Mai ngày em có tìm tôi
Thì tôi sẽ nói “quên rồi còn đâu”*
Cô lần trong bóng tối để đi đến cái giường có cái đệm lò xo quen thuộc.
Đèn trên tường đã tắt hết. Cô có thể với tay ra để bật lại công tắc tổng, sau đó đèn cảm ứng sẽ tự bật lên khi cô đến gần bất cứ một cái đèn nào. Nhưng cái công tắc tổng vẫn lạnh lùng trên tường.
Hai đùi cô lạnh. Chiếc váy hoa loang loáng trong cái bóng tối chật chội. Một dòng nước nhờ nhợ chảy xuống sàn.
Cô nghĩ cô sẽ đi đến một nơi. Ngày mai cô sẽ mua vé đi Ganghwa. Xuống cái vùng đất tuyệt đẹp ấy cô sẽ lại thuê một chiếc ô tô tự lái để đi tìm một người đàn bà.
Cô nhớ lại cái chuyến bay cách đây hai năm.
Khi đó họ đã làm xong thủ tục nhập cảnh và ra chỗ lấy đồ đạc. Người đàn bà đứng ngay sát đường băng chuyền, cách chỗ cô đứng không xa. Chỉ còn lại hai người bên băng chuyền. Người đàn bà trẻ tuổi mặc áo lông chồn đen khoảng chừng ba mươi khá đẹp, cao và có gương mặt dài thon thả. Những người khách đi cùng chuyến bay từ Hà Nội sang đã lấy xong đồ đạc và ra ngoài từ lâu. Cả hai đều sốt ruột chờ va li đồ đạc của mình vẫn còn mất hút ở đâu đó chưa thấy trên băng chuyền.
Bỗng người đàn bà cất tiếng:
- Hình như va li của mình và bạn ở phía băng chuyền bên kia cơ.
Hóa ra đó cũng là một người Việt. Trên máy bay người ấy ngồi sau cô hai hàng ghế.
Cô nhìn sang bên cạnh. Đúng là chiếc va li và cái thùng cát tông đựng quần áo và sách vở của cô nằm lù lù phía băng chuyền dành cho chuyến bay mới đến. Những người vận chuyển đã nhầm lẫn sao đó với số hành lý của chuyến bay trước. Cô chạy theo chân người đàn bà có cung cách và dáng hình như người Hàn, nhưng lại có giọng nói Hà Nội chuẩn.
- Chị sang đây du lịch à?
- Không, cũng như cô thôi. Nhưng chắc cô mới sang?
- Vâng. Chị ở Seoul lâu chưa?
- Nhà máy của mình ở Jeonju. Bảy năm có lẻ rồi.
- Bảy năm? Vậy chị có sổ đỏ chứ?
- Không có. Nhưng tôi có thứ khác đảm bảo. Xuống Jeonju chơi, nếu cần, cô đến nhà máy K, tôi làm ở đó…
Cô và người đàn bà mặc áo lông chồn màu đen không kịp chia tay nhau.
Người đàn bà lấy đồ đạc rồi thoắt một cái đã ra được sát đường, nơi có dãy xe tắc xi đỗ. Hình như chị đang lo lắng nhìn quanh như sợ điều gì.
Cô nhìn thấy một ông chủ người Hàn không còn trẻ, tay cầm một máy di động “cào cào” màu đen bóng loáng, sải bước đến bên một chiếc ô tô có cái đuôi xe dài như con vịt, phía sau ông ta là bốn người đàn ông trẻ dường như là đám cận vệ bọc lót. Tay lái xe nhảy ra mở cửa xe cho ông ta và người đàn bà. Rồi họ mất hút trên con đường từ sân bay Incheon hướng thẳng Seoul.
Những ngày sống ở Seoul sau đó, cô quên hẳn người đàn bà này.
Không phải cô mới sang thành phố này.
Đúng hơn, cô đã đi xuất khẩu lao động theo hợp đồng hai năm tại một công ty may ở Seoul. Hai năm gần như bị cấm cung trong khuôn khổ mà người chủ đặt ra cho công nhân Việt. Nhưng cũng thừa để cho cô kịp hiểu hết đường đi lối lại, những tập quán, những khúc mắc mưu mẹo trong cuộc sống thị thành xứ người. Cô biết cách đi tàu điện ngầm không mất vé, thói láu cá của người lao động Việt. Vào ngày nghỉ cuối tuần hoặc ngày nghỉ lễ của người Hàn, cô cùng bạn bè đi lang thang khắp nơi trong cái thành phố xứ ôn đới nhấp nhô đồi núi.
