|
H |
à đến Quảng Trị vào một buổi sáng mùa thu. Ở đây mùa thu rồi nhưng dáng dấp của mùa hè vẫn còn rất rõ ban ngày nắng vẫn đượm một màu chói chang. Dòng sông Thạch Hãn soi rõ bóng bức tường thành có quãng đổ nát. Lịch sử đã đi qua đây và dừng lại trên trang sách của các em. Những con số thời gian gắn liền với nhau trước và sau thế kỷ dài dằng dặc. Hôm nay dưới chân Thành Cổ, dấu tích của những cuộc kháng chiến đang đi vào bài giảng của cô giáo sử vừa tròn hai mươi ba tuổi.
Hà đứng trên bục giảng nhìn xuống các em học sinh thân yêu với cảm xúc đang dâng lên mãnh liệt. Những đôi mắt tròn xoe, những tâm hồn trong trắng đang hướng về phía cô. Một ngọn gió lồng vào cửa sổ, thổi bồng mái tóc các em gái như muốn hông khô dùm các em sau lần gội đầu thơm hương sả. Bên ngoài Cổ Thành vẫn uy nghiêm, sừng sững. Rêu phong đã phủ lên những viên gạch bị thời gian nhuộm màu. Những cây cỏ dại đội luỹ thành để vươn ra ngoài đời, như những ngọn giáo chống giữ của quân sĩ ngày xưa. Con canh đào chạy dưới chân thành nay đầy um bèo nước. Những chiếc hoa màu tím lung linh như đua sắc đẹp với chiếc áo cô giáo Hà đang mặc.
- Các em, các em có biết không, trên những miền quê đẹp của Tổ quốc mình, cha ông chúng ta đã đổ máu và hy sinh để giành độc lập... Trong suốt bốn ngàn năm không biết bao nhiêu những di tích còn đọng lại, như nói với thế hệ mai sau công lao của bậc tiền bối. Chúng ta giữ nó trân trọng và tự hào.
Cô giáo ngừng lại, nhìn tấm bản đồ tự họa cuốn tròn đặt trên bàn. Hà phải để một ngày sưu tầm lại trong nhân dân quanh thành những chi tiết cụ thể mà bom đạn Mỹ dã cướp mất. Cô muốn các em hiểu rõ hơn về bài lịch sử thân thuộc, gần gũi với các em từ buổi lọt lòng, làm sống lại trong tâm hồn các em hình ảnh dân tộc gắn liền với sứ mạng vinh quang cao cả nhất!
- Thời vua Minh Mạng... để duy trì chế độ phong kiến thống trị và nhằm đàn áp các cuộc khởi nghĩa của nhân dân, triều đình nhà Nguyễn đã cho khởi công xây đắp Cổ Thành. Đó là một bức trường thành vững chắc kéo dài...
Bỗng cả lớp xôn xao nhìn ra phiá thành. Một số em đưa tay chỉ trỏ... bị ngắt quãng giữa chừng. Hà gõ mạnh thước vào bảng.
- Cô đề nghị các em trật tự!
Lớp học trở lại không khí bình thường. Tuy vậy, các em ngồi gần cửa vẫn cứ lén lút giấu cô giáo nhìn ra ngoài thành.
- Có chuyện gì thế, các em ?
Hà vừa hỏi thì một học sinh đã đứng bật dậy:
- Thưa cô ...
- Em cứ nói.
- Thưa cô, mấy chú bộ đội đang lấy gạch của Cổ Thành ạ.
Hà khẽ nở một nụ cười. Cô bước đến bên cửa sổ rồi quay vào. Lớp học nhìn cô giáo như muốn hỏi. Hà nói để các em tiếp tục trở lại với bài giảng của mình:
Các em yên tâm, Thành Cổ là một di tích lịch sử đã được xếp hạng. Các chú bộ đội là những người đã giữ thành trong suốt tám mươi mốt ngày đêm. Nhiều chú đã hy sinh để bảo vệ thành đến hơi thở cuối cùng - Hà lặng đi một lúc - Và trong đó...
