Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 15/04/2026 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Kỷ vật

Ô

ng Chung với tay chống lại tấm liếp cửa vừa bị gió đánh sập. Ông nhướng mắt nhìn ra cánh đồng. Năm nay lụt tiểu mãn về sớm, mùa màng phải thu hoạch non, xem chừng thất thu lắm. Bất giác ông buông tiếng thở dài. Mặt ruộng còn lênh láng nước, chưa ai dám cày bừa vì sợ cày nước thì mùa tới lúa non chết rốc nên đồng vắng tanh. Đồng vắng người làm thì quán ông cũng rất ít khách. Sau ngày rời trại nuôi dưỡng thương binh về sống chung với gia đình, ông mở cái quán nhỏ dưới gốc đa đầu làng này. Quán đơn sơ chỉ ấm nước chè xanh đặc quánh, dăm gói thuốc lào, ít kẹo lạc và vò rượu. Quán ông chủ yếu phục vụ cho bà con trong làng lúc ra đồng hoặc khi đi làm về. "ngồi nhà cũng buồn, mở quán cốt để khuây khỏa". Ông thường nói với mọi người như thế. Thấy nhạt miệng, ông Chung rót một chén rượu nhỏ. Ông nhấp từng tí một như cố tận hưởng hết cái hương vị cay, nồng thơm thảo được chưng cất từ gạo nếp quê ông. Uống xong chén rượu ông giơ cái cùi tay bị cụt lên chùi mép. Còn cánh tay lành lặn thì rút tập thơ viết tay của liệt sĩ Hoàng để trong cái túi dết đã sờn rách treo ở cột vách rồi ngả mình lên chiếc chõng tre. Ông đã gìn giữ, nâng niu tập thơ suốt hơn ba mươi năm và luôn thấy trong lòng một nỗi niềm day dứt. Ông nâng tập thơ lên ngắm nghía, khuôn mặt rạng rỡ hẳn lên. Đó là thói quen của ông trước khi mở tập thơ ra đọc. Ông thận trọng lật từng trang đọc rất chăm chú mặc dù ông đã đọc bài thơ này có đến hàng ngàn lần và thuộc lòng từng dấu chấm, dấu phẩy. Hơi men ngấm vào huyết quản khiến ông thấy trong người rần rật, lâng lâng. Không hiểu sao ông gấp tập thơ lại rồi đặt nhẹ lên ngực, hai mắt nhắm nghiền. Đó là những lúc ông thả hồn về những năm tháng ký ức.

Đang học dỡ cấp ba thì Trần Chung tình nguyện tòng quân. Sau ba tháng huấn luyện ở Khe Lang, anh được bổ sung vào một đơn vị bộ binh, ngày đêm gấp rút hành quân ra mặt trận.. Vào đến chiến trường vừa kịp tham gia vài trận đánh thì anh được cấp trên giao nhiệm vụ canh giữ kho vũ khí bí mật ém trong một hang đá lớn giữa rừng Trường Sơn.. Những ngày đầu một mình sống giữa cảnh núi rừng trùng điệp, Chung luôn mang một tâm trạng nơm nớp, lo âu. Tiếng vượn hú nỉ non, tiếng kêu kỳ dị của các loài muông thú chốn sơn lâm khiến anh nhiều đêm không chợp mắt. Nhưng dần dà rồi cũng quen. Anh thực sự mừng vui khi có giao liên dẫn các chiến sĩ đến kho nhận vũ khí bổ sung cho các đơn vị. May có cuốn lịch tay của cô giao liên cho, nếu không thì anh cũng chẳng biết mô tê ngày tháng nào nữa. Những cơn sốt rét quái ác đã rút dần cái thân thể cường tráng của chàng trai miền quê vốn quen tay cày, tay cuốc này... Một buổi trưa, anh chợt nghe tiếng súng bộ binh rộ lên phía bên kia cánh rừng. Chung đoán là bọn thám báo Mỹ đang đụng phải anh em đàng mình. Chung vội đi kiểm tra lại các bãi mìn được bố trí bảo vệ kho ở vòng ngoài. Biết đâu cái bọn mũi lõ mắt xanh ấy chẳng lần tới được đây. Sau khi đã thấy yên tâm, Chung ngồi dựa lưng vào một gốc cây lim lớn lấy lương khô ra ăn. Hơn hai tháng rồi chưa có đơn vị nào vào nhận vũ khí nên số gạo dự trữ của anh đã hết. Ăn xong, Chung trèo lên cây săng lẻ cao để quan sát. Không có gì khác thường cả. Rừng vẫn trải một màu xanh bạt ngàn, trùng điệp. Anh cứ ôm súng ngồi gác trên ngọn cây như thế cho đến khi trời tối hẳn mới tụt xống lần về kho. Đi được một quảng, anh dừng lại nghe ngóng. Hình như có tiếng rên khe khẽ từ sau một mỏm đá lớn. Kẹp chặt súng, Chung thận trọng bò về hướng đó. Núp sau một cây săng lẻ anh căng mắt ra nhìn. Một bóng đen nằm co quắp, bất động. Chắc là có người bị thương trong trận đọ súng ban trưa nhưng không biết là ta hay địch. Chung nghĩ thế và thận trọng quan sát bốn phía chung quanh, anh nhích dần lên, cách bóng đen chừng năm bước chân, bất thình lình anh chồm dậy, dí sát họng súng vào cái thân thể bất động kia và quát:

- Ai? Nhúc nhích tao bắn!

 Bóng đen cựa quậy, hình như anh ta muốn gượng dậy nhưng không đủ sức. Chung cúi xuống và anh nhận ra chiếc mũ tai bèo úp trên bụng anh ta. Biết chắc là chiến sĩ quân Giải phóng, Chung quì xuống lắc nhẹ vào vai anh:

- Đồng chí bị thương ở đâu?

Anh chiến sĩ khẽ rên lên một tiếng, giọng thì thào, đứt quảng:

- Khát...Khát... quá... Cho tôi... ngụm nước...

- Đây không có nước. tôi đưa đồng chí về kho nhé. - Chung vừa nói vừa choàng khẩu súng lên vai rồi gắng hết sức bình sinh bế người chiến sĩ về kho vũ khí. Đặt được người lính lên cái sạp nứa, Chung mệt cả hơi. Anh quẹt diêm châm vào cái đèn dầu làm bằng vỏ đạn. Quầng ánh sáng bừng lên soi rõ cả khuôn mặt người thương binh. Anh còn rất trẻ, chắc cũng vừa mới nhập ngũ năm nay thôi. Anh lại thì thào xin nước. Chung rót nước vào cái nắp bi đông rồi ghé vào miệng anh. Người thương binh nuốt ừng ực từng ngụm. Uống xong, chừng như tỉnh táo hơn. Anh nhìn Chung bằng một ánh mắt đằm thắm, tin yêu. Chung mở túi thuốc cá nhân băng vết thương cho anh. Một lỗ thủng đút lọt ngón tay cái khoan sâu vào ổ bụng. Chắc hẳn đây là viên đạn cạc-bin bắn thẳng. Đã ép lên đó hai cuộn bông mà Chung vẫn thấy máu rịn qua hai lớp băng. Tiếng người chiến sĩ lại thì thào:

- Anh đừng... băng nữa... em... không... không sống... nổi... đâu... Nếu... sau này... có dịp... về...Nghệ An... anh trao... dùm Hương... tập... tập thơ... em tặng... cô... cô ấy... Cô ấy đã mang thai. Chúng... em... chưa kịp làm...lễ... cưới. Chắc... mẹ con...cô...cô ấy... khổ... lắm... Em... thương...