Cái thành phố này thật dịu dàng với những ai mới bước chân đến. Mùa thu có lẽ là mùa đẹp nhất trong năm. Lá vàng rải thảm trên mọi góc phố. Lá vàng nhuộm sẫm núi Bắc Hàn. Như những tấm thảm vàng lấm tấm. Rồi đến lá đỏ. Cả cánh rừng Bắc Hàn đỏ như những bức rèm xa-phia thả xuống lưng chừng trời. Họ trèo lên núi, đi trên cỏ xanh. Giẫm lên những bậc đá màu xám lạnh. Những dòng suối xanh màu xanh của đá lạnh chảy xuống chân núi, tìm về sông Hàn rồi lặng lẽ cuộn sóng ngoài biển xa. Những cô gái chàng trai xứ ôn đới của miền Châu Á, mắt hình quả hạnh nhân, nước da mịn màng như trát sữa, đôi chân dài sải trên những con phố hun hút ánh sáng màu lam tím.
Cô được chủ sắp cho chỗ ở trong khu công nhân, lẫn người Việt và một số người các nước Philipine, Malaixia. Mỗi người được một phòng nhỏ xíu như cái khoang tàu. Khi nằm lên cái giường cũng nhỏ xíu như cái giường trên các khoang tàu, một đầu giường đặt xuống dưới một cái bàn, hai chân phải thò xuống giấu dưới cái ngăn bàn mà mặt của nó đựng đủ thứ sinh hoạt cá nhân lên đó. Được mọi người sang trước mách, cô cũng rình mất khá lâu ở những khu chung cư của người Hàn trung lưu, nhặt được một cái vi tính xách tay đời cũ vẫn còn dùng tốt. Cũng cách này, cô nhặt được một cái nồi cơm điện, tiếp đến một lò vi sóng quay tậm toạch, đến một số đồ điện tử khác nữa như ti vi, tủ lạnh gỉ... Ở bên nhà mà sắm được những thứ này cũng phải đi làm mất dăm năm. Cô ra siêu thị bổ sung thêm những cái chảo, xoong điện, bát i-nốc, đũa (cả bó dùng một lần vứt đi, nhưng cô cũng như dân lao động Việt không dùng cái gì một lần mà đã vứt đi).
Cô tập đánh vi tính hàng đêm. Xứ này mạng internet được nối ở khắp nơi, dĩ nhiên chỗ công nhân nước ngoài ở chỉ có duy nhất một phòng chung có hai máy cũ rích được nối mạng. Khi chủ vắng mặt, họ mang vi tính ra phòng chung tự cắm dây mạng và gửi thư về nhà. Chỉ có cách liên lạc đó là rẻ nhất. Nhưng nhà của cô chỉ còn hai bố mẹ già. Cô đành viết thư nhờ một người bạn ở Hà Nội in ra rồi gửi về cho bố mẹ ở quê. Cô kể chuyện đi làm ở Seoul. Việc của cô là đứng cả ngày để cắt chỉ thừa trên những mép may của quần áo. Đứng và dịch chuyển rất ít trong suốt cả ngày, đêm về chân cô sưng tấy như thận hư.
Ở Seoul không có hàng may đo tư nhân như ở bên nhà. Chí ít là hai năm ở bên này cô chưa bao giờ nhìn thấy một cửa hiệu may ngoài phố. Nhưng lại có rất nhiều xưởng may, công ty may ở thành phố này. Trong công ty của cô làm, chỉ có một số lao động được ký chính thức và được đưa đón từ Việt Nam sang. Còn lại, nhất là trong những ngày nghỉ và dịp vào mùa bận hàng, không hiểu chủ tìm đâu ra khá nhiều người Việt lưu vong thuê họ làm tranh thủ, trả cái giá bèo bọt so với những công nhân chính thức. Nhưng vẫn có rất nhiều người tìm đến sau đó.
Hàng buổi cô được chủ cho ăn cơm. Nhưng những món cay xè của người xứ lạnh kể cả món kim chi khiến công nhân người Việt bị đói. Họ cũng như cô phải mua thêm mì tôm, rồi ra chợ dành cho gia súc mua hàng cân tim bầu dục và trứng bao tử gà công nghiệp. Đêm họ xì xụp nấu trộm mì để ăn.
Một lần cái nồi cơm điện cô nhặt được bị cháy chập điện. Mùi khét và khói khiến cái còi báo động rú lên kinh hoàng. Cả khu ở nhốn nháo. Lính cứu hoả Hàn chạy xe tới, tiếng quát tiếng huyên náo khiến cô ngồi xệp dưới đất như chết lặng. Hôm sau cô bị chủ gọi lên trừ hẳn một tháng lương. Lão chủ xổ ra một tràng tiếng Hàn mà giờ đây cô có thể hiểu được đôi phần:
“Mả mẹ con quê mùa thối nát. Chúng mày tưởng mình là ai hở?”
