay đây, Tây Nguyên hiện ra. Jơ Ma hiện ra như không phải Jơ Ma. Noi tìm đến suối thì suối đã được chặn lại làm thủy điện nhỏ, tìm tới nhà Rông thì bắt gặp một tòa nhà lớn, mái dốc, trụ xi măng giả gỗ, lợp tôn lạnh lấp lóa dưới nắng. Hỏi thăm xã đội trưởng Hơ Duôn được biết Hơ Duôn đã nghỉ thưu đi lập trang trại cà phê ở xa. Noi hỏi lũ làng về đại đội trinh sát T69, mọi người lắc đầu. Thấy một đám ồn ào, Noi tìm tới, người ta đang uống, không phải rượu cần mà là Boóc đô. Vài thanh niên đang múa may. Bộ loa thùng mở hết cỡ. Các cô cậu nhảy choi choi, hai bàn tay cứ loi loi ra phía trước. Lạ một nỗi, không thấy ai mang trang phục Ba Na. Cứ quần phăng áo bun hết lượt. Đăm Noi bỗng thấy mệt mỏi, buồn vô hạn. Không khéo cuộc về nguồn này thành công cốc. Anh cũng chợt giật mình thấy lạ sao mình lại hối hả đi một mình quà không rủ thêm bạn đồng ngũ cùng đi. Dung, Don, H’Rít, Kơ Nhí, Kơ Xét… các bạn giờ ở đâu?! Mình đến muộn quá rồi chăng! Mãi rồi cũng tìm được một người cũ: Đăm Duk. Anh mang máng trước mùa khô bảy lăm có đơn vị bộ đội toàn người Bắc về đóng quân lâu ở Jơ Ma, Đăm Duk đồng ý dẫn Noi đi tìm Rơ Chăm ấp. Lội qua một con suối, leo qua một quả đồi, khi tiếng chát bùm ở bản không vọng theo được nữa thì tới nơi. Đăm Duk chỉ tay vào một mái lá như cái chòi dùng cất giữ bắp hạt hay để nuôi gà. Một người già hom hem nhợt nhạt đang ngồi ho sù sụ. Đôi đầu gối giơ xương chống lên quá mang tai. Trước mặt ông có hai cái tô nhựa, một cái đựng đầy đờm đãi, một cái đựng cơm và thức ăn. Đăm Duk nói một tràng tiếng Ba Na, cố ý nhấn mạnh các từ Xét, Bốc Kây đây, Hơ Bia Rắc, Noi, Bia Kơ Nhí với cả Pốc Pơ Rao, Drang hạ - Drang hơm… ông cụ nghiêng tai lắng nghe, ngồi im lúc lâu như ngẫm nghĩ điều gì rồi lẩy bẩy đứng lên tay cầm cái tô cơm ra hiệm mời khách vào “nhà”. Đăm Duk dìu ông nằm lên một tấm giường ghép bằng cây rừng trải bao tải, gối đầu lên hai ba cái tải rách khác. Ông cụ mơ màng nhìn lạc đi một lúc khá lâu như tìm một ánh lửa rồi giơ một bàn tay lên, cử chỉ quen thuộc mỗi khi bắt đầu bản trường ca bất hủ về người anh hùng Noi, con của chàng Xét, cháu ngoại của Trời “Đẹp như con ong vàng ong mất, bụng nhỏ như được người ta nén”, có sức mạnh “Đánh núi núi lở, đánh đá đá vỡ”, đã đánh bại Kơ Lơm Bơ Rít, tiêu diệt tên không lồ Drang hạ - Drang hơm, chinh phục Bốc Pơ Rao… Những trong phút chốc gương mặt ông cụ méo đi cùng với một cơn ho khan dội lên. Cụ nhói cái cần cổ ra khỏi sạp nhỏ một bãi nước bọt lẫn máu. Như một làn sương vừa trùm lên cả căn lều, Mai Khoa thấy ớn lạnh. Cơ chừng chỉ tháng sau là ông cụ chết. Chết vì ho, vi suy dinh dương, vì cô đơn. Đăm Duk cho hay từ ba năm nay cụ bị bệnh ho, không ai nói gì nhưng cụ tự tìm ra đây ở. Bản cắt cử mỗi ngày một người mang cơm ra cho cụ. Âu cũng là cái hiếu nghĩa đối với một nghệ nhân từng có thời kể H’ Mon nổi tiếng vùng sông Ba. Đăm Duk còn kể rằng, sau bay lăm, Bia Kơ Nhí ở vậy rất lâu. Thanh niên mặc nhiên coi chị đã cùng bộ đội Noi làm lễ tạm nên không ai dám có ý riêng. Kơ Nhí chờ cho tới một ngày không chờ nữa, chị ra suối để người ở bản xa bắt đi làm vợ “Hay là bị Bốc Pơ Rao - Thần nước lốt rồng bắt đi, dân bản cũng không biết” – Đăm Duk nói thêm như vậy.
Bia Kơ Nhí ơi! Ta có lỗi với em nhiều rồi. Noi này lỗi hẹn với em nhiều rồi, lỗi hẹn với nhiều người quá. Noi đã quên nhiều người và nhiều người đã quên Noi. Lẽ ra sau khi diệt Drang hạ - Drang – hơm, Noi phải trở về thăm cha Xét, mẹ Hơ Bia Rắc! “Nhưng trên đường về chàng còn gặp một kẻ thù còn nguy hiểm hơn. Đó là Bóc Pơ Rao – Thần nước lốt rồng. Lúc này Noi đã thấm mệt không muốn đánh nhau nữa. Chàng chỉ muốn trở về với mẹ. Nhưng Bốc Pơ Rao vẫn dâng nước làm cho người Ba Na chết nhiều như là lá rừng rụng xuống”. Và Noi chấp nhận một cuộc đọ sức cuối cùng “Chàng cướp được Lơ – dâu – bơ – la - giang (kiếm thần) của Bóc Pơ Rao quét núi cháy núi, quét rừng cháy rừng, quét nước cháy nước” đánh bại sức mạnh của Thần nước lốt rồng.
- Sau bảy lăm nếu mình chuyển ngành ngay có thể chuyện không phải như bây giờ. Nhưng hồi đó sư đoàn đang cần mình. Chiến tranh biên giới Tây Nam, rồi biên giới phía Bắc, rồi cơn khủng hoảng toàn diện những năm tám mươi – tám lăm.
- Cán bộ Mai Khoa lẩm bẩm cái gì đấy? Trở về bản được chưa?
- Về thôi, về thôi Đăm Duk à. Đăm Duk dẫn mình đi tới trưởng bản để mình gửi lại cho già Xét chút đỉnh này. Còn chỗ này mai một Đăm Duk ra phố mua cho già Xét ít thuốc. Bệnh của già nghe chừng nặng hung rồi, nặng hung rồi… Đăm Duk ơi! Có khi nào đó nhờ Đăm Duk dò tìm cho mình tung tích của Bia Kơ Nhí. Dò được thì báo cho mình có khi mình trở lại lần nữa…
Đoạn cuối cùng Mai Khoa nói như độc thoại. Tiếng anh lẫn trong tiếng rừng sinh sôi của một ngày đầu mùa khô Tây Nguyên.
N.T.T




