1.
|
C |
ó tiếng loảng xoảng dưới bếp. Ông Bẩy cằn nhằn: “Mấy con chuột chết tiệt”. Ông toan đứng dậy, thì tiếng bà Bẩy đã từ trong nhà vọng ra:
- Ông để đó cho tôi.
Bà ấy vẫn chưa ngủ. Ông Bẩy nghĩ thầm - bà ấy vẫn cứ không chịu ngủ khi ông còn chong đèn làm việc. Ông có thể thức rất khuya thì bà cũng có thể nằm chập chờn khi thức, khi ngủ, đợi lúc ông xô ghế đứng dậy là bước ra làm cái gì đó cho ông ăn lót dạ. Bao nhiêu năm như thế rồi. Trước đây còn có mấy đứa con, tối đến bà còn có thể có người nói chuyện hoặc âu yếm chúng. Nay cả hai đứa, con gái lớn đã lấy chồng, con trai lớn đã về thành phố đi học, nhà chỉ còn hai ông bà, nên khi ông ngồi trầm mặc bên bàn làm việc thì bà âm thầm chờ đợi phút được lo cho ông.
Ông thấy ánh đèn bếp bật sáng, tiếng bước chân nhè nhẹ của bà và tiếng dọn cái bàn ăn dù là rất nhẹ ở dưới đó. Ông nhớm đứng dậy, định xuống giúp bà. Nhưng ông biết, ông chỉ bước chân xuống thôi là bà đã rầy quở: “Thôi mà, chuyện tôi, tôi lo, ông cứ làm việc đi…”. Bà nhất định không để ông nhúng tay vào làm việc.
Ông Bẩy thở dài. Nếu ông không có bà, không có mấy đứa con, không biết ông sẽ ra sao. Sáng ra đặt chân đến cơ quan là cả chồng giấy tờ nằm lù lù trước mặt. Đơn khiếu nại, đơn tố cáo, bản kiến nghị, đơn yêu cầu… chẳng có tờ đơn nào là ngắn. Toàn những chuyện nhắc đến là oan ức, là tức tối. Chuyện anh giành đất với em; chuyện chồng, cha chồng hùa nhau đuổi nàng dâu ra khỏi nhà chuyện án xử rồi không ai chịu thi hành… Có những bộ đơn cân lên nặng cả ký. Có những đơn nay còn là bên nguyên, mai đã thành bên bị… Ngày này sang tháng khác, riết rồi thành như cái bệnh nghề nghiệp, sáng nào không nhìn thấy chồng đơn, ông Bẩy thấy mình trống rỗng làm sao đó. Căng nhất là những bữa tiếp dân. Tất cả tìm đến văn phòng của Thanh tra Nhà nước tỉnh với một bộ mặt bi lụy nhất có thể có. Làm như tất cả nỗi oan trái của cuộc đời này đang chùm lên đầu họ, và, họ tìm tới đây như tìm đến một cái “đèn trời” nhờ soi xét dùm. Cũng không thiếu những gương mặt đằng đằng sát khí, giống như nơi văn phòng này là tất cả sự bất công mà họ phải gánh chịu, và họ tìm tới đây để trút ra tất cả cơn nóng giận mà họ dồn nén. Có cả nước mắt nữa. Có ngày nước mắt đong được cả chén. Mà ông Chánh Thanh tra mặt phải thật nghiêm trang trong lúc tiếp xúc, nghiêm trang đến lạnh lùng. Đâu có biết rồi sự việc trong những tờ đơn kia đúng hay sai để mà thông cảm, để mà an ủi, để mà hứa hẹn… Phải chờ có khi cả tháng hoặc vài tháng thẩm tra rồi mới kết luận được. Thậm chí, ngay cả thẩm tra rồi mà cũng trật lấc, vì sự việc không đúng hoàn toàn theo đơn người thưa kiện. Công việc làm ông Bẩy chai đi. Có lúc ông rất lo, mình mang cả sự lạnh lùng về nhà. May mà có bà Bẩy và trước đây là những đứa con, đã kéo ông trở lại cân bằng trong đời sống tình cảm.
Mọi thứ tiếng động đã chấm dứt, trả lại cho đêm sự yên tĩnh vốn có. Bà Bẩy đã trở vào nhà trong với giấc ngủ chập chờn. Ông Bẩy tỉnh lặng ngồi trước bàn làm việc. Ông thường có thói quen mang những việc thực hóc búa về nhà nghiên cứu vào ban đêm. Ông biết một lời ông buông ra sau khi kết thúc đợt thẩm tra có thể làm cho người này khóc, làm cho người kia cười; thậm chí nay mai còn đưa ai đó vào ngồi tù nữa… nên chẳng thể không thận trọng. Mọi đêm, ông sẽ lật từng trang giấy một, ghi chép từng đoạn một vào cuốn sổ tay. Song hôm nay ông ngồi trước bàn đã gần hai giờ đồng hồ mà đọc chẳng được cái gì. Hình ảnh người đàn bà lúc chiều chạy ào vào gặp ông, dúi vào tay ông một phong thư, cứ ám ảnh ông hoài. Ông biết, hôm nay không phải là ngày đầu bà đến văn phòng tiếp tân. Lần đầu là bao giờ ông không biết. Nhưng cách đây ba tuần ông đã để ý đến người đàn bà đó. Bà ta đến mà không vào phòng. Bà đứng ở ngoài ban công. Đứng từ đầu giờ, cho đến cuối giờ, rồi về. Dáng đi của bà khi rời phòng tiếp dân tất tả, vội vã. Còn tuần trước, đến giữa buổi tiếp tân, thấy bà đứng đã lâu, ông ghé tai nói với cậu thư ký:
- Cậu ra xem cái bà đứng ở ngoài ban công kia có việc gì không? Lần thứ hai tôi thấy bà ấy rồi đấy.
Cậu thư ký dạ nhẹ một tiếng rồi đi ra. Không biết cậu ta nói gì với bà, mà bà lật đật bỏ đi tức khắc. Cũng tất tả như lần trước, nhưng lần này ngoắc vội chiếc xe ôm, leo lên và phóng ra đường lớn.
Còn sáng nay, vẫn lại thấy bà ấy đứng ở ban công. Ông không biểu cậu thư ký ra gặp bà ấy nữa, mà ráng chờ xem bà ta sẽ làm gì. Khi người dân cuối cùng bước ra khỏi cổng, thì bà ta chạy ào vào, dúi vào tay ông một phong thư, rồi quay ra vội vã. Phong thư nhẹ tênh trên tay ông, nhưng ông biết ở trong đó chắc phải nặng trĩu một tấm lòng. Nên bây giờ, phong thư đang nằm trước mặt ông, mà ông không muốn bóc nó ra vô tình như bóc những phong thư khác. Ông phải chờ đến phút tĩnh lặng nhất của đêm.