Đúng khi ấy, cô thấy con trai người chủ từ đâu xô cửa vào. Anh ta nom như một diễn viên điện ảnh, đúng mẫu người mà cô từng tưởng tượng khi xem phim Hàn bên nhà, và rồi có gì đấy thôi thúc cô tìm mọi cách để sang đây. Trong lúc đang rất lo lắng, cô vẫn nhìn thấy chàng trai có đôi mắt hình bọ cam. Anh ta đưa mắt nhìn cô công nhân Việt rồi nhìn sang người cha.
Anh ta hỏi cha mình bằng thứ tiếng Seoul rất trầm:
“Sao vậy cha?”
Lão chủ khoát tay:
“Lũ mọi ăn vụng trong chỗ ở”.
Anh ta nhìn xoáy vào mắt cô:
“Mọi ư?”
Cô nhìn người con trai Hàn. Cái nhìn thẳng. Đôi mắt cô ánh lên thứ thép lạnh mượt như nhung.
Anh ta bỗng nhiên mỉm cười:
“Ne, Moo Eeo Sil Do Wa Deu Ril Kka Yo?” (Tôi có thể giúp gì được cho cô?)
Cô lắc đầu, ngoảnh mặt ra chỗ khác.
Anh ta nói qua nói lại gì đó với người cha. Lão chủ lúc lắc cái đầu mập ú nơi cổ. Lát sau người con trai có đôi mắt hình bọ cam nhún vai nhìn cô:
“Jwe Song Ham Ni Da!” (Xin lỗi, rất tiếc…!)
Một người bạn gái cùng xưởng làm thì thào với cô trong giờ làm việc buổi chiều:
“Chắc bạn không biết, may có con trai lão ấy đến đúng vào lúc ấy, nếu không bạn sẽ bị…”
Cô không hiểu? Cô vẫn chưa hiểu gì hết. Xứ này vẫn rất tuyệt đẹp với những chuyến tàu tốc hành, những ga tàu điện ngầm, những dải biệt thự xanh mờ góc trời. Cô kiên nhẫn cắt từng mũi chỉ. Người bạn lại thì thào:
“Cứ nghe tôi nói nhé, đừng ngoảnh sang nhìn mà chúng nó biết đấy. Nếu bạn biết là đã có hàng chục công nhân nữ người Việt chúng ta bị lão ấy cưỡng hiếp…”
Cô choáng váng, tưởng đâu như mình nghe lầm.
“Lão ấy sẽ trừ lương ba tháng liền cũng với những tội như của bạn nếu bạn không xinh xắn như thế này. Còn nếu trừ lương một tháng thì ngày mai bạn sẽ lại bị gọi lên cái phòng ấy. Lão sẽ cài chặt cửa. Không ai nghe thấy gì hết. Lão sẽ quật bạn xuống cái bàn, bật tung áo quần bạn. Nếu bạn chống trả, lão sẽ với cái gạt tàn bằng đá đập vào trán bạn. Nếu bạn phục tùng, lão sẽ cho bạn hai bộ quần áo rất đẹp. Có thể là một cái áo lông. Thêm một cái lắc vàng mười bốn ka-ra nạm khá nhiều đá quý, nếu bạn còn là trinh nữ… Cái lắc này chẳng thể đem bán vì bây giờ để biết được đá thật đá giả khó như leo sang sườn bên kia của núi Bắc Hàn. Cái lắc này chỉ có thể đeo nó khi lão đã ban cho”.
Cô hoảng hốt nhìn quanh xưởng. Người bạn vẫn đang nói như kể lể sự tình với chính mình:
“Con trai lão ấy khá đẹp trai đấy. Anh ta đang học ở một trường đại học có tiếng ở Seoul, trường này được tập đoàn Sam-sung bảo trợ. Bạn có nghe thấy gì không đấy? Đã có lúc tôi mơ tưởng anh ta đấy. Tôi tưởng tượng cảnh làm anh ta si mê mình, rồi thì…”
Cô thì thào hỏi:
“Vậy sao?”
Người kia không trả lời. Cô ta quay mặt vào công việc
của mình.
Nhưng cô vẫn còn nghe thấy trong cái xưởng may lao xao này tiếng của những người nữ công nhân đồng hương của cô:
“Lão ta trước từng sống ở Việt Nam. Lão ta rất mê Sài Gòn. Cô nhớ giữ mình, đừng ốm, cũng đừng trình bày gì, đừng gây hoả hoạn. Nói chung, đừng bao giờ dẫn đến việc phải lên văn phòng để bị lão trừ lương. Nếu có gặp chuyện gì cũng đừng để nước mắt rơi. Đừng để nước mắt rơi…”
Cô nom thấy trên tay cô bạn ban nãy một cái lắc vàng non nạm đá đỏ. Nhưng khi cô nhìn thấy nó, cái lắc như đang mờ đi trong ánh đèn nê ông của xưởng may. Cô sợ hãi lùi sâu hơn vào đống áo quần đang chờ cắt chỉ.