Nói đến đó tiếng anh bỗng nghẹn lại, ánh mắt đờ đẫn rồi hai mí mắt từ từ khép lại. Chung hốt hoảng lay gọi mãi nhưng người chiến sĩ đã tắt thở. Ôm thi thể đồng đội còn nóng ấm trên tay, Chung không cầm được nước mắt, khóc nấc lên. Tìm trong túi áo người liệt sĩ, Chung thấy một quyển sổ ghi đầy thơ và một cây bút Trường Sơn gần hết mực. Trang đầu cuốn sổ được ghi một dòng chữ: "Yêu mến tặng Mai Hương và con". Chung tìm một mô đất cao, bằng phẳng bên cạnh một khối đá lớn có hình na ná giống con ngựa để an táng người đồng chí. Anh cúi đầu khấn trước phần mộ mà tưởng như nói với người đang sống: "Đồng chí ơi! Đồng chí sống khôn chết thiêng phù hộ cho kho vũ khí anh em đồng đội được an toàn. Tôi xin hứa trước vong linh đồng chí, đến ngày chiến thắng còn may mắn trở về nhất định tôi sẽ tìm gặp được Hương. Tôi sẽ trao kỷ vật của đồng chí cho cô ấy và kể cho cô ấy nghe những giây phút thiêng liêng này". Mãi khi mở tập thơ ra đọc, Chung mới biết tên của người liệt sĩ là Nguyễn Hoàng. Tên của anh được ghi cuối cuốn sổ, ép trong cuốn sổ có tấm hình một cô gái rất xinh. Mặt sau bức ảnh có ghi dòng chữ: "Tăng anh yêu dấu, trọn đời thủy chung. Mai Hương". Chung thấy thất vọng vì trong cuốn sổ và tấm ảnh hai người đều không để lại một dòng địa chỉ cụ thể nào. Điều đó rất khó khăn khi thực hiện lời trăn trối của Hoàng. Gần nửa năm sau, Chung mới có người thay thế và anh được bổ sung vào một đơn vị chiến đấu. Những bài thơ trong cuốn sổ của Hoàng được anh em trong đại đội rất trân trọng, không có anh nào là không thuộc một đến hai bài. Mấy cậu lính trẻ khi đọc những bài thơ đề tặng người yêu, người mẹ già ở quê nét mặt cứ thẩn thờ, xem chừng cảm động lắm. Có những bài thơ viết rất chân thật mà khi đọc cứ xao xuyến lòng người. Trong mỗi cuộc họp, buổi liên hoan văn nghệ và ngay cả khi giữa hai trận đánh anh em thường ngâm thơ của Hoàng. Có anh nhà văn về đại đội của Chung để lấy tư liệu viết phóng sự mặt trận rất thích tập thơ này. Anh đọc rất say mê, đầu cứ gật gù. Đọc hết trang cuối cùng, anh thốt lên: "Thế mới là thơ chứ!". Anh nói với Chung bằng một giọng buồn buồn: "Hoàng viết giỏi lắm. Có những tứ thơ xuất thần đến tài hoa, độc đáo. Mình tin rằng một trăm năm sau nếu ai đọc lại những bài thơ này hẳn sẽ hình dung, cảm nhận ra tất cả những gì oanh liệt cùng sự gian khổ, hy sinh và tình cảm của người lính chúng ta đã xả thân trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước hôm nay. Rất tiếc là cậu ta hy sinh khi còn quá trẻ. Đồng chí có thể giao cho tôi tập thơ này, tôi gửi về Nhà xuất bản Giải phóng, thế nào cũng được in". Sau khi nghe Chung thuật lại lời trăn trối của Hoàng là nhờ Chung trao tận tay Mai Hương cuốn sổ thơ này thì anh nhà văn đã hí hoáy chép lại cả tập thơ. Nhưng anh cũng không thực hiện được ý định đó. Mấy ngày sau anh đã hy sinh bởi một đợt pháo bầy của địch bắn tới khi anh đang kê tập bản thảo lên đầu gối viết trang cuối cùng của thiên phóng sự. Cuối năm 1972, Chung bị thương nặng và được chuyển ra Bắc. Gặp người lính nào anh cũng hỏi thăm về đơn vị của Hoàng. Gặp người thân nào ở Nghệ An anh cũng giơ tấm ảnh của Mai Hương lên hỏi nhưng ai cũng lắc đầu. Thấm thoắt mà đã hơn ba mươi năm trôi qua. Chung đã lên chức ông từ năm ngoái khi mà vợ chồng đứa con trai đầu đã sinh cho ông một cậu quý tử đích tôn bụ bẩm, kháu khỉnh. Thế mà lời hứa của ông với vong linh liệt sĩ Hoàng vẫn chưa thực hiện được và luôn canh cánh trong lòng. Hoàng phải nằm cô đơn dưới nấm mộ vô danh chốn rừng sâu. Trừ ông ra không ai biết được nơi Hoàng an nghỉ. Ông đem nỗi băn khoăn đó tâm sự với những người bạn chiến đấu cũ và những người thân thích. Thầy giáo Hóa dạy cấp hai, người cùng làng khuyên ông nên đến một nhà xuất bản nào đó xin giấy phép cho xuất bản tập thơ này. Lời tựa của tập thơ là lời kể của ông về lai lịch, hoàn cảnh, xuất xứ của tập thơ và in kèm theo bức ảnh của Mai Hương. Nếu tập thơ được in, phát hành khắp cả nước thì thế nào cũng đến tay Mai Hương hoặc những người thân thích của Hoàng. Mấy đêm liền thao thức nghĩ tới, nghĩ lui, ông thầm phục thầy giáo Hóa là cao kiến. Ông đoán rằng khi nghe ông trình bày lý do in ấn tập thơ thì mấy ông cán bộ ở nhà xuất bản sẽ nhất trí ngay. Chất lượng của tập thơ thì ông yên tâm lắm. Ai đọc tập thơ này mà chẳng phải khen hay. Nhất là nhà văn hồi ở Trường Sơn đã khẳng định: "Một trăm năm sau nếu ai đọc lại những bài thơ này hẳn sẽ hình dung, cảm nhận ra tất cả nhữn gì oanh liệt cùng sự gian khổ hy sinh và tình cảm của những người lính đang xả thân trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước hôm nay"... Hơn nửa tháng trước ông đang ngồi bán quán thì bé Linh, cháu ông Biên, phó giám đốc của một công ty nào đó ở mãi ngoài Hải Phòng có cái nhà ba tầng cao ngất ngưỡng đầu xóm đến đưa cho ông một cuốn sách bìa in rất đẹp. Bé Linh hồn nhiên líu ríu:

- Ông Chung ơi, ông có đổi cuốn sách này cho cháu không? Cháu chỉ cần hai cái cu đơ thôi mà!

Sợ nó thèm kẹo đánh liều lấy quyển sách của bố mẹ, ông cười:

- Ông cho cháu một cái đây. Lần sau thì đừng có đem sách đi đổi như thế thì bố lại phất roi vào mông đấy.

Bé Linh nói liến thoắng:

- Thơ của ông cháu in ra đấy. Ông cháu có gửi về cả trăm quyển, chị em cháu xé làm diều gần hết rồi. Bố mẹ cháu chẳng mắng đâu.

Nghe nói thế ông đem đổi cho Linh những năm cái cu-đơ, bụng nghĩ thầm: "Đẹp thế này mà xé đi thì phí lắm". Hôm thầy giáo Hóa đi dạy về ghé vào quán ông uống nước, ông đem tập thơ của ông Biên ra khoe. Thầy giáo Hóa nhíu mày:

- Ông Biên tặng tôi rồi. Đọc chán lắm! Thơ gì mà khô như rơm. Tôi nghe đâu để tranh chức cái ghế giám đốc, ông Biên cố nặn ra cái tập thơ này để lấy thêm thanh thế. Có trời mới biết ông ta lấy tiền đâu mà trang trải. Thời này người ta in thơ cứ nhan nhản. Đi tìm một tập thơ hay quả là khó. Chứ không phải như hồi chiến tranh, tập thơ, truyện nào xuất bản đều có chất lượng. Hình như ngày đó người ta sáng tác văn chương không phải cho mình mà cho tất cả cộng đồng xã hội.