Và bây giờ, chắc đêm đã sâu lắm rồi. Chỉ còn nghe thấy tiếng gió rất nhẹ ngoài hàng dừa trước cổng, tiếng mấy con cóc gọi bạn tình ngoài hồ nước trước nhà và lâu lâu, trái trứng cá rụng lộp độp trên mái nhà. Ông lấy phong thư, lấy cây kéo cắt một đường thẳng ngoài mép và luồn tay lôi bức thư trong đó ra. Đúng là một bức thư, không dài, được viết bằng những chữ ngay ngắn, hơi xiên của người được học ngày xưa:
- “Anh Bẩy,
Cực chẳng đã, tôi mới viết thư này cho anh, và tôi biết chắc anh chưa quên được tôi. Tôi là Võ Thị Nga, cô Nga giao liên trạm Tân Phú hồi xưa đây. Tôi đã sống thêm được vài chục năm, sống trong một nỗi oan không sao gột rửa được. Chỉ nay mai, có thể tôi sẽ chết. Tôi sợ chết rồi vẫn ngậm nỗi oan nên tôi gởi thư này cho anh. Nhưng, tôi không dám chắc là anh sẽ giải oan được cho tôi. Chuyện đã lâu lắm rồi mà…”
Chuyện đã lâu lắm rồi thực. Cái cô Nga giao liên nức tiếng một thời ở trạm Tân Phú không chỉ ông Bẩy còn nhớ, mà rất có thể còn rất nhiều người sẽ nhớ, nếu như người đó còn sống…
Trạm giao liên Tân Phú hồi đó đặt ở cạnh sông Vàm Cỏ Đông. Người chọn điểm thấy hết được những điều lợi hại khi lấy đây làm trạm giao liên. Có động chạy sang đất Campuchia ẩn náu. Xuôi sông Vàm Cỏ Đông là có thể về được Châu Thành, rồi từ Châu Thành có thể về thị xã Tây Ninh. Đường bộ thì tách qua bên kia là vào căn cứ 105, thêm một đoạn nữa là vào được cứ R của Miền. Rừng rất rậm. Cây toàn hạng cây lớn, mỗi gốc cây có thể che hai ba cái lán. Trạm đủ sức ém cả trung đoàn bộ binh, nhưng nó chỉ làm nhiệm vụ đưa đón cán bộ từ thị xã lên cứ và từ cứ lên thị xã Tây Ninh. Trạm bỗng nổi tiếng kể từ khi có Nga. Một cô Nga tóc dài quá eo và đen nhánh. Một cô Nga sống giữa chiến trường mà trắng tươi như được tắm sữa. Những anh chàng có ăn, có học khi gặp Nga đều tưởng tượng đó là hiện thân của Thúy Kiều mà ông Nguyễn Du đã từng mô tả. Cô nàng đẹp hơn khi khoác bộ bà ba đen, thắt chiếc lưng to bản, khoác trên vai khẩu cabin và chiếc khăn rằn quấn cổ. Cậu Tư Thanh, phóng viên của tờ báo Mặt trận lên cứ hay về thị xã nhất định phải dừng lại trạm, chờ cho được cô Nga, chụp mấy kiểu chui xuống hầm, đốt ngọn đèn dầu lên, tráng tráng, rọi rọi cho được mấy tấm hình để lại tặng cô rồi mới đi tiếp. Những kiểu hình nhỏ bằng ngón tay lúc đó cũng là quý lắm, được cô Nga dán đầy cuốn sổ tay của mình. Nhưng nguyên tắc của giao liên không cho phép cô mang theo những tấm hình bên người, nên lâu lâu cô lại phải mang đốt đi… Ngoài cậu Tư Thanh, phóng viên còn có một anh chàng làm báo Mặt trận nữa. Lấy cớ làm báo đi lại nhiều, cậu ta lấy luôn trạm giao liên làm nơi trú tạm đến mấy tháng trời với “âm mưu” phải “thực tế” cho được cô Nga giao liên. Cậu ta chinh phục cô bằng thơ. Có những bài thơ của cậu ta trở thành nổi tiếng khi viết để tặng Nga. Nhưng xem ra cô Nga còn rắn hơn cả những cây cổ thụ của rừng Tân Phú. Nhận thơ, cô chỉ cười, đọc, sau đó trả lại cho cậu nhà báo và bảo: anh đem in báo đi.
Ông Bẩy lúc đó là một liên lạc của Tỉnh đội. Hồi đó người ta chưa dài dòng bàn đến tiếng sét ái tình, nhưng quả thực, ngay từ lần đầu gặp gỡ, anh chàng liên lạc đẹp trai đã bị hớp hồn khi đứng trước Nga. Cũng ít ai gặp được may mắn như anh: được Nga dẫn đường vào cứ. Bóng chiếc áo bà ba đen lúc ẩn, lúc hiện trước mặt anh suốt một chặng đường dài. Nhìn cái lưng thắt lại với những đường cong mềm mại lướt nhẹ dưới tán cây rừng, Bẩy bước đi như hút về phía trước. Chỉ tiếc, nguyên tắc không cho phép anh đi sóng hàng với cô. Giá chi hồi đó mà được đi sóng hàng thì trên đời này không có bất cứ một công viên nào đẹp hơn rừng Tân Phú. Một chiếc máy bay trinh sát è è lượn đến, cái cớ để hai người cùng tạm dừng dưới một tán cây rậm rạp.
Đó thực sự là những giây phút thần tiên. Bẩy biết đến cái tên Nga. Biết cô đồng hương xứ Trảng Bàng. Có điều cô ở ngoài thị trấn, còn anh, ở mãi trong Đôn Thuận. Anh thì vô du kích, rồi vào quân giải phóng. Còn cô, biệt động của thị trấn. Nghe cô kể, mới biết ngoài thị trấn có những nữ sinh lá gan thiệt bự. Trận đánh quán bi - da gần bót cảnh sát, trận ném lựu đạn vào xe thằng quận phó, trận lừa lấy súng của mấy thằng bảo an đi ăn lẻ… trận nào cũng có những cô nữ sinh áo dài trắng tham gia. Nga phải lên trạm giao liên này vì bị lộ trong lần thứ ba đánh vào quán cháo lòng Thanh Tùng. Trận ấy cô và Út Nghe cùng đánh. Cô chạy xe đạp còn Út Nghe ngồi đằng sau. Trong giỏ sách của học trò có tới ba trái lựu đạn. Mới sáng đám sĩ quan của quận Trảng Bàng tấp vào quán cháo lòng rất đông. Đã mấy lần quán này bị ăn lựu đạn của biệt động thị trấn mà chúng chưa ngán. Chúng đến đây như một sự thách thức. Xe từ từ qua trước cửa quán. Không cần xuống xe, Út Nghe ném trái thứ nhất. Tiếng nổ vang lên. Chiếc xe đạp chúi mạnh. Út Nghe ném trái thứ hai. Trái thứ ba lăn ra đường, Nga chụp lấy ném tiếp và bò dậy nhấc chiếc xe đạp lên. Út Nghe kịp leo lên ngồi và chiếc xe bon ngay xuống con hẻm đối diện. Bọn cảnh sát như đã chờ sẵn, chúng ào tới. Chiếc xe đạp vấp phải một tảng đá. Út Nghe nẩy bật ra ngoài. Biết là không thoát, cô đứng giang tay trên đường cản những tên cảnh sát cho Nga lên xe chạy tiếp. Chạy thêm được một đoạn nữa, Nga quăng xe tấp ngay vào một nhà dân. Chủ nhà đứng chết trân nhìn Nga lột bộ đồ áo trắng ra, ném đại vô trong nhà. Bên trong là chiếc áo có những bông tỏa trắng trên nền vải xanh. Ông chủ nhà nhanh chân đá chiếc áo dài trắng của Nga vô gậm giường, không hết run, nhìn Nga bình tĩnh bước ra cổng. Được vài bước chân, cô gặp ngay tên trung úy cảnh sát. Chẳng xa lạ gì, một cô nữ sinh xinh đẹp và một cảnh sát ở cái thị trấn nhỏ bé này. Cô lấy hết sức bình tĩnh, mỉm cười với hắn. Nụ cười của người đẹp làm hắn bỗng quên công việc. Lúc hắn chợt nhớ ra, thì Nga đã lên tới đường dầu. Rất đông học sinh tò mò đứng hai bên đường. Một nhóm nữ sinh ùa đến bên Nga và ai đó khoác lên vai Nga một chiếc áo dài trắng. Nga mặc vội vào. Cô biết các bạn trong đội đã đến tiếp ứng cho cô. Nhưng ngay lúc đó, cô thấy Út Nghe đã bị bắt, ngồi trên chiếc xe Jep của cảnh sát. Đầu tóc cô rũ rượi. Nga òa lên khóc. Ngay lúc đó, một thanh niên có vóc dáng ốm yếu, chạy chiếc xe đạp ôm rà soát cô, quát khẽ:
- Lên xe.