Tối đến, nghĩa là khi đã được nghỉ, họ không có gì để giải trí ngoài cái ti vi cóc ghẻ đặt xem chung ở phòng ăn. Mà ti vi chương trình Hàn, chỉ có thể xem hình đoán lời. Cũng có thể hiểu đôi chút những câu chuyện tình diễm lệ và đầy bệnh tật nước mắt của các nhân vật. Công nhận diễn viên Hàn đóng phim hay quá, như thật ấy. Chuyện chẳng thấy có gì mấy (thậm chí nào ai đã nghe đã hiểu được ngần ấy từ khó ghê người), mà vẫn cứ sụt sịt sụt sịt theo. Dần dần thì cánh công nhân Việt cũng học được qua quýt những tiếng Hàn bồi. Họ có thể nói những lời cảm ơn, xin lỗi, vâng, không hiểu, đắt, nhanh lên…
Có một lần cô bỗng vớ được một quyển thơ tiếng Hàn ai đó để quên trên bệ cửa sổ phòng ăn. Cô cầm lên tay, lật qua lật lại cuốn sách. Rồi lần giở từng trang. Cô cầm về phòng mình, lấy cuốn từ điển Hàn Việt ra tự tra một vài ký tự. Hoá ra đây là một cuốn thơ cổ. Giấy đã ngả màu vàng xỉn, chứng tỏ cuốn sách đã cũ kỹ lắm rồi. Hình như người ta lôi ra phòng ăn để lót tay cái xoong canh kim chi. Nhiều chỗ giấy bị xé ngang, mất khối tờ ở trong.
Mãi sau này khi đã biết chút ít tiếng Hàn, cô mới đọc được đôi chữ trong hàng đống bài thơ Hàn cổ. Nhưng mà cũng phải mãi đến khi cô sang lại bên này nhờ sự giúp đỡ của một tổ chức doanh nhân Hàn (họ đầu tư cho cô học tiếng Hàn để làm phiên dịch cho họ), khi cô đã gặp gỡ và trò chuyện cùng người con trai của ông chủ cũ ngay bên hành lang của khu giảng đường học tiếng Hàn dành cho người nước ngoài, khi ấy anh cũng đã biết tiếng Việt chút ít. Khi đã qua giây phút ngạc nhiên gặp lại cô gái trong xưởng may, anh hồ hởi nói đủ thứ chuyện. Họ nói chuyện cùng nhau vào những giờ nghỉ giải lao, anh là giảng viên dạy tiếng Hàn, còn cô là học viên lớp trình độ B, anh cho cô xem văn bản những bài thơ mà anh rất thích của một nhà thơ cổ Hàn Quốc đã được dịch ra tiếng Việt, cô mới vỡ ra những ý nghĩa của các ký tự mà cô hầu như đã thuộc trong cuốn sách bên bệ cửa sổ phòng ăn năm xưa.
Hai bên đồi đầy hoa
Chin-tal-le đẹp quá,
Hái hoa em dâng tặng,
Rắc đường anh đi qua…*
Cô ngẫm ngợi về những câu thơ. Nó được phát âm qua giọng của một người con trai trẻ. Cô nghĩ nếu ngày ấy anh không vô tình bước vào phòng lão chủ, nếu anh không nhìn thấy ánh mắt lạnh mà mượt như nhung của cô, liệu lão ấy có làm những chuyện như cô bạn cùng xưởng đã kể? Cô luôn luôn có cảm giác gai người khi đứng cạnh người con trai lão chủ cũ, mặc dù cô cũng rất muốn gặp anh. Có gì đó không được tự nhiên giữa họ. Một hôm cô bỗng nhiên nghĩ ra một điều, có thể cái ngăn cách họ đó là ánh đỏ của những viên đá xa-phia lấp lánh trên tay cô bạn cùng xưởng.
Lão chủ cũ vẫn luôn nhắn cô về làm lại ở xưởng. Lão sẽ trả công cao hơn ngày trước. Lão sẽ cho cô thời gian đi học. Lão cảnh báo cho cô biết về cái tổ chức đang tài trợ cho cô thực chất ở bên Hàn là một tổ chức chưa có thương hiệu, rằng bên này có rất nhiều những tổ chức đại loại như những ổ môi giới tìm kiếm cô dâu Việt, ổ đào tạo gái các nước phục vụ các đại gia… Nếu may mắn hơn, thì sẽ là những chân phiên dịch kiêm gái bao cho các ông chủ. Lão còn bảo gái Việt trẻ dai, không nhanh già như gái Hàn. Lại còn mỏng mảnh như cánh hoa, nên dễ bị người ngắt. Lão cười cười khi cho cô biết những thông tin “nội bộ” này. Thực ra cũng chỉ có lão mới dám nói cho công nhân của mình nghe những chuyện như vậy. Lão nói bằng cái giọng thô tục và chờn vờn. Lại cố ý khẳng định sự ưu ái của mình với những cô gái đến từ phương Nam xa xôi. Lẽ dĩ nhiên khi một cô gái không nơi bấu víu thì lão chính là cứu cánh.