Rồi thầy giáo Hóa nói một thôi về cái hay, cái dđẹp của văn chương. Tuy không cảm nhận được cái tinh tế, cái tuyệt vời của văn chương như lời thầy Hóa nói nhưng ông Chung lại càng vững tâm hơn trong việc nhờ nhà xuất bản in tập thơ của liệt sĩ Hoàng. Chỉ vì gây thêm thanh thế cho bản thân mình mà tập thơ của ông Biên còn được phát hành thì tập thơ của một liệt sĩ ai nỡ từ chối. Nhất là tập thơ này khi in ra biết đâu chẳng là đầu mối để những người thân của Hoàng liên hệ tìm được phần mộ của anh. Sáng hôm sau, ông Chung diện bộ quân phục mới nhất rồi hăm hở đạp xe lên thành phố. Ông cẩn thận pho-to-cop-py tập thơ Hoàng ra thêm ba cuốn nữa. Ông phải giữ tập thơ gốc lại để có cơ may gặp được Mai Hương thì trao lại cho chị. Ông dừng lại trước một tòa nhà ba tầng treo tấm bảng nền màu xanh nhạt đề bốn chữ "Nhà xuất bản R". Anh trưởng ban biên tập nhà xuất bản có vóc người to lớn, nước da trắng trẻo, mái tóc bồng bềnh nom rất nghệ sĩ niềm nở đón ông. Ông tự tin trao tập thơ bằng cả hai tay cho anh ta và trình bày sự xuất xứ của nó cùng những đề nghị tâm huyết của mình. Chờ ông nói xong, anh trưởng ban biên tập lật mấy trang đầu đọc lướt qua. Anh ta nói với ông giọng không còn hồ hởi:

- Thay mặt ban biên tập, tôi xin chân thành cảm ơn bác. Những điều bác vừa kể thật đáng quý, đáng trân trọng. Ngặt một nỗi là trừ các tác phẩm nổi tiếng còn những tác giả khác thì phải chịu trang trải các kinh phí in ấn. Đó là tôi chưa nói đến vấn đề cốt lõi là chất lượng nghệ thuật và tư tưởng trong tác phẩm. Với tập thơ này, nếu được giấy phép xuất bản và in với số lượng năm trăm cuốn thì ít nhất chi phí suýt soát bốn triệu đồng. Mà tác giả thì đã hy sinh...

Ông Chung khẽ giật mình, ông không ngờ số tiền lại lớn đến thế. Giá như vợ ông không ốm liệt giường gần một năm nay thì ông có thể tiêu pha dè sản, dành dụm những đồng tiền lương trợ cấp thương binh trong vài ba năm cũng có thể trang trải được. Bất giác ông buông tiếng thở dài. Ông định trình bày thêm những ý nghĩ  của mình nhưng nhìn nét mặt hờ hững của anh trưởng ban biên tập lại thôi. Ông ngượng nghịu đón tập bản thảo từ tay anh ta rồi lủi thủi ra về. Không nói ra nhưng ông Chung ấm ức thế nào ấy. Ông đạp xe loằng ngoằng thế nào mà xuýt nữa quàng vào quang của mấy bà đi chợ tỉnh về. Ra khỏi thành phố, ông tạt vào quán giải khát của bà Bình béo bên đường cái lớn mua cốc nước chè uống cho đỡ khát. Thấy ông  mồ hôi nhễ nhại bước vào. Bà Bình xởi lởi:

- Bác Chung đi đâu về giữa nắng thế? Làm cốc chè đá cho mát nhé. Mà sao trông bác thất thường thế?

Nghe bà Bình hỏi, ông Chung bỗng thấy tủi thân. Ông kể cho bà nghe tất cả những gì mà hơn suốt ba mươi năm qua ông hằng ấp ủ, trăn trở bởi lời hứa trước vong linh đồng đội. Ông kể không sót một chi tiết nào từ lúc chôn cất liệt sĩ Hoàng cho đến khi ông gặp anh Trưởng ban biên tập Nhà xuất bản R sáng nay. Có một người khách trạc tuổi ông Chung ngồi dựa lưng vào cột quán từ nãy đến giờ vẫn lắng nghe chăm chú câu chuyện giữa hai người. Cái chân bị cụt đến đầu gối của ông ta kê lên cái cặp da căng phồng đặt lên mặt ghế. Chờ cho ông Chung uống xong cốc nước chè đặc quánh, ông khách lê nạng khập khiễng đến ngồi xuống cái chõng tre bên cạnh ông Chung:

- Xin lỗi ông, ông có thể vui lòng cho tôi xem tập thơ một lát không ạ?

Ông Chung vui vẻ:

- Vâng, được thôi! Mà ông cũng là thương binh à? Bị thương ở trận nào đấy?