Giọng Hà nghẹn lại. Các em học sinh nhìn cô không chớp mắt. Lớp học ngơ ngác khi nhìn thấy hai khoé mắt cô giáo chấm xuống hai giọt lệ long lanh. Hà định nói: trong đó có chồng của cô...
* * *
Mùa hè năm ngoái, Hà chưa phải giáo viên trường này. Từ Quảng Bình cô vào đây ở lại mấy hôm trong một ngôi nhà dưới Trí Bưu. Cô đến Cổ Thành với một niềm hy vọng mà gia đình đang gửi gắm. Trong cuộc chiến đấu giữ thành năm 1972, chồng cô đã hy sinh. Biết tin đó, Hà đã vào rồi lại trở ra. Cô đứng bên này sông Thạch Hãn nhìn Cổ Thành, nước mắt cứ chảy ròng ròng... Chỉ một con sông mà kẻ Nam người Bắc. Chồng cô đã ngã xuống nơi nào trên mảnh đất bên ấy? Mộ anh có còn không, hay bom đạn Mỹ đã cày lên? Hà như thầm nói với chồng: Em vào thăm anh, anh có biết không? Em không sang được, phải gửi lòng qua mặt nước nhờ nó mang đến cho anh. Anh hãy ở lại trong tình thương máu mủ của đồng bào, đồng chí nửa nước thân yêu, một ngày nào đó, chắc chắn không xa, chiếc cầu sẽ bắc ngang dòng sông để em đến thăm anh...
Điều Hà mong mỏi nhắc thầm với chồng đã thành sự thật. Nhưng Hà không tìm được mộ anh. Giữa đống hoang tàn của chiến tranh chưa được hàn gắn, là những ngôi mộ chiến sĩ vô danh, được bàn tay người đang sống vun đắp. Tên tuổi các anh là bài ca âm vang từ lòng đất. Chỗ các anh ngã xuống không còn là một ngôi mộ nhỏ hẹp nữa rồi. Ngôi mộ ấy như mặt trăng giữa bầu trời, đứng giữa muôn ngàn tinh tú nhấp nháy. Hà cảm thấy bàn chân mình bé nhỏ khi đi trên mảnh đất Cổ Thành để tìm anh, thăm anh. Tronh mắt cô, những viên gạch vỡ vụn thắm đỏ như đôi môi của những bà mẹ ăn trầu. Hà nhìn lên Cổ Thành, bất giác cô tự hỏi: Anh có nằm trên ấy, không anh ? Dáng đứng của trường thành làm em liên tưởng đến dáng đứng của anh ngày chống Mỹ.
Hà định vào sâu trong thành chút nữa, may ra... Được một quãng, Hà bỗng nghe tiếng gọi sau lưng mình:
- Cô ơi, cô đi đâu giữa trưa nắng thế này ?
Hà nhìn lại, một bà cụ đang nhặt nhạnh những tấm tôn trên một nền nhà cũ.
- Mệ gọi con...
- Ừ - bà cụ nhắc lại - Nắng nôi thế này, cô đi đâu?
Hà khẽ đáp:
Dạ, cháu đi tìm mộ.
Bà cụ đứng dậy nhìn Hà như dò xét. Cái nhìn của bà làm Hà đâm lo.
- Mộ ai? Cô tìm mộ ai?
- Mộ nhà cháu mệ ạ.
- Đi lính phải không?
Hà “dạ”, chưa kịp nói thêm thì bà cụ đã cắm cúi làm tiếp công việc đang dở. Khuôn mặt rám nắng của bà có vẻ lạnh lùng hơn khi một mình bà với công việc của mình. Mãi sau bà mới nói, giọnh lấp lửng khó chịu:
- Tôi cứ tưởng...
Nếu lúc nãy Hà không tình cờ đi qua bãi mộ của bọn lính nguỵ có cái tượng đài vuông có chữ “tri ân” mé làng thì sẽ không bị bà cụ hiểu nhầm, Hà vội nói để bà cụ hiểu:
- Mệ ạ, chồng cháu đi bộ đội hy sinh năm trước ở vùng này.