Mới tháng trước cảnh sát Hàn khua một lượt khắp khu vực NamDaemun cho đến khu vực Myeongdong, dồn được hàng trăm lao động Việt lưu vong. Nghe nói mỗi chủ thuê tuỳ theo mức độ đã phải chịu phạt từ mười triệu đến hai mươi triệu won. Cũng có người không chịu khai ra chủ thuê mình. Nhưng tất cả số lao động lưu vong này đều bị giam giữ nửa tháng rồi bị trục xuất.
Hôm đó cô đang đi lang thang ở NamDaemun Marker. Cô đi đến khu vực này bằng subway theo đường line số 4, đến bến chợ, cô theo lối thoát 5 lên mặt phố. Khu vực này nổi tiếng ở Seoul bởi rất nhiều siêu thị lớn nhỏ, chợ đêm, hàng hóa đủ thể loại, quần áo từ mốt bình dân đến mốt xa xỉ, đồ gia dụng, đồ trang sức… tràn ngập. Đặc biệt là hàng dãy cửa hàng bán sâm, nhung, linh chi… và những biệt dược mà người Việt rất chuộng. Cô cứ tần ngần đứng trước một gian hàng sáng choang treo đầy áo lông thú. Chao ôi, những chiếc áo lông mới đẹp làm sao. Cả đời cô chắc chỉ dám ước ao có được một chiếc. Đây kia, nó nằm lẫn trong đám áo lông các loại đều cùng màu đen. Nó là một chiếc áo lông chồn rất nhẹ nhàng và quyến rũ. Cô giơ tay ra vuốt nhẹ chiếc áo, dường như mùi thơm của loài chồn hương vẫn còn thoang thoảng. Cô nhìn cái áo một lúc rồi đành phải bước đi.
Khi đó, một tốp cảnh sát mặc thường phục ào vào chợ. Họ xoáy mắt nhìn những cô gái những chàng trai xa lạ, không giống cái phom của người Hàn. Họ mời đứng lại xin phép được kiểm tra giấy tờ. Họ giải thích bằng tiếng Hàn rồi bằng thứ tiếng Anh nặng trịch. Người nghe không hiểu gì nghĩa là chắc chắn không phải người Hàn. Họ gom lại từng nhóm đưa lên xe mất hút.
Cô lủi vào trong một cái rest-room, chờ cho tốp người đi khuất rồi vội vã trở ra khu chợ đông đúc nhất, dễ trà trộn nhất. Bỗng nhiên có ai đó kéo tay cô rất mạnh. Cô nhìn sang, thực ra cô cũng chưa kịp nhìn thấy gì thì đã bị cái tay đó kéo chạy đi rất nhanh. Đó là tay lái xe của lão chủ cũ. Cô cố gắng giật tay lại. Nhưng gã kia vừa thở hổn hển vừa nói một tràng tiếng Hàn. Khi ấy cô mới chỉ kịp hiểu ra có một đôi ba ý: cảnh sát, giấy tờ không hợp lệ, trốn… Gã lôi cô gần như là ném lên ghế sau chiếc xe hơi đen bóng của lão chủ cũ. Lão này đang ngồi ngay cạnh, nhăn mũi. Lão lại nhắc mấy từ: cảnh sát, giấy tờ không hợp lệ, trốn… Cô cáu tiết bảo tôi không phải không có giấy tờ, tôi đã có sổ đỏ tạm trú hai năm, nhưng tôi không thích gặp cảnh sát Hàn của nhà lão. Cô cũng không tự hỏi vì sao lão lại biết cô đang ở chỗ này. Cô đang cố tìm hiểu sao lão cứ xuất hiện trước mắt cô, dường như muốn tranh giành vị thế với con trai lão vậy.
Chiếc xe đưa cô đến văn phòng làm việc của lão. Cô không ngờ mới hai năm cô không đến, nơi xưởng cũ chỉ còn có một vạt đất là quen thuộc, còn lại đã là một khu xưởng sang trọng, văn phòng nằm tách riêng, xung quanh có những vồng dây leo rất đẹp.
Đã có sẵn phiên dịch biết chút ít tiếng Việt. Hôm đó cô được lão chủ cũ trọng thị mời về làm ngoài giờ đi học, với mức lương cao ngất ngưởng so với mức sinh hoạt của một sinh viên như cô: tám mươi ngàn won nửa ngày công*.