- À, tôi bị mất cái kheo này hồi đánh vào thành Quảng Trị ấy mà.

Nhìn cái đầu gật gù của ông khách khi đọc thơ, ông Chung chợt nhớ tới hình ảnh anh nhà văn hồi ở chiến trường. Ông khẽ vỗ vào vai ông ta:

- Hay lắm hả. Thích thì tôi tặng luôn ông đấy. Tôi đang còn bản gốc nữa mà.

Ông khách không giấu nổi sự vui mừng trong ánh mắt. Ông bắt tay Chung thật chặt, giọng đầy cảm động:

- Vâng được thế thì cảm ơn ông lắm. Đọc những bài thơ này, tôi ngỡ như nhà thơ đang nói hộ những tâm tư, tình cảm của mình và tôi ngỡ như đang sống lại những ngày đạn bom ác liệt ở mặt trận, thật tinh tế, thật tài hoa. Phiền ông cho tôi cái địa chỉ, sau này có gì để tôi liên lạc.

Hai hôm sau, ông Chung mới hốt hoảng nhớ ra trong tập pho-to-cop-py thơ Nguyễn Hòang mà ông đã tặng cho vị thương binh nọ có kẹp cả tấm ảnh Mai Hương. Ông tự trách về sự nhẹ dạ của mình. Ông liên tưởng tới chuyện thằng Mạch mà lòng cứ rối như tơ vò. Tuần trước thằng Mạch phóng xe máy tới nhà ông. Nó đặt vào tay ông xấp vải, xởi lởi:

- Thưa bác, cháu vừa đi xa về có chút  quà biếu bác. Cháu nghe nói bác có tập thơ hay mà tác giả thì đã hy sinh. Cháu muốn mua lại bác để bác có thêm tiền thuốc thang cho bác gái.

Ông Chung ngạc nhiên:

- Nhưng mà anh mua tập thơ ấy để làm gì?

Mạch cười khơ khớ:

- Không giấu gì bác, em vừa được đề bạt lên chức trưởng phòng. Mấy tay ở cơ quan em cũng đã có thơ in. Em nghĩ là mình không nên lép vế trước họ. Hình như những người có máu mặt thường rởn mỡ. Họ xem in thơ như một cái mốt vậy. Khổ nỗi em lại chẳng biết gì về văn chương, thế mới phiền đến bác.

Ông Chung thấy mình bị  xúc phạm, máu trong người ông như sôi lên, nhưng ông vẫn cố trấn tĩnh:

- Thế anh trả tôi bao nhiêu?

Mạch vân vê bộ  ria con kiến:

- Với hoàn ảnh bác thì em xin trả năm trăm ngàn đồng. Em còn phải bỏ ra  ba, bốn triệu nữa thì mới xuất bản được, bác ạ. Cũng xót của nhưng được cái danh.

Ông Chung gầm lên:

- Sao? Mày định lấy danh bằng xương máu và danh dự của những người lính đã ngã xuống ở chiến trường à? Đồ mất dạy! Cút! Cút ngay khỏi nhà tao!

Ông vớ cái điếu cày định vụt vào cái mặt trâng tráo kia nhưng hắn đã quay mình lủi mất. Biết đâu cái tay kia chẳng phải thương binh thật mà cũng một duộc như thằng Mạch thì sao? Mình dại thật, sao không hỏi tên tuổi và địa chỉ của ông ta. Ông Chung có ý định trong năm nay khi nhận được tiền huân huy chương ông sẽ lặn lội vào chiến trường xưa đưa hài cốt Hoàng an táng vào Nghĩa trang Trường Sơn. Làm được như vậy thì dẫu có nhắm mắt xuôi tay ông cũng thấy lòng thanh thản.

Một bàn tay nhỏ nhắn đập vào vai làm ông choàng dậy. Tiếng bé Linh líu ríu:

- Ông ngủ đấy à? Cháu vừa gặp bác đưa thư. Bác ấy nhờ cháu gửi cho ông cái này này.