Như lúc đầu, bà cụ lại buông tấm tôn rơi xuống chân mình và dán cái nhìn vào Hà. Cô đọc trong ánh mắt bà cụ một sự ngờ vực... Bởi vì bà chưa hoàn toàn tin hẳn ở câu nói của Hà.
- Cô nói sao? chồng cô đi lính...
- Bộ đội giải phóng mà mệ không biết ư?
Bà cụ kéo Hà đến một gốc cây gần đó. Đưa nón mình cho cô quạt, bà rót nước trong ấm ra và mời:
- Cô uống nước đi.
Chiều hôm ấy, Hà theo bà cụ về nhà. Bà bảo trong vườn của bà có một ngôi mộ mà các anh giải phóng đã gửi lại. Hà hỏi xem anh ấy hy sinh có để lại gì không, bà cụ lắc đầu bảo : Rút ra, các anh ấy nói vài năm nữa sẽ trở lại. Có lẽ cũng sắp rồi!
Ngôi mộ đó, bà trông nom mấy năm nay. Giữa vùng địch chiếm, tấm thân bà cụ lúc nào cũng có thể đánh đổi linh hồn người ngã xuống. Mỗi lần làm vườn, bà đến ngồi bên cạnh ngôi mộ rất lâu, tỉ mẩn nhổ từng gốc cỏ dại... bà khóc; khóc vì thương anh hy sinh mà ngôi mộ vẫn không tròn. Để làm dấu, bà cắm hai chiếc cọc hai đầu. Đất trên mộ vẫn bằng phẳng như không có gì biến động. Bà xin hoa về trồng xung quanh để anh được hưởng mùi hương rút từ ruột đất. Về sau bà cắm thêm một chiếc cọc làm giàn bầu ngay trên mộ. Bà nói:
- Anh ấy vì dân sống khổ, chết khổ. Thôi thì chỗ cuối cùng phải cho anh ấy mát mẻ.
Hôm giải phóng, bà làm một mâm cơm cúng anh rồi cầm cuốc đắp ngôi mộ ấy lên. Làng xóm bây giờ mới biết, nhiều người trách bà kín tiếng không cho họ chung lo. Bữa đó mộ anh đầy hương hoa.
Hà nghe, chỉ muốn khóc. Cô cảm ơn bà cụ ở Cổ Thành. Có phải mộ chồng hay không nhưng Hà thấy mình cần phải làm như thế! Của ai, các anh là của chung, đều là những người đã hy sinh và cống hiến cuộc đời mình như người chồng thương yêu mà Hà đang tìm đến.
Ngày chuẩn bị ra quê, Hà đi chợ mua một bó hương, loại hương trầm, rất thơm. Cô giở quyển sổ xé một trang giấy và viết vào mấy chữ. Hà ghi rõ tên, họ, quê quán của chồng và địa chỉ của mình rồi trao cho bà cụ.
- Sau này các anh trở lại bốc ngôi mộ, cháu nhờ mệ đưa giùm mảnh giấy này, nếu mộ của chồng cháu, thể nào các anh cũng gửi lại. Như thế cả hai vợ chồng cháu đều mang ơn mệ.
- Cô nói như vậy không sợ tủi mặt tôi sao?
Bà cụ nhìn Hà, thốt lên.
Hà đốt hương cắm một phần lên ngôi mộ trong vườn. Cô chào bà cụ rồi đi dọc lại con đường cũ lên thành. Gặp những ngôi mộ mới, Hà dừng lại cắm vào mấy cây hương. Mộ chưa có bia nhưng đã được đánh dấu của Ban thương binh xã hội. Những nén hương Hà đốt, theo chiều gió thơm ngát một vùng Thành Cổ. Có phải chính Hà đã thiếu đi một khía cạnh tình cảm sâu sắc của mình, khi chưa đặt chân đến nên chưa rung động trước bài giảng lịch sử Cổ Thành.
Sau đợt ấy thì cũng vừa lúc Bình Trị Thiên hợp nhất. Ty Giáo dục điều động một số giáo viên vào nhận công tác ở vùng giải phóng. Hà viết đơn xin đi. Và, một điều bất ngờ đến với cô: Hà trở về trường phổ thông dưới chân Thành Cổ. Môn lịch sử của trường đang cần cô tới nơi cần đến.
Khác với ngày nào Hà đặt chân đến đây, bây giờ không còn bề bộn gạch ngói trên những con đường vào thành. Chiến tranh biến mất trước bàn tay của con người. Thành Cổ vẫn uy nghiêm, trầm mặc. Những ngôi mộ Hà cắm hương ngày trước không còn nữa. Xe ô tô đã đón các anh đi vào nơi an nghỉ cuối cùng của nghĩa trang Tổ quốc. Trên đó, tượng đài chiến thắng đang chờ đợi những người con chiến thắng. Đó là nghĩa trang liệt sỹ Trường Sơn thuộc huyện Do Linh Quảng Trị lúc bấy giờ...
Hà đi như bay về làng nhỏ có bà cụ tốt bụng và phấp phỏng chờ đợi tin chính xác về ngôi mộ trong vườn. Cô chưa kịp hỏi thăm thì đã nghe bà cụ nói:
- Các anh ấy đến chuyển đi rồi?
- Sao? Mệ ơi, các anh bảo sao?
Bà cụ im lặng đứng trước thềm. Giọng bà ngắt từng đoạn:
- Không phải chồng con đâu! Đó là một anh đặc công vấp phải mìn.
Tự nhiên không khí xung quanh như lắng xuống, hai con người hai ý nghĩ nhưng đều có những nét giống nhau. Vẫn bắt đầu từ ngôi mộ bà cụ giấu trong vườn. Bà ái ngại cho Hà chăng? Cũng có thể là bà đang động viên cô, tước bỏ giây phút yếu đuối và thất vọng:
- Khi nào cô lên nghĩa trang lớn xem. Chắc chồng cô về trên ấy rồi đấy! Dạo này trong Cổ Thành ngày nào cũng có người về chuyển mộ các anh đi.
Hà cắn chặt hai hàm răng. Cô không kìm nỗi xúc động trước bà cụ già làng Trí Bưu, Hà cố hỏi:
- Các anh ấy không nhắn gì cháu sao?
- Có đấy! Các anh cầm theo địa chỉ của cô, hẹn khi nào gặp sẽ biên thư trả lời.
Hà nghĩ: Thế nào mình cũng phải ghé thăm bà cụ luôn. Cô về lại trường và cảm thấy lòng mình thư thái hơn. Bởi cô biết, các anh ấy sẽ viết thư cho mình khi tìm thấy mộ anh xung quanh Cổ Thành này.
* * *
Hôm nay, Hà có hai tiết sử tiếp nhau trong một lớp. Giờ sau cùng của cô Ngoan dạy môn vật lý nhưng cô ốm nên nhường lại cho Hà. Thật ra, Hà đang muốn giúp các em chủ đề “Tìm hiểu Cổ Thành của chúng ta”.
Hà trải tấm bản đồ lên mặt bàn, lặng lẽ di ngọn chì trên tay. Cô ngắm bức tường thành với những hình mẫu được phác ra, theo truyền thuyết được kể lại. Thế kỷ trước lại đến với cô qua các cuộc khởi nghĩa của Trương Đình Hội, Hoàng Phúc. Bước sang thế kỷ hai mươi, trang lịch sử Cổ Thành càng chói lọi. Ta đã giữ vũng Thành trong vòng ba tháng, đánh cho lực lượng hiếu chiến quân nguỵ tơi bời.. Chiến thắng năm 1972 có ý nghĩa lịch sử, đánh dấu một chặng đường mới của cách mạng chung cả nước.
Cô giáo ngồi xuống ghế, hai tay đan vào nhau, đặt lên tấm bản đồ và suy nghĩ. Cần phải giảng thế nào đây để các em nắm hết vẫn đề? Những điểm nào cần được láy lại? Đang giờ ra chơi, các em đều tụ tập trước sân trường. Một số em trai, vốn tính tò mò hút vào trong thành theo các chú bộ đội. Thoang thoảng trong làn gió có mùi hương hoa dại bên thành rất dịu ngọt chen vào.
Đã sắp hết giờ ra chơi mà các em vẫn chưa chịu vào. Hà đi ra sau sân trường và vòng về phía kênh đào dưới chân thành. Buổi chiều, ánh nắng khuất sau đám mây trắng nõn như một con thiên nga xoè cánh bay. Mặt đất dịu lại. Cảnh vật như nằm sau chiếc kính râm của thần mặt trời; xuống chút nữa. Cổ Thành sẽ vươn tay bồng ánh nắng thì mát mẻ biết nhường nào?
Bỗng từ bên sau thành, các em học sinh hớt hải chạy về. Có em lội tắt qua kênh đón đường cô giáo. Một em vừa nói vừa thở:
- Các chú bộ đội đào... ào được ảnh cô.
- Bậy nào! - Hà nói - Làm gì có chuyện đó!
Cả mấy em đi xem về cùng ùa tới vây lấy Hà.
Chúng thi nhau kể cho cô giáo nghe. Một đứa, hai đứa nhiều đứa học sinh đều kể. Các em nói câu được, câu chăng. Hà phải tập trung cố nghe. Cô nghĩ rất nhanh: Hay là... vùn vụt trong óc Hà những ngày đi tìm mộ... Ngày đứng bên dòng sông giáp ranh... Buổi trưa đi khắp trong thành và bà mẹ làng Trí Bưu yêu nước. Đến bây giờ, giảng cho các em lịch sử chính nơi này.
Câu nói chống chế của Hà sụp đổ. Dưới chân cô như có một dòng điện tự cảm chạy qua. Hà thấy mình không thể tự chủ và bình tĩnh được nữa. Cái lạnh như từ tim dồn ra. Hà run run nắm chặt lấy tay một em học sinh đang kể:
- Đâu? Đâu các em?
- Phía trong thành!
Hà lội ào ra giữa kênh. Nước dưới chân cô như bị một chiếc xuồng máy xé ra. Em học sinh không kịp buông tay Hà.. Đám học sinh cùng kêu lên: mảnh bom nhiều lắm cô! Chúng kéo nhau chạy vòng lên con đường đắp ngang kênh, đuổi theo cô giáo. Hà đã băng qua chiếc cổng thành bị bom đánh sập một góc. Cô đạp lên những viên đá lởm chởm trên mặt đường, lúc nào cũng sẵn sàng cứa vào da thịt con người. Mái tóc cô xoã ra như một mảng màu của người hoạ sĩ vẽ chiều lượn sóng. Và, chiếc áo tím - chiếc áo màu tím ấy, làm cho cô giáo nổi bật lên giữa ánh nắng buổi chiều.
Mấy anh bộ đội đang ngồi nghỉ sau khi đậy nắp tiểu sành vội đứng cả dậy. Họ nhìn cô giáo đang chạy đến phía mình bằng ánh mắt kinh ngạc. Thật ra, các anh cũng không ngờ, dưới ngôi mộ bạn mình lại mang theo tấm ảnh đôi. Cũng không tin có người con gái chạy ra nhận ảnh. Tất cả đều bắt đầu từ những lời xầm xì của các em học sinh:
- Cô giáo chúng mình các bạn ơi!
- Đúng rồi, giống như tạc! Và những lời bình rất ngây thơ:
- Cô trẻ hơn bây giờ... Cặp mắt cô, trông kìa, cứ như diễn viên!
Thoạt đầu các anh cứ bán tín bán ngờ. Các em nhìn nhầm chăng? Biết đâu vợ của anh chiến sĩ đã hy sinh là một cô giáo - cũng có thể là cô giáo của các em. Phải hỏi cho thật rõ. Anh tổ trưởng nhìn các em học sinh.
- Cô giáo các em tên gì?
- Cô Hà ạ.
Anh đưa tấm ảnh cho mỗi em xem lại một lần. Anh chỉ vào cô gái trong ảnh hỏi từng em: Có giống cô Hà không? Các em đều đáp lại: Đúng ạ! Giống cô giáo chúng cháu không sai một ly.
Khi các em xem đã hết lượt, anh mới nói:
- Nhờ các em về mời cô Hà ra đây nhé!
* * *
Giờ đây các anh không ai nói một lời. Mấy cặp mắt như muốn lẫn tránh cái nhìn của cô giáo. Mặc dù, họ đang chờ đợi giờ phút này... Cách mấy bước, Hà chậm lại. Mỗi bước chân cô trở nên nặng nề. Sự im lặng nén xuống đến mức độ muốn nổ tung. Gió như đứng hẳn lại. Những cánh chim bay ngang qua khẽ nghiêng mình...
Hà nhìn như đếm vào từng anh. Nhìn cô, các anh như những người học trò không thuộc bài, chờ thầy giáo quở phạt. Ngực cô vẫn phập phồng trong hơi thở đang kìm hãm. Hà không nói được. Cô đưa tay vuốt vào ngực cho đỡ tức. Cô vuốt ngực như vuốt một cơn đau đang mãnh liệt xô vào lòng. Cô nói, giọng trắc trở như cung trầm khó luyến.
- Các anh... cho em... xem...
Hà thấy hai anh đứng cạnh đưa mắt cho người đang đứng trước mặt cô. Anh này mở cúc túi áo ngực bên trái từ từ rút tấm ảnh ra. Hà đón lấy như sợ ai hứng trước mình. Chân cô bỗng quỳ xuống trước đống đất mới của ngôi mộ. Hướng tấm ảnh về ánh nắng, cô nhìn như bị thôi miên.
Không gian yên tĩnh. Các em học sinh như xếp thành hàng trước mặt mấy anh bộ đội. Nhiều em vừa chạy đến thấy vậy đứng luôn tại chỗ. Cành cây thấp gãy dưới chân các em phát ra những âm thanh lách tách, khe khẽ. Em học sinh đến sau cùng bị trượt chân xuống tổ kiến lửa nằm cạnh mảng bê tông vỡ.. Em đứng nguyên không nhúc nhích. Các em nhìn cô giáo, những khuôn mặt bấm ra sữa đang muốn chia nỗi buồn cùng cô.
Mấy anh bộ đội lặng lẽ cúi đầu. Ngôi sao đính trên mũ, được ánh mặt trời chiếu thẳng tâm, sáng bừng lên. Tất cả đều như mặc niệm. Không tiếng nhạc. Không điệu buồn Nam Ai... Chỉ có trời xanh bao la trên đầu; hoa hương trên mặt đất. Bỗng các anh cùng xô lại... Hà vừa kêu:
- Trời ơi! Anh...
Cô ngồi thụp xuống bên chiếc tiểu sành dựng hài cốt của chồng.
Mấy anh bộ đội dìu Hà ngồi lên tấm ni lông. Cô lóng ngóng bóc những nếp dán kín bốn mặt của tờ giấy bóng. Một tấm ảnh lộ ra đầy đặn và nguyên vẹn: tấm ảnh hai vợ chống cô chụp chung trong dịp anh về phép. Hà lật tấm ảnh, cô đọc từng chữ: Đồng Hới - Kỷ niệm đợt phép năm 1971.
* * *
Đã năm năm qua rồi.
Hà cùng học sinh trở về lớp học dưới chân thành. Bài giảng lịch sử về Cổ Thành lại vang lên. Các em học sinh nhìn cô chăm chú. Vẫn những đôi mắt tròn xoe nhưng Hà có cảm giác các anh đang nói với mình bằng đôi mắt ấy. Bởi Hà đến với các em trước thử thách lớn của riêng mình. Cô thấy yêu các em hơn. Và mảnh đất Cổ Thành này. Ôi! Cổ Thành đầy khí phách..
- Các em..
Hà tiếp tục bài giảng. Bên ngoài, Cổ Thành vẫn uy nghiêm trong một dáng đứng rất đỗi hào hùng, dáng đứng của những thời kỳ lịch sử...
Đ.D.T