Khi đã bình tĩnh trở lại, cô bỗng hiểu và trao đổi khá lưu loát bằng tiếng Hàn với lão chủ cũ, thi thoảng mới phải nhờ đến tay biết tiếng Việt chút ít kia. Lão mừng lắm, nói rằng nếu cô giúp lão giao dịch được những cuộc giao dịch thành công thì lão còn có thưởng. Cô bảo, cô đi làm thế này thì coi như trốn những người ở Trung tâm kia đã bỏ tiền ra nuôi cô ăn học. Lão suy nghĩ một lúc rồi bảo lão sẽ gặp thương lượng trực tiếp với Trung tâm đó. Lão sẽ trả một cái giá thật cao giúp cô rút khỏi danh sách được ưu ái ở bên đó. Lão bảo cô chớ có tiếc cái chỗ đó, vì trước mắt cô không thể hiểu lòng dạ những thị dân lớn lên từ bùn đen và đá núi xứ kim chi. Nhưng, lão nhắc, cô đừng có nói chuyện ốm đau, cha mẹ già yếu… với lão. Và tương lai cô chính là người sẽ giúp lão sang làm ăn ở Việt Nam. Lão dự định sẽ mở rộng thị trường may mặc sang đó. Chắc chắn mốt Hàn vẫn cứ tiếp tục ăn khách ở quê hương cô.
Cô biết những người chủ lao động xứ này không chỉ khắc nghiệt với người làm thuê. Họ còn khắc nghiệt với chính bản thân mình. Nhiều chủ xưởng có đến năm sáu xưởng may, hay làm giày, đồ trang sức mỹ ký… ngày ngày vẫn đến một trong các xưởng cùng ngồi làm việc với công nhân. Làm cả ngày chỉ dám nghỉ nửa tiếng ăn trưa. Nếu xưởng đến mùa hết việc, lập tức họ đi tìm ngay việc cho chính mình và công nhân của mình ở những xưởng khác. Họ lao vào làm, tay chân nứt toác y như người làm thuê.
Mọi việc sau đó được sắp xếp ngoạn mục đến nỗi chính cô cũng không thể ngờ. Trung tâm đã nuôi cô ăn học hàng năm trời đồng ý nhận tiền bồi thường. Thực chất chẳng khác mấy so với dự đoán của lão chủ, họ nuôi những cô gái ăn rồi học tiếng Hàn cũng chỉ là để có những nơi “mua” các cô đi như thế này. Mà học hành càng giỏi giang, càng mang dáng dấp trí thức thì giá càng cao.
Con trai lão chủ nhận với trường dạy tiếng nơi cô học rằng cô có chút họ hàng với nhà anh, rằng anh chính là hậu duệ của Lý Long Tường hoàng tử xưa của nước Việt lưu bạt sang xứ sở kim chi này. Lão chủ trả tiền bồi thường, khoái chí vì sáng kiến nhận sằng dòng dõi cao sang của con trai.
Cô viết thư về cho cha mẹ, kể qua loa cuộc sống mới. Hàng sáng cô vẫn gặp người con trai lão chủ bên hành lang sảnh đường. Anh giảng giải tiếp cho cô nghe ý nghĩa của những câu thơ trong cái bài thơ đang dịch dở dang:
Khi anh đã chán chường
Bỏ em mà rời xa
Lòng em, dù khắc khoải.
Cũng không khóc đâu mà…
Nhưng tất cả những lời giảng giải của anh giờ đây lại mang sắc thái khác. Cô ngờ rằng anh đang hối thúc cô phải nắm càng nhanh càng tốt những từ những ngữ tượng hình khó nhằn này. Khoảng cách giữa họ giờ đây gần hơn một chút. Nhưng những cành lá kim-sam vàng bay bay trước khung kính hành lang sảnh đường không làm cô rối trí như trước.
Giữa những cuộc trò chuyện như vậy, có khi là một cuộc gọi gấp gáp của mấy cô bạn cùng xưởng mấy năm trước, nay đã là dân lưu vong:
“T ơi, con Phương bị tóm rồi. Hình như thằng Hoán nó thù nên đã báo cho cảnh sát biết chỗ ở. Chỉ một tuần nữa là nó bị tống lên máy bay về quê. Về quê thì biết làm gì để trả món nợ mua suất đi. T ơi, cậu còn có cái cuốn sổ đỏ, chúng tớ thì đã lê những tháng ngày đẹp nhất trên xứ sở Cao Ly này, hàng ngày chạy trốn đủ thứ: cảnh sát, những nơi công cộng, đám đông. Chúng tớ không còn biết đến chữ “công dân”, “chính quyền”, “công sở” bao nhiêu lâu rồi”.
“Mày ơi, con Hồng đẻ con rồi. Con trai. Nó đang tìm người nhận bế thuê con nó về nước. Vẫn giá ấy thôi, một ngàn đô sau khi trao được con nó cho người nhà đón ở sân bay. Có mối nào thì mách nhé”.
Cô ngập ngừng:
“Sắp có người về đấy. Nhưng là đi theo đoàn để phiên dịch”.
Bên kia năn nỉ:
“Cố lên. Có cách gì tiếp cận với trưởng đoàn không? Nó không gửi được con về nhờ ông bà nuôi thì vợ chồng nó chết sặc. Trốn chui trốn lủi lại còn con nhỏ. Làm sao đây?”
Anh con trai lão chủ cứ đứng im phắc đợi cô.
Cô chóng mặt. Nhưng may là đã đến giờ vào lớp nên anh con trai lão chủ không thấy nét mặt cô đang tái mét lại.
Sau giờ học, khi chưa phải đến văn phòng của lão chủ để phiên dịch cho lão, cô lại lang thang lên NamDaemun Marker. Cô cứ loanh quanh mãi bên cái gian hàng sáng choang treo đầy áo lông thú kia. Chiếc áo cô thích vẫn nằm lẫn trong đám áo lông các loại đều cùng màu đen. Cô chợt nghĩ hình như cái áo lông này rất quen thuộc với cô, như là cô đã gặp nó ở đâu vậy. Chẳng nhẽ áo cũng có linh hồn. Cô chủ bán hàng nhìn cô lạnh lẽo. Cô bước đi sang gian hàng khác rồi sau đó cô không quay lại đấy một lần nào nữa.
Một ngày cô chợt nhận ra mình đã quen với sự có mặt của người con trai lão chủ. Mỗi cảnh sắc tuyệt đẹp mở ra dưới bầu trời, dường như đều có hơi thở và giọng nói hấp dẫn của anh bên cạnh. Cô cảm thấy mình nên cởi mở hơn với lão chủ, người trên thực tế hiện nay đang giúp cô hơn hẳn nhiều cô gái Việt khác. Cô soi gương, nhận ra dạo này nước da mình đã trắng trẻo và mịn màng hơn hồi ở nhà. Vẻ mảnh mai của cô từ khi nào đã tràn khắp từng tế bào, tạo nên một vóc dáng nhẹ nhàng quyến rũ. Cô chẳng có gì phải lo lắng ngoài những bài học tiếng để quyết tâm trở thành một phiên dịch giỏi về lĩnh vực kinh tế. Cô còn tìm đọc những cuốn sách kinh tế viết bằng tiếng Anh được dịch ra tiếng Hàn. Cô biết mình không sánh được với những sinh viên ở bên nhà sang đây học đại học, nhưng họ lại thua cô về thực tế ở đây.
Hôm đó, cô phải cùng lão chủ tiếp khách của công ty. Khách là ba doanh nhân dưới Bu-san lên. Cô không phải làm phiên dịch, nhưng lão chủ bảo đây là dịp cho cô luyện tiếng. Thời tiết hôm đó ở Seoul rất lạnh, dưới hai độ. Phòng ăn xinh xắn được lát gỗ ấm sực nhờ hệ thống sưởi phía dưới. Năm người họ rất vui vẻ. Họ ngồi xếp bằng ăn món vịt quay cuốn kẹp kim chi. Sau đó vào phòng karaoke. Vừa hát vừa uống rượu sô-chu. Họ ngợi ca vẻ đẹp của cô. Ba người đàn ông cộng lão chủ và một cô gái mảnh mai thuần nét phương Nam nói tiếng Hàn uyển chuyển tuy vẫn còn hơi ngọng nghịu. Ba người đàn ông cộng lão chủ khen ngợi sự thông minh của cô gái Việt. Cô nghĩ ngày ở nhà có nằm mơ cô cũng không bao giờ hình dung có ngày mình lại được đứng vào hàng ngũ “có học vấn” như giờ đây.
Cô còn lâng lâng như thế khi ngồi trên xe lão chủ để về. Cảm giác lâng lâng theo đuổi cô mang dáng hình một người con trai Hàn. Anh đang cúi xuống bên cô. Cô cảm thấy hơi thở của anh. Đôi môi anh. Những vần thơ trượt về bên cô ngọt ngào. Hai bên đồi đầy hoa. Chin-tal-le đẹp quá…
Cô vươn người đón nhận nụ hôn. Cô cố nhoài người đón tiếp những nụ hôn cuồng nhiệt có mùi rượu sô-chu. Cô không muốn khép lòng mình với người con trai này nữa. Cô cần anh. Cô đã quen với sự có mặt hàng ngày của anh mất rồi. Cô cảm nhận sức nặng của anh ập xuống, mạnh và dồn dập, khiến cô đau đớn và ngạc nhiên thấy mình thoả mãn vì sự đau đớn này.
Khi cô tỉnh dậy, thấy mình vẫn đang nằm dài trên chiếc ghế sau của chiếc xe. Váy áo nhàu nhĩ. Lão chủ ngồi đốt thuốc sau tay lái, im lặng. Cô nhỏm dậy, cố nhớ lại mọi việc.
Lão chủ nhả hơi thuốc xong, quay lại nhìn cô:
“Cô thật dẻo dai. Hiếm gái Việt nào được như cô”.
Cô muốn băm nát bộ mặt lão. Muốn gào to lên. Muốn khóc và cào nát thân thể mình.
Lão chủ nhẹ nhàng:
“Thực ra đàn ông ai cũng thế thôi, bất kể trẻ hay già, trí thức hay không trí thức…”
Tiếng gió lao xao bên ngoài trời đêm Seoul. Trên bầu trời có những vì sao đang đổi ngôi. Dưới kia sông Hàn đang cuồn cuộn chảy.
Cô mở cửa xe, muốn chạy xuống dòng sông ấy. Lão chủ vẫn nhẹ nhàng, trời ơi cái giọng ấy hồi trẻ chắc cũng y hệt người con trai:
“Cô đừng phí phạm thế. Thân thể cô có giá lắm. Trí tuệ cô còn có giá gấp đôi. Cô cứ vui vẻ sống. Làm việc cho tôi trung thành. Vài năm nữa cô sẽ có một gia sản đáng giá khi về nước. Nghe nói bên đó mà có được căn biệt thự và tiền gửi ngân hàng thì đàn ông xua không hết. Cô sẽ chọn một thằng đàn ông nào đó đẹp mã như thằng Lee nhà tôi mà làm chồng. Nếu thích cảm giác với tôi, cô chỉ cần gọi một tiếng, tôi sẽ bay ngay sang Việt Nam”.
Lần này thì lão phá lên cười thỏa mãn.
Rồi lại tiếp:
“Ngày trước cũng có một cô gái Việt đẹp như cô. Nhưng có lẽ khôn hơn cô. Cô ta nay là vợ nhỏ của một tay chủ tập đoàn Lt. ở Jeonju. Họ có một khu nhà nghỉ tuyệt đẹp ở Ganghwa…”.Cô bỗng nhớ lại từng lời của người con trai lão chủ hôm nào:
“Tay chủ tập đoàn Lt. đã từng đón tiếp tôi khá sang trọng tại một trong những khách sạn Lt. sang trọng nhất. Khi chúng tôi đến, ngoài cửa là một biểu tượng Lt. được khắc bằng đá lạnh, nước đá lạnh chảy lóng lánh trên sàn đá hoa cương. Hàng chục thư ký cao to cổ cồn sáng bóng đi ngay sau ông ta. Còn đi bên cạnh ông là một phiên dịch, một cô gái Việt đẹp kỳ ảo. Tôi nhận ra đó là cô gái đã từng làm thuê cho xưởng của cha tôi…”
Cô cố ngăn dòng nước mắt.
Khi lão đẩy cô vào khu phòng thuê, trong cơn chếnh choáng cô vẫn nhìn thấy một cái bọc gì đó treo phía ngoài cửa. Cô với cái bọc, bóc lá thư. Một dòng chữ Hàn khá đẹp hiện lên trước ánh mắt ngạc nhiên của cô: “Tặng em vì tôi biết em thích cái áo này”.
Cô run lên.
Cô muốn bật đèn, xem thử cái áo đó. Nhưng cái công tắc vẫn cứ trơ lì ở tận nơi nào trong vũ trụ vô hình không trăng sao, không có lá cây kim-sam vàng bay bay trước khung kính hành lang sảnh đường. Cô đã chết lặng trong bóng tối rất lâu. Rồi cô lần tới từng nhích một. Giơ tay ra sờ vào cái bọc. Cô nắn thấy lớp lông mềm mại của loài chồn. Thoang thoảng một mùi hương xạ. Một chiếc áo lông chồn màu đen hiện trên hai tay cô trong bầu trời đêm bàng bạc của cái thành phố xứ ôn đới.
Cô chợt nhớ ra người đàn bà Việt mà cô đã gặp ở sân bay ngày ấy. Người đàn bà mặc một chiếc áo lông chồn đen giống hệt chiếc áo mà cô thích.
Cô nghĩ rằng mình cần phải đi tìm bằng được người ấy.
Giữa hai đùi cô khi đó đã khô khốc.
Chỉ còn hai hố mắt đen ngòm nhìn trừng trừng vào màn đêm Seoul.
V.T.X.H
_______
*Thơ Kim Sô Uôd-Nhà thơ Hàn Quốc cổ.
*Chin-tal-le: loài cây mọc tự nhiên khắp nơi ở Hàn Quốc, có thể sống ở nơi đất cằn cỗi. Mùa xuân, nở hoa sớm nhất, lá mọc sau khi hoa nở, báo hiệu mùa xuân.
*Tương đương 80 USD