Cô ngoan ngoãn lên xe, chẳng biết đó là ai. Chiếc xe đạp ôm chở cô tới ngã ba Vựa Heo. Một bàn tay đỡ cô xuống, ấn cô ngồi lên chiếc honda 67. Chiếc xe vọt đi… hai hôm sau, cô có mặt ở trạm giao liên Tân Phú. Trước khi đi, trong vài phút gặp tổ trưởng, cô được biết, cô không thể ở lại thị trấn Trảng Bàng nữa, vì rất có thể tên trung úy cảnh sát đã nghi ngờ cô.
Nghe cô kể chuyện, anh liên lạc thấy mình chẳng ăn nhằm gì với cô gái xinh đẹp kia. Anh tỏ rõ sự thán phục bằng cặp mắt mở tròn trong lúc nghe chuyện. Từ đó, mỗi lần có dịp qua trạm Tân Phú, Bẩy lại ghé thăm Nga. Với Nga thì không biết sao, còn với Bẩy, mỗi lần ngồi bên Nga là mỗi lần tim anh cứ đập rối rít. Anh không biết rằng, có một anh làm anh nuôi ở trạm, mắt vằn lên mỗi khi thấy Nga ngồi cạnh anh.
Cho đến một hôm, Bẩy lại có dịp về trạm Tân Phú. Anh đến lúc buổi trưa, không thấy Nga, anh ngồi đợi. Đợi đến xế chiều cũng không thấy Nga. Trạm vắng, có một vài anh cán bộ chờ đến lúc có người dẫn đường được mới đi. Không biết sao, bụng dạ Bẩy cứ nôn nao. Anh xuống bếp của trạm giao liên, mong nhận được ở đấy tin về Nga. Chỉ có một anh nuôi đang lúi húi trong bếp. Anh ta chẳng thân mật gì khi thấy Bẩy. Nhưng khi nghe hỏi về Nga, anh ta bỗng sốt sắng:
- Cổ bị bắt rồi, cậu không tin hả: cổ bị bắt rồi.
- Trời đất - Bẩy hét lên - cổ bị bắt, bị bao giờ, bị ở đâu?
- Ở đây, cậu không tin? Đúng thế. Tôi cũng đã không tin. Và nhất định cậu cũng không tin rằng chính quân giải phóng lại bắt cổ, phải không?
Bẩy há hốc mồm khi nghe tin động trời ấy. Cậu anh nuôi móc trong túi áo ngực ra một mảnh giấy đưa cho Bẩy. Trong đó là hình của Nga. Một gương mặt xinh đẹp như thánh nữ. Chiếc áo bà ba đen tôn thêm gương mặt trắng ngần. Một nụ cười tươi tắn, hồn nhiên. Chiếc khăn rằn quấn cổ, và khẩu cabin khoác vai. Bên cạnh là dòng chữ ác độc: “Hỡi những cán binh cộng sản, hãy làm như cô gái xinh đẹp này, về với chính nghĩa quốc gia”.
Bẩy kêu lên:
- Không lẽ người ta lại tin vào tờ truyền đơn này?
- Ban đầu thì không ai tin. Nhưng lần ngược lại thời gian, có những chuyện làm người ta tin.
- Mà chuyện gì mới được chớ.
- Cách đây hơn một tháng, chuyến công tác của cổ bị phục kích. Bốn người cùng đi, một bị bắt sống, một hy sinh. Cổ may mắn thoát cùng hai người khác. Sau đó ít ngày, một chuyến công tác nữa. Trên chiếc ghe xuôi dòng Vàm Cỏ Đông về Châu Thành chỉ có cổ với một anh cán bộ. Lại bị kích. Ghe chìm, anh cán bộ hy sinh. Cổ lại thoát. Sau đó cổ xin nghỉ phép về thăm quê. Cổ về ít ngày thì khắp rừng Tân Phú rải đầy những mảnh giấy tai quái này. Cả đơn vị nhao lên. Người ta suy diễn. Người ta kết tội, rồi người ta nghĩ tới phải trừng trị kẻ phản bội. Giá như không có hai lần bị phục kích trước, thì tình hình không đến nỗi xấu lắm. Bằng chứng nghiệt ngã quá… Cổ lên tới đơn vị, chưa kịp chào anh em, chưa kịp mở bòng chia quà cho mọi người, thì người ta đã ập tới trói nghiến cổ lại. Thậm chí còn nhét giẻ vào miệng để cổ đừng la. Lúc đó tôi ở đó. Nước mắt dàn dụa trên mặt cô. Cô nhìn tôi với ánh mắt cầu cứu và ướt đầm đìa…
- Không, không thể nào tin được. Sao lại có chuyện kinh khủng như vậy chớ? Bây giờ cổ ra sao rồi, anh, xin lỗi anh tên gì, dạ anh Chín, bây giờ cổ sao rồi, anh Chín…
- Đang còn giam trong trại giam mặt trận. Tội nghiệp. Chẳng ra hồn người nữa. Mỗi ngày tôi dành việc đưa cơm vào cho cổ…
- Bao giờ anh đi, anh Chín. Anh cho tôi theo với, được không?
- Đâu có được. Bây giờ cổ chỉ được tiếp xúc với ba loại người: Cán bộ điều tra xét hỏi, người canh tù và người đưa cơm thôi. Tội nghiệp, ngày xưa người ta bu lấy cổ, như ruồi lằn thấy mật, còn bây giờ, người ta tránh cổ như tránh phong cùi. Mẹ kiếp…
Chín buông một câu chửi thề tục tằn, rồi bỏ mặc Bẩy trong bếp, anh ra ngoài đống củi, quơ lấy cây búa, vung lên bổ phứa vào một gốc cây trước mặt.
***
Đúng là chuyện đã quá lâu rồi. Lá thư của Nga đang nằm trước mặt ông Bẩy, ngắn ngủi nhưng đầy ắp nỗi đau thương uất ức.
Sau ngày ông Bẩy trở lại trại Tân Phú ít lâu thì trạm bị một trận bom khốc liệt. Ông được tin, trận bom ấy đánh cả vào trại giam của mặt trận. Và ông đinh ninh rằng: nếu trận bom ấy không giết mất Nga thì người ta cũng xử bắn Nga rồi. Số phận của những kẻ phản bội tất yếu sẽ là như vậy. Hòa bình đã ngần ấy năm trời, chuyện như chuyện của Nga, người ta đã quên rồi. Người cũng không bao giờ muốn nhắc đến những kẻ phản bội, vì xem đó như là một vết nhơ trong đội ngũ của mình. Nhưng hôm nay Nga kêu oan. Nhìn dòng địa chỉ dưới bức thư, ông Bẩy nhấc máy điện thoại lên. Nhìn sang đồng hồ. Đã một giờ sáng rồi, điện thoại cho ai bây giờ…
***
2.
“Mình già rồi…”, bà Nga nghĩ thầm như vậy sau khi lột bỏ mảnh vải cuối cùng trên người trước khi đằm mình xuống dòng nước của con sông Vàm Cỏ Đông. Con sông này, không, chỉ khúc sông này thôi đối với bà quá quen thuộc. Đó là khúc cong vòng của con sông. Khúc cong bên kia dòng sông được nới rộng ra, gần như không có bờ. Con nước tràn vào cả những cánh đồng phía xa. Khi nước nổi, nước tràn lên, bên ấy chỉ còn lấp ló những ngọn cây đước. Khi nước ròng, để lại một bãi sình lầy, với những bộ rễ đước ngoằn ngoèo như những bầy rắn. Khúc cong bên này là một doi đất chìa ra mặt sông. Nó được bảo vệ bởi một gốc cây si rất lớn. Bộ rễ của nó một bên được cắm sâu vào lòng đất, bên kia xòa xuống mặt nước, bám xuống lòng sông bằng cả trăm cái rễ, cái nào cũng lớn bằng cườm tay, cườm chân. Bà Nga cất cái chòi của mình ngay dưới gốc cây si đó và cây si trở thành bạn của bà, chỗ dựa của bà suốt mấy chục năm qua. Người ta bảo khi trồng cây, quên đi mấy năm sẽ thấy nó lớn cỡ nào. Nhưng với bà Nga, thì bà thấy nó lớn lên hằng ngày và già đi hằng ngày.
Bà Nga còn có một người bạn lớn thứ hai, đó chính là con sông Vàm Cỏ Đông này. Trước hết bà sống nhờ sông. Bà có ít cái lợp để bắt cá, bắt cua. Bà thả bầy vịt vài chục con, suốt ngày chúng thơ thẩn hết lên bờ, lại xuống sông, tối tối đẻ cho bà vài chục cái hột vịt. Những hột vịt thành gạo, thành muối khi bà nhờ mấy người đi ghe dọc chở hàng qua lại khúc sông này. Hồi bà còn trẻ, đã có một anh tài công, lâu lâu ghé lại. Lúc đó bà còn đẹp, nhưng lạnh lùng, làm anh tài công buôn so rút lui. Đám lục bình trôi nổi theo sông, lúc tấp bên này lúc tấp bên kia, tùy con nước khi nổi khi ròng, nở những bông lục bình tím ngắt. Bà có thể ngồi hàng giờ ngắm những bông lục bình, và sau đó hái mấy bông làm rau cho bữa ăn lúc chiều, hoặc lúc sớm mai. Những lá rau vị, lá rau bạc hà, lá lụa, lá cò ke… là thuốc cho bà mỗi khi bà khó ở trong người. Ngày xưa, khi lần đầu về đây ở, con sông giống như quái vật làm cho bà luôn sợ hãi. Đêm xuống mặt sông lạnh băng. Mấy đám lục bình giống như những con ma vật vờ ẩn hiện trước mặt bà. Những hôm trở gió, mặt sông gợn lên những con sóng và gầm gừ như muốn nuốt trôi bà vào cái bụng dài thượt của nó. Thậm chí cả những tiếng óc ách khi con nước vỗ vào bờ, bà cũng ngỡ như có hàng ngàn, hàng vạn oan hồn tụ về quanh bà, cùng bà khóc lóc kêu oan.
Ở riết thành quen. Bây giờ bà sống không thể thiếu tiếng sóng của dòng sông. Suốt đêm cứ rì rào, rì rào như muốn cùng bà giãi bày những tâm sự. Cả những lúc gió quăng quật những cành cây si trên đầu bà, bà cũng nhận ra sự cảm thông của đất trời trước những dồn nén trong bà, lúc nào cũng muốn bung ra cho nhẹ nhõm. Những đêm trời trăng, đầy sao và mặt sông phẳng lặng, ấy là lúc lòng bà thanh thản nhất. Bà yên tâm sống, yên tâm với sự sắp đặt của số phận, giống như con sông Vàm Cỏ Đông sau mưa, sau gió, sau giông, lại lặng lẽ vơi đầy, cho con nước khi ngược, khi xuôi.
“Mình già rồi…” Bà Nga lại nghĩ vậy khi bước xuống dòng sông. Dòng nước này khi xưa với bà nó mát mẻ vô cùng. Mỗi lần lội xuống tắm là mỗi lần có cảm giác được gột rửa tất cả những vướng bận của cả tâm hồn, lẫn thể xác. Trước khi lội xuống sông bao giờ cũng là những phút nặng nề. Khi bước từ sông lên, bà giống như mới lột xác. Dòng nước mát của con sông đã trả cho bà sự thơm tho của thân xác, và sự trong trẻo, mát mẻ của tâm hồn.
Bà đã trốn về đây sau trận bom đánh trúng trại giam của căn cứ. Không phải tự nhiên mà bà trốn được. Trận bom đánh vào giấc năm giờ chiều. Chắc tụi giặc nghĩ rằng giờ đó là giờ trạm giao liên Tân Phú và trại giam căn cứ đang ăn cơm. Đánh một trận hú họa, biết đâu có tác dụng. Đúng lúc đó bà đang ăn cơm thực. Những chén cơm của anh Chín mang từ ngoài trạm giao liên vào. Trời ơi, anh Chín. Chúng mình gần nhau hơn một năm trời, sao anh chẳng nói năng chi, để đến lúc tôi vào tù rồi mới nói lời thương yêu. Anh bảo sao? Em đẹp quá. Đẹp mà làm cái gì. Đẹp để được nghe đủ mọi lời ngọt ngào của người ta khi tôi còn tự do, còn khi tôi ngồi trong mấy cái song cửa nhà giam, sao chẳng ai tới với tôi mà nói lời ngọt ngào. Vậy sao anh Chín lại thốt lên lời thương yêu tôi vào đúng lúc đó. Anh bảo, anh đã phải thuyết phục rất nhiều người mới dành được cái quyền đưa cơm đến cho tôi. Đưa cơm cho tù cũng phải giành quyền ư? Hồi đó, lúc ban đầu, bà từ chối những chén cơm. Nhưng rồi anh Chín đã năn nỉ, và bà đã ăn. Bản án cho kẻ phản bội đã chụp xuống đầu bà, không thể chối cãi được. Những ngày đó, với bà giống như sống trong địa ngục vậy. Bà đã khai đầy đủ, khai rõ ràng, chỉ tiếc không thể bóc hết tim, gan, phèo, phổi ra cho mọi người thấy, để mọi người hiểu rằng bà bị oan. Bản khai của bà cho đến hôm nay bà vẫn thuộc lòng.
“Tôi được trạm giao liên Tân Phú cho nghỉ phép ít ngày về thăm quê dưới thị trấn Trảng Bàng. Chuyện tôi tham gia đánh quán cháo lòng Thanh Tùng đã qua lâu, chắc bọn cảnh sát không còn truy xét đến chuyện đó nữa. Chị Út Nghe bị bắt ngày đó đã bị chúng đày ra Côn Đảo và nghe đâu chúng đã kết án tử hình chị. Không chắc bọn cảnh sát đã nghi ngờ tôi. Vì hôm đó đội biệt động đã tổ chức giải thoát cho tôi khá chu đáo và an toàn. Việc rút tôi lên cứ, chỉ là cảnh giác mà thôi. Khi tôi vừa bước chân từ trên xe đò xuống thì gặp ngay tên trung úy cảnh sát quận, kẻ mà tôi đã gặp trong cuộc rượt đuổi hôm nào, hắn nhìn tôi đăm đăm và bỗng cười:
- Chào người đẹp, hình như chúng ta đã gặp nhau ở đâu thì phải.
Tôi đáp:
- Xin lỗi, tôi chưa có hân hạnh gặp trung úy. Xin tha lỗi.
Hắn cười nhăn nhở:
- Tôi lầm? Không đâu. Tôi đâu có lầm. Cô có đọc báo không. Báo chí ở Sài Gòn đã gọi trận đánh vào quán cháo lòng Thanh Tùng là cuộc thảm sát đó. Họ còn viết: sau trận đánh, bông mai văng ra trắng cả đường… Thế đấy, không lẽ cô không biết.
- Ông trung úy nói gì, tôi không hiểu.
- Rồi cô sẽ biết, bây giờ, cảm phiền mời cô theo tôi về đồn, tôi có đôi ba câu chuyện muốn nói với cô…
Lúc đó tôi đã la lên:
- Bớ người ta. Khi không người ta bắt tôi nè. Người ta bắt tôi vì tội gì chớ… bớ người ta…
Bà con quanh đó chạy lại, vây lấy tôi và tên trung úy cảnh sát. Mỗi người một câu, ào ào như cái chợ, khiến tên trung úy lúng túng. Hắn lấp liếm:
- Cô làm gì làm dữ, mới hỏi cô có mấy câu mà…
Tôi át lời hắn:
- Mà cái gì, ông chẳng vừa nói yêu cầu tôi về đồn đó sao. Mắc cái gì mà tôi phải về đồn, về đồn để ông giam tôi lại đó rồi ông muốn làm gì thì làm hay sao?...
- Bậy nào, tôi chỉ thi hành công vụ…
- Thi hành công vụ thì thi hành ngay ở đây đi. Đồ của tôi đây, ông xét đi, giấy tờ của tôi đây ông xét đi, xét đi để tôi còn về…
Tôi không ngờ đã hành động dại dột như vậy. Hắn xét đồ của tôi thực. Và trong bóp giấy tờ của tôi có một tấm hình. Bao nhiêu tấm hình mà anh nhà báo chụp cho tôi, tôi đã đốt hết, chỉ còn tấm đó, vì nó quá đẹp, tôi ráng giữ lại. Tôi đã sơ suất để ở trong bóp và hắn đã xét thấy. Hắn móc tấm hình và gật gù:
- Chà hình đẹp. Hình đẹp quá xá hà… Đủ lý do để tôi đưa cô về đồn để trả lời về tấm hình của cô chưa? Hả.
Hắn vừa gằn giọng cũng là lúc tôi ném cái giỏ vô mặt hắn. Bà con Trảng Bàng có nhà nào mà chẳng có người đi theo kháng chiến. Biết tôi gặp nạn, họ tránh đường cho tôi tháo chạy, và bu lấy tên trung úy cảnh sát, đòi xem tấm hình đẹp, khiến hắn chẳng xoay xở nổi trước đám đông. Đến khi hắn rút súng bắn chỉ thiên, đồng bào mới dãn ra, thì tôi đã kịp lẩn vào tới tận xóm Lò rèn rồi”.
Bà đã khai như thế và đã khai nhiều lần như thế và chỉ có thế. Bà đã kinh hoảng khi người xét hỏi đưa ra tấm giấy có hình bà và ghi những dòng chữ: “Hỡi những cán binh cộng sản…” Lúc đó bà đã lặng người không nói thêm được một câu. Lát sau bà mới kêu lên:
- Tôi không biết, tôi không biết. Tôi không làm như vậy. Các đồng chí hãy tin tôi…
Người điều tra hỏi:
- Làm sao cô thoát được cuộc phục kích cách đây hơn một tháng?
- Tôi không biết - Bà trả lời.
- Rồi cuộc bị kích trên sông Vàm Cỏ Đông, cô làm sao thoát, còn anh cán bộ thì hy sinh?
- Tôi không biết.
- Cô không biết. Nhưng cô có biết rằng chúng tôi nghi ngờ cô đã chỉ điểm, cô đã chỉ cho địch tuyến đường giao liên không? Cô không nhận không được…
Thế là hết. Làm sao mà lý giải được ngần ấy chuyện. Bà đành nhắm mắt xuôi tay, không khai gì thêm, không nói gì thêm chờ sự phán quyết của cấp trên. Có lẽ họ chưa xử bắn bà vì còn muốn tìm hiểu xem bà liên lạc với ai, cung cấp thông tin cho địch bằng cách nào… Trước sau gì rồi cũng sẽ đến ngày người ta…
Thế rồi trận bom chiều hôm đó, lúc anh Chín ngồi nhìn bà ăn cơm. Trận bom ập xuống rất nhanh. Chỉ có tiếng rú, tiếng rít và những tiếng nổ. Tất cả đã rút xuống hầm trú ẩn. Anh Chín gào lên với bà:
- Nga xuống hầm đi. Coi chừng bom đó… Xuống hầm đi.
Xuống hầm mà làm gì. Đằng nào mà chẳng chết. Thà chết bằng bom đạn kẻ thù, còn hơn chết nhục nhã dưới mũi súng của đồng đội. Chết trong nỗi oan khuất khó giãi bày. Anh Chín vùng dậy, kiếm được một khúc cây. Anh lùa vào những chấn song bằng gỗ và bẻ đi từng cái một. Bà đã gào lên trong tiếng bom nổ:
- Đừng, đừng làm như vậy, anh Chín. Anh sẽ bị liên lụy, anh sẽ bị bắt đó. Anh Chín.
Anh Chín không thèm nghe bà. Một cây, hai cây, rồi ba cây chấn song bị bẻ gãy. Anh lao vào và xốc nách bà đứng dậy đẩy ra ngoài. Trên đời này có ai vì tình yêu mà làm như vậy không. Có chăng chỉ có trong tiểu thuyết.
Bà vừa lọt ra ngoài thì một trái bom nổ gần nhất hất văng bà ra xa. Anh Chín cũng bị văng theo. Anh cặp lấy cổ bà mà lôi đi. Cả hai chạy thục mạng trong tầm bom của địch. Chạy. Nằm. Nằm. Chạy. Đoạn đường không biết bao xa. Có lẽ trời có mắt, nên chẳng để trái bom nào nổ trúng hai người. Rồi cũng ra tới được bờ sông Vàm Cỏ Đông. Đến đây, anh Chín mới dừng lại, hai tay nắm lấy tay bà và nói trong hơi thở:
- Tôi tin rằng Nga bị oan. Nga trốn đi… trốn đi… kệ tôi. Nay mai còn sống, nhất định tôi sẽ tìm Nga…
Anh ôm choàng lấy bà, hôn lên má bà, và đẩy bà xuống dòng sông.
Bà vội vã lội xuôi dòng.
Một trái bom nổ ngay trên sông. Thêm một trái nữa nổ ngay trên bờ. Trái bom làm bà thót tim: Anh Chín ơi, anh đã kịp chạy đi chưa. Cầu trời anh đừng dính trái bom đó…
Mấy chục năm trời rồi, chỉ có những ngày đó còn đọng lại trong trí nhớ của bà. Và bà cũng nhớ là, đời bà chỉ có một nụ hôn đó, một nụ hôn khét lẹt mùi thuốc bom và vội vàng chạy trốn khỏi cái chết.
Bà đầm mình xuống dòng Vàm Cỏ Đông. Phải đến lúc này bà mới tìm lại được cảm giác quen thuộc khi xuống sông tắm. Cảm giác được gột rửa. Cảm giác có từ ngày bà leo lên được một chiếc ghe trôi hoang, xuôi theo sông Vàm Cỏ Đông và đậu lại tại khúc sông này. Lúc đầu, bà cũng có ý định về nhà, nhưng cái tờ rơi oan nghiệt kia hẳn đã được rải khắp đất Tây Ninh này, làm gì còn lối cho bà về. Ngay sống tại khúc sông hẻo lánh này mà bà còn nơm nớp lo sợ nữa là. Bà biết hòa bình nhờ những người chạy ghe dọc, khi họ cắm lá cờ giải phóng nửa xanh, nửa đỏ chạy công khai trên sông Vàm Cỏ Đông. Lúc đó, bà cũng muốn về thị trấn Trảng Bàng, kệ đời đàm tiếu. Song bà không có gan. Dân Trảng Bàng cả làng làm cách mạng, liệu họ có chấp nhận một kẻ phản bội? Năm tháng qua đi, bà cứ để cho nó trôi như nước sông Vàm Cỏ Đông vẫn trôi. Nhưng bất giác đến một ngày…
Một ngày, đợi trời sẩm lại như mọi ngày, bà xuống sông tắm. Nước sông lạnh, làm bà rùng mình “Mình già rồi sao?”. Bà nghĩ. Mà có lẽ già rồi thực. Da thịt không còn mịn màng như ngày xưa. Tay chân không còn tròn trịa như ngày xưa. Khuôn ngực căng ngày nào bây giờ đã xệ xuống dẫu chưa một lần nuôi con. Mái tóc dài, mượt đen ngày nào đã phai sang màu sương khói… Đến cả nụ hôn duy nhất, trước kia mỗi lần nhớ lại bà còn bồi hồi, nay đã nguội lạnh trong ký ức… Bà rùng mình vì lạnh, vì lo. Không lẽ cho đến chết, bà vẫn phải chịu nỗi oan… Hôm sau, lần đầu tiên bà xin được đi nhờ chiếc ghe dọc lên thị xã Tây Ninh. Và trên chiếc ghe đó, bà đã hỏi thăm được chuyện của bà nên đến gặp ai. Người ta chỉ cho bà đến phòng tiếp dân của Thanh tra Nhà nước tỉnh Tây Ninh. Ở đấy, bà đã bắt gặp một gương mặt quen quen. Thời gian vẫn chưa xóa được những nét đặc trưng của anh chàng liên lạc tỉnh đội ngày xưa. Bà muốn chạy ào vào phòng làm việc của ông Bẩy, muốn quỳ xuống trước mặt ông mà nhờ ông giải oan cho bà. Nhưng, bà chỉ biết đứng xững lại. Những gì đáng ra phải làm thì bà không dám làm. Và thế là bà đã trở nên hèn nhát. Bà sợ người ta lục lại cái quá khứ xưa. Nhưng bà cũng không hề muốn rời văn phòng này. Bà chờ, bà chờ. Nhưng khi sau lưng bà không còn những tiếng nói nữa, bà lại mất can đảm không dám quay lại, và cứ thế tuôn ra đường, trốn về cái chòi của bà trên sông Vàm Cỏ Đông. Lần thứ hai cũng thế. Lần thứ ba, bà nghĩ, phải có một lá thư cho ông Bẩy. Bà đã làm như thế. Và chỉ như thế bà mới đạt được cùng một lúc hai việc: gặp ông Bẩy trong thời gian ngắn nhất và nói được điều bà chất chứa bấy lâu nay trong lòng. Bà muốn viết rất nhiều, kể rất nhiều, nhưng rồi chỉ được mấy dòng, giống như tiếng kêu thảm thiết của con chim sắp chết vậy…
Vậy mà không ngờ lá thư đã mang lại niềm hy vọng cho bà. Sáng nay, có người chèo ghe tìm tới cái eo đất mà bà đang sống. Anh ta chỉ dừng ghe lại dưới gốc cây si, gọi vọng lên:
- Bà ơi, bà có phải là bà Nga không?
- Phải, có chi vậy?
- Dạ có. Bà chuẩn bị, ngày mai có ông Chánh Thanh tra tỉnh tới kiếm bà đó…
- Ngày mai?
- Dạ mai… Ổng điện xuống xã, nhắn tụi con kiếm bà.
- Vậy hả. Cám ơn nghen…
Chiếc ghe chèo đi, để lại cho bà một sự hồi hộp khó tả. Vậy là ông ấy sẽ đến. Đôn Thuận là quê ông làm gì ổng không biết khúc sông này.
3.
Cả cái trạm giao liên Tân Phú ngày xưa bấy giờ chỉ còn lại một cái chòi. Cái chòi đã quá cũ. Mái lợp tranh thì đã thay nhiều lần, còn những cây gỗ thì nó tồn tại đã khá lâu. Những cây phía trong kể cả ở dưới, lẫn ở trên đã ám khói đen xỉn lại. Phía trước, người leo lên, leo xuống đã làm những cây gỗ nhẵn bóng như thoa mỡ. Chòi cất theo lối nhà sàn. Những cây le ghép sàn cũng đã lên nước bóng loáng. Chủ nhân của cái chòi này là một người đàn ông to, khỏe, vạm vỡ. Ông có bộ râu dài, cứng, và bạc. Mái tóc cắt rất ngắn, để chỏng lên những sợi tóc cũng đã bạc và làm lộ ra cái trán vuông, phẳng. Suốt ngày ông ở trần, phô ra cả tảng ngực săn chắc. Thân hình thì to khỏe như vậy, nhưng những bước chân ông thì nhẹ lâng, thoăn thoắt, giống như những bước chân của những con cheo lướt trên những bãi cỏ. Cái chòi, vóc dáng và những bước chân của ông nói lên một điều, ông đã ở trong rừng này từ rất lâu rồi. Điều đó còn được xác nhận bởi vườn rau của ông dưới khe suối. Thực ra không thể gọi đó là vườn. Nó là một cái bè cây được ghép bằng hai cây gỗ rất lớn ở hai bên. Ở giữa là những cây gỗ nhỏ hơn tạo thành một khoảng lõm xuống và có thể đổ vào đó một lớp đất. Rau được trồng trên lớp đất đó. Một góc là rau muống. Góc khác là rau thơm. Có cả hành, tỏi được trồng ở đó. Mỗi thứ một chút. Cả cái bè đặt dưới lòng khe. Khe nước này thông với sông Vàm Cỏ Đông, nên khi nước ròng thì cái bè hạ xuống nằm sát đáy khe, còn khi nước nổi, thì cái bè cũng nổi lên theo. Vì thế cái vườn bè lúc nào cũng có nước mát, cây rau trồng trên đó lúc nào cũng xanh. Thêm một điều chứng thực việc ông chủ cái chòi ở rừng đã lâu, đó là chiếc ghe của ông. Chiếc ghe này có thể gọi là ghe độc mộc cũng được. Nó được đẽo gọt từ một lõi cây sao lớn. Nó luôn được ngâm xuống nước và chỉ nổi lên khi ông chủ của nó có chuyện ra sông.
Hôm nay ông chủ của cái chòi có khách. Thường ngày, khách của ông hoặc mấy cậu sơn tràng, chuyên khai thác gỗ quanh khu vực rừng Tân Phú. Mấy cậu này coi ông như chúa rừng, nên có muốn đốn hạ cây nào ở đây phải trình qua ông. Trình rồi phải theo ông đi, ông chỉ cây nào thì mới được phép đốn hạ. Chặt xong, phải kiếm cho được giống cây như thế trồng lại vào chỗ đó. Loại khách thứ hai là anh em bộ đội biên phòng đồn Tân Phú. Mỗi khi đi tuần qua chòi ông, anh em nhất định phải tạt vào, uống với ông ly trà. Nhiều khi cả cậu đồn trưởng, đồn phó cũng ra ông, kiếm ba xị, lai rai với ông. Loại khách thứ ba là bà con bên Campuchia, đi tắt qua chòi ông sang chợ huyện Tân Biên. Họ ghé thăm ông, biếu ông ít đường thốt nốt và nhận từ ông ít muối người ngoài chợ gởi sang bán cho họ. Ông nuôi một bầy gà. Khách nào đến ông cũng đòi bắt gà thịt, nhậu lai rai chơi. Không ai uống rượu bằng ông. Một chén, ông chỉ cưa hai lần. Nhìn ông uống, cậu nào yếu bóng vía là xỉn rồi, khỏi cần nâng chén với ông. Thấy ông đơn độc một mình, mấy bà con bên kia biên giới đã có lần dắt vợ cho ông. Lần đó, ông mần đến ba con gà, mời hết thảy những người bạn láng giềng tốt bụng một chầu, sau đó nhờ họ mang trả người đàn bà kia về bên kia biên giới. Những khách như thế thường chợt đến chợt đi, không hình, không bóng. Và cũng hầu hết đều không quen với ông.
Nhưng khách lần này tìm đến ông được báo trước. Anh em ở đồn biên phòng báo sang như vậy. Khách nào ông không biết. Nhiều lắm thì lại một ông cán bộ biên phòng nào đó, đến cảm ơn ông vì nhờ ông ở đó mà bộ đội biên phòng có thêm tai mắt. Hay là cán bộ chính sách? Ờ mà quên, cách đây vài chục năm hồi mới giải phóng đã có một đoàn cán bộ chính sách tới kiếm ông. Họ đến, họ bảo ông kê khai thành tích kháng chiến để cấp huân chương. Ông bảo họ: tôi ở rừng, huân chương để làm gì. Họ bảo ông phải quan tâm tới con cái. Ông trả lời: vợ không có có đâu con. Họ bảo họ có trách nhiệm với công lao đóng góp cho kháng chiến của ông, ông nói: công lao gì đâu, suốt cuộc kháng chiến chỉ làm cái anh nấu bếp. Họ ra về và coi ông như một kẻ gàn dở. Vậy thì lần này là khách nào? Thôi khách nào cũng được miễn là khách. Ông ném mấy hạt gạo và nhanh chóng tóm được chú gà trống lớn nhất, cột giò để đó. Ông lắc cái can rượu. Còn đủ cho cỡ chục người uống. Ông nhìn xuống bè rau: còn khá bộn.
Quá trưa thì khách đến. Người đi trước cao dong dỏng và bước chân rất vội vã. Thằng cha có mái tóc bạc thấy mà thèm. Bạc trắng. Nhưng có vẻ quen. Ông ta chạy tới xăm xăm:
- Anh Chín.
Ông Chín giật mình. Lâu lắm rồi không ai gọi ông như vậy. Người ta gọi ông là người rừng, hoặc có người coi chữ rừng là tên ông, nên gọi ông là ông rừng. Nay có người gọi ông là ông Chín. Ai vậy cà? Ủa, hắn chớ ai:
- Anh Bẩy phải không? Mẹ kiếp, khỉ thật, ông còn sống hả. Sao ông biết tôi ở đây…
- Biết chớ. - Ông Bẩy ào tới, ôm lấy ông - Đi tìm mấy cha cùng đơn vị với anh, họ chỉ. Mà họ chỉ tùm lum à. Cuối cùng gặp cha Năm Lưỡng biên phòng, mới biết anh ở đây. Vậy là tốt quá rồi.
Khi không tốt quá rồi là sao. Ông Chín vừa nghĩ vừa kéo ông Bẩy lên sàn. Những phút vồ vập qua đi. Ông Chín để mặc cậu Du, đồn trưởng đồn Tân Phú ngồi lại với ông Bẩy, lúi húi làm thịt gà và nói giọng từ dưới khe suối lên:
- Ở đây chơi với tôi một ngày nghen anh Bẩy. Tôi làm con gà, lai rai chút đỉnh, tối, lấy ghe ra sông nhậu tiếp. Nhậu ngoài sông, hết xẩy đó…
Ông Bẩy không nói không rằng, ngồi ngay cửa chòi nhìn xuống dưới khe. Lát nữa ông sẽ báo cho ông Chín một cái tin chắc phải đứng tim. Bữa trước ông đã về Đôn Thuận tìm gặp bà Nga. Bà ấy khóc thôi là khóc. Bà nhắc đến ông Chín, người đã liều lĩnh cứu bà thoát ra khỏi trại giam, để bà còn được sống tới hôm nay. Bà ao ước được gặp lại ổng một lần. Nhưng bà tin ổng chắc ổng không còn sống nữa. Trái bom trên bờ hôm đó, làm sao ông thoát. Nếu thoát, thế nào ổng chẳng tìm bà. Ổng đã hứa vậy mà. Sau cuộc gặp đó, ông đã phải cử anh em đi Trảng Bàng tìm cho được tên trung úy cảnh sát hồi nào. May sao hắn vẫn còn sống, và vẫn còn ở trong nước. Hắn bây giờ sống đàng hoàng trong một căn nhà xây khá lớn ở dưới Củ Chi. Hắn có một cái vựa diêm khá lớn, đủ thao túng cả một vùng đồng ruộng ở Củ Chi. Cách mạng mình hay thật. Bây giờ chẳng ai nghĩ tới việc trả thù hắn. Kể cả chị Út Nghe, người đã bị hắn bắt ngày nào, rồi bị đày đi Côn Đảo, thoát cái án tử hình, nay về gặp lại hắn, cười tỉnh như không. Chị còn khuyên bảo hắn cách làm ăn nữa. Lại còn nhắc hắn: chuyện ngày xưa, quên đi, lao động mà làm ăn. Lúc cuối đời lương thiện là được rồi. Hắn đã chịu khó ngồi ghi lại chuyện hắn đã gặp bà Nga ở bến xe Trảng Bàng ngày nào, đúng như bà Nga kể. Đó chỉ là cơ bản ban đầu để giải nỗi oan cho bà Nga mà thôi. Còn đủ thứ thủ tục rắc rối mới có thể kết luận được. Còn phải tìm về Bộ Nội vụ xem coi trong danh sách những kẻ chiêu hồi, đầu hàng có tên bả hay không. Thậm chí phải khui cả danh sách những người đã từng bán tin cho CIA ngày trước nữa. Chỉ cần có cái tên Võ Thị Nga ở cái chỗ nào đó, thì coi như hết. Nhưng với kinh nghiệm của người làm thanh tra lâu năm, ông Bẩy chắc chắn nỗi oan của bà Nga là có thực. Gặp bà, ông lại có thêm một món nợ: tìm ông Chín giúp bà. Mãi đến hôm rồi, lúc kỷ niệm ngày truyền thống bộ đội biên phòng, gặp Năm Lưỡng, ông ta biểu: “Ở gần đồn Tân Phú có một thằng cha gàn dở. Hắn sống ở trong rừng mấy chục năm nay, không thèm ra tới cửa rừng. Nghe đâu gã thứ Chín, không biết có phải Chín đó không, ông lên thử coi…”. Ông Bẩy bỏ cá năm ăn, năm thua lên đây, trước là làm việc ngoài Tân Biên, sau nữa vô thử trong này. Ai dè chính ông ta.
Ông Chín nâng chén rượu lên, nói trịnh trọng:
- Mừng gặp lại ông. Mẹ kiếp tưởng chết ráo rồi chớ. Hồi đó tôi thù ông đục nước đó nghen…
- Vì Nga phải không?- Chớ gì nữa. Cổ đẹp như thế, ông lại đẹp trai hơn tôi, chuyện với cổ nở bắp rang. Còn tôi một thằng “Đít nồi quân dụng”, cù lần. Thích cổ đến phát mê mà thua… Cổ chết rồi, chớ còn sống chắc sao cũng có án mạng vì cổ…
- Chết khỉ, còn sống nhăn kìa.
Ông Chín nâng chén rượu đến lưng chừng rồi ngưng ngang ở đó:
- Sống nhăn. Là sao?
- Thì còn sống chớ sao.
- Mẹ kiếp, tôi lại thua rồi. Chắc ông bà sống với nhau hạnh phúc lắm hả?
- Bậy nào. Tôi mới gặp bả cách nay lối tháng chớ mấy. Tôi đi kiếm ông là vì bả đó…
- Trời đất. Kiếm tôi…
- Ông hứa với người ta, rồi sẽ đi kiếm người ta. Vậy mà hết chiến tranh, ông chui về đây ông sống. Là sao…
Ông Chín buông chén rượu xuống. Trên trán ông lấm tấm những giọt mồ hôi. Giọt mồ hôi lăn xuống mắt, làm ông chớp lia. Càng chớp, nước mắt càng ứa ra. Ông mặc nó lăn dọc gò má:
- Bữa đó, đẩy Nga xuống sông rồi, tôi còn kịp nhìn thấy trái bom nổ dưới sông, sát gần với chỗ cô vừa nhẩy xuống. Còn tôi, chạy được vài bước, một trái bom nữa làm tôi xỉu đi, hết biết gì nữa. Tỉnh dậy, đã thấy mình nằm quân y viện rồi. Tôi không hỏi ai về Nga. Vì chính tôi là người đã đưa Nga ra sông, thấy bom rớt xuống phía Nga, thì hỏi ai làm gì. Cổ chết chắc. Cái phòng giam Nga hôm đó cũng trúng một trái bom. Chắc ai cũng cho rằng Nga đã lãnh trọn trái bom đó, nên không ai nhắc đến Nga nữa. Suốt những năm tháng còn lại ở trạm giao liên Tân Phú, tôi cứ bị ám ảnh hoài vì trái bom hôm đó. Tôi cho rằng, tôi đã đẩy Nga vào chỗ chết. Tôi hận tôi lắm. Một cô gái đẹp như thế mà chết oan chết uổng… Hòa bình tôi chỉ về thị trấn Trảng Bàng một lần. Lần mò, tôi cũng tìm được gia đình Nga. Nhưng khi tôi hỏi những người thân của Nga thì ai cũng lắc đầu. Hình như họ cố tránh không muốn nói chuyện với tôi. Tôi càng chắc chắn là Nga đã chết. Anh Bẩy, anh có biết là tôi đã thất vọng đến như thế nào không? Đúng là tôi đã hứa, tôi sẽ tìm Nga. Và tôi đã tìm. Lúc đi tìm tôi cứ nghĩ rằng: Nếu Nga còn sống, dẫu Nga có lấy chồng rồi tôi cũng không hận. Miễn là Nga còn sống, và tôi đã tìm Nga thế là đủ. Nhưng không ai cho tôi được một cái tin nào của Nga. Trời đất, mẹ kiếp, thà để Nga chết trong tù, với quả bom nơi Nga bị giam giữ. Đằng này, tôi kéo Nga ra khỏi chỗ đó, lại chính tay tôi đẩy Nga vào chỗ chết… Nên tôi mới về đây sống, để được gần gũi trạm giao liên xưa, bến sông xưa, nơi Nga đã từng sống và đã chết… Tôi tự hành hạ mình vì lỗi lầm do mình gây ra… Chắc anh lại biểu cho tôi là gàn dở chớ gì. Tôi là vậy đó. Nếu tôi khác, thì ngày xưa, tôi đã tống cổ anh ra khỏi trạm giao liên khi anh tán tỉnh Nga rồi… May quá, Nga còn sống. Chắc bây giờ cổ…
Ông Bẩy không biết nên hiểu thế nào về những giọt nước mắt đang lăn trên gò má ông Chín. Nó do bị mồ hôi làm mặn xót mà ứa ra hay là ông Chín khóc thực? Nhưng nhìn cái bộ dạng của ông, thì rõ là ông đang xúc động thật sự. Ông Bẩy đem mọi chuyện kể ra hết. Từ lúc bà gửi thư đến ông, đến lúc ông tìm xuống thăm bà, kể chuyện bà đã kể cho ông nghe, kể luôn chuyện đang xác minh giải oan cho bà. Ông kể hết. Ông Chín nghe chăm chú và tuyệt nhiên không uống thêm một miếng rượu nào nữa.
Cậu Du, đồn trưởng đồn biên phòng Tân Phú đã xin phép ra về sau khi nghe ông Bẩy nói sáng mai mới về và nhờ Du đến đón.
Trời sập tối lúc nào không biết. Ông Chín đứng dậy:
- Anh ngồi chờ tôi một lát nghen.
Ông không cần cầm theo ngọn đèn, có lẽ vì ông đã quá quen thuộc mọi cái ở đây rồi. Thấy ông lục cục dưới khe một hồi rồi chạy lên:
- Đi, anh Bẩy, ta ra sông. Ra sông, nhậu trên sông mới đã.
Phải nhờ bàn tay ông Chín, ông Bẩy mới xuống được chiếc ghe độc mộc của ông. Nước bắt đầu nổi. Ông Chín sắp ngay ngắn một miếng ván nhỏ lên ghe, đặt vào đó con gà từ chiều đến giờ mới xé có một nửa, thêm can rượu nữa, rồi chống sào đẩy ghe ra. Lát sau, mặt sông Vàm Cỏ Đông rộng rinh đã hiện ra trước mặt. Ra đến giữa dòng, ông Chín đặt cây sào lên ghe và ngồi xuống, đối mặt với ông Bẩy, rót rượu:
- Mỗi khi nhớ đến Nga - ông Chín nói như nói với mình - Tôi thường mang bình rượu ra sông. Tối là nước lên, tôi bỏ mặc cái ghe cứ theo con nước mà lên. Gần sáng nước ròng, cái ghe xuôi xuống, nó lại đưa tôi về đúng cửa khe suối này. Từ đây lên đó, sẽ qua cái đoạn tôi xô Nga xuống sông. Không biết bao nhiêu lần rồi tôi đã ra sông uống rượu và mặc cho con nước đưa tôi lên xuống. Nước sông Vàm Cỏ Đông có lúc nào ngừng chảy đâu, phải không anh Bẩy? Dòng sông cứ chảy, đời người cứ trôi đi, tôi ngỡ chẳng còn bao giờ gặp lại Nga nữa. Thì ra, trên sông còn có bến, phải không anh Bẩy?
Chén rượu chuyền qua, chuyền lại. Cái ghe từ từ trôi lên. Dòng sông phẳng lặng. Mặt sông lấp lánh. Thỉnh thoảng có những con cá tung lên rồi buông rớt cái tõm xuống sông như bảo người ta rằng: dưới lòng sông kia vẫn còn cuộn dâng sự sống. Ông Chín bỗng nâng cao chén rượu rồi từ từ rót xuống sông:
- Anh Bẩy nè. Có khi nào anh nghĩ sông có Hà Bá thực không. Nếu có thực, tôi mời ổng chén rượu này, nhờ ổng đẩy cái ghe xuống dưới Đôn Thuận, cho tôi gặp Nga một lần nữa…
- Anh sẽ gặp cổ, không chỉ một lần đâu, cổ vẫn còn nhớ cái hôn của anh đó, anh Chín. Cổ nói:…
Thôi, đừng nói nữa anh Bẩy. Tôi hiểu rồi. Ngày mai tôi sẽ theo con sông này xuôi xuống tìm cổ. Chắc là sẽ gặp, phải không anh?
Một cơn gió chợt ào qua. Mặt sông bỗng gồng lên một đợt sóng. Sóng của con sông, hay sóng ở trong lòng.
N.Đ.T