Bé Linh đặt vào tay ông cái phong bì to, dày cộp. ông Chung đeo vội kính lên rồi đọc tên, địa chỉ người gửi ngoài phong bì. Ông thấy ngạc nhiên vì chưa từng quen biết người này bao giờ. Ông cẩn thận lấy kéo cắt mép phong bì. Ông không tin vào mắt mình. Trong tay ông là tập giấy thơm phức mùi giấy mới: ba chữ "Thơ Nguyễn Hoàng" in to và đậm trang trọng trên bìa sách khiến tim ông đập rộ lên. Ông hồi hộp giở nhanh mấy trang bên trong và thốt lên sung sướng: "Trời ơi, thơ Nguyễn Hoàng. Thơ Nguyễn Hòang được in rồi". Một lá thư từ trong tập thơ rơi ra, ông Chung đọc ngấu nghiến:

Hà Nội, ngày 5 tháng 6 năm 2001

Anh Trần Chung quý mến!

Từ buổi chia tay anh ở quán nước, câu chuyện anh kể luôn ám ảnh và trăn trở trong tôi. Có vần thơ nào lại quý hơn vần thơ người lính ở chiến trường. Có tình cảm nào thiêng liêng hơn tình cảm đồng đội khi kẻ mất người còn. Tôi và anh em cựu chiến binh ngoài này quyên góp kinh phí và đề nghị nguyện vọng của mình đến Ban lãnh đạo một nhà xuất bản ở Hà Nội. Các đồng chí ấy đánh giá tập thơ chất lượng rất cao và nhiệt tình ủng hộ nên tập thơ của liệt sĩ Nguyễn Hoàng đã được in với số lượng lớn. Điều đáng quý và vui nhất là thân nhân của liệt sỹ Nguyễn Hoàng cùng chị Mai Hương đã đến Tòa soạn. Nhà xuất bản đã giới thiệu lai lịch của tập thơ và ảnh của chị Mai Hương ở trang đầu. Bởi thế người thân của liệt sĩ dễ dàng nhận ra tác giả. Tuần sau họ sẽ đến thăm hỏi, cảm ơn anh và nhờ anh dẫn đường vào Trường Sơn tìm phần mộ của liệt sĩ Nguyễn Hoàng. Ngoài anh ra không ai biết được nơi an nghỉ của Hoàng. Tôi rất tin ở anh. Chúc anh và thân bằng quyến hữu luôn hạnh phúc, bình an.

Chào thân ái

Đặng Văn An".

Niềm vui đến quá bất ngờ nên nước mắt ông Chung cứ trào ra mà cái miệng lại cứ cười. Nhìn điệu bộ kỳ dị của ông Chung, bé Linh hỏi ríu cả giọng:

- Ông ơi sao ông cười mà nước mắt chảy ra nhiều thế?

- Ông mừng lắm cháu à - ông Chung vừa nói vừa ôm Linh vào lòng. Bé Linh không hiểu vì sao người lớn mừng quá lại khóc nhưng nó quên ngay điều thắc mắc trẻ con đó vì ông Chung đã dúi vào tay nó một bịch cu-đơ nặng trịch.

N.T.T

Nguyễn Trung Thành
Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 87 tháng 12/2001

Mới nhất

Thông báo về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí

13/04/2026 lúc 22:15

THÔNG BÁO Về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí Kính gửi quý bạn đọc,

31/07/2025 lúc 15:23

Tạp chí Cửa Việt - 35 năm một chặng đường

28/06/2025 lúc 16:18

Ngày 28/5/2025, Tạp chí Cửa Việt tổ chức lễ kỷ niệm 35 năm tạp chí ra số đầu tiên và gặp mặt cộng tác viên năm 2025. Tại buổi lễ, Phó Tổng biên tập phụ trách Hồ Thanh Thọ đã có bài phát biểu khai mạc...

Vùng trời hoa sim

26/06/2025 lúc 23:29

Những triền sim tím đồi xaBềnh bồng nâng gót mùa qua lặng thầm

Hương xưa; Nắng sớm

26/06/2025 lúc 23:27

Hương xưa… Ta về tìm lại hương xưa

Tạp chí số cũ
Câu chuyện du lịch
tư tưởng Hồ Chí Minh

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

16/04

25° - 27°

Mưa

17/04

24° - 26°

Mưa

18/04

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground