|
L |
ão Cạnh lê cái chân liệt trên giường, một tay lão quắp như vó gà co lên ngang ngực. Đầu nghiêng về một phía, miệng lão bị tật kéo nhếch lên, thỉnh thoảng giãi nhểu ra. Lão nói ủng oảng, ai lạ chẳng hiểu lão nói gì. Nhưng cả làng ai cũng biết lão đang trên đường đi ra chợ. Lão ra chợ mua một tờ vé số sẽ xổ chiều nay. Thằng Thọ con lão, sau khi bán mẻ tôm gạo mà nó phải dậy từ mờ mờ để kéo, dúi vào tay lão mấy tờ bạc lẻ nó bảo: “Trăm bó đuốc cũng phải vớ được con ếch”. Thế là lão đi, tay còn lại nắm chắc tờ bạc, vung vẫy như để lấy đà, nhìn lão đi như bơi trên mặt đất, hăm hở bước, có lẽ lão tin vào cái điều vớ vẩn mà thằng con lão vừa nhóm lên mỗi buổi sáng hàng ngày. Đời người thật là hai lần trẻ con! Dân làng chứng kiến sự đều đặn của lão, kể từ khi ốm dậy cũng phải tin rằng: Một ngày nào đó lão trúng xổ số thật! Nhưng sự đời còn rành rành ra đấy, khối kẻ chẳng đã khánh kiệt vì đen đỏ đó sao. Có người bảo thằng Thọ: “Quân ăn cháo đá máng”. Một số tỏ ý thương hại lão Cạnh, họ thở dài buông một câu lửng lơ đầy hàm ý: “Cơ khổ!”. Mà khổ thật, hơn sáu chục tuổi, vợ con chẳng có, nuôi thằng con nuôi, đúng là “khác máu tanh lòng”. Thằng Thọ có xót xa gì đâu, có lẽ nó đày lão Cạnh đến chết, để chiếm lấy cái gia tài ba gian nhà “tình nghĩa” mái lợp ngói “tây”, mấy sào ao nhận khoán với hợp tác xã. Với nó thế là quý lắm rồi, nó cũng tứ cố vô thân, được như thế gì bằng.
Chạnh lòng, ông cả Hoè nghĩ đến mình, ông cũng thở dài thườn thượt. Chẳng biết ông buồn cho lão Cạnh hay buồn cho mình, cho tình đời ấm lạnh. Như thường lệ, gần một năm nay rồi. Khi mặt trời ló ra khỏi gác chuông nhà thờ họ Giáo làng Đông, thì cũng là lúc ông cả Hoè thả bộ đến bờ ao nhà lão Cạnh. Ông đi như đếm bước, điệu bộ thong thả của một người giàu có, về già thích cái thú nhàn tản, tìm một nơi yên tĩnh ở làng quê. Dân làng bảo: “Ai chả thế, lúc còn sức còn lực, ham hố tiền bạc công danh, bán mặt cho thiên hạ mà kiếm tiền, mà làm giàu... Về già, anh nào chẳng mở mày mở mặt được thì gửi nắm xương tàn nơi đất khách. Anh nào đi năm về mười cũng tính đường quay về cố hương. Gặp ông cả Hoè ai cũng lễ phép: “Cụ chơi đâu ạ”. Đi rồi ông còn nghe họ nói: “Quý hoá quá, đi cả đời mà chẳng quên được cái nơi chôn rau cắt rốn, chẳng quên được tiếng làng...”
Thực ra chẳng ai hiểu được tâm trạng thật của ông cả Hoè. Lặng lẽ như một cái bóng, ông ngồi xuống gốc sung mặt hướng vào nhà lão Cạnh. Nhưng ông có nhìn đâu, ông đang bị một nỗi buồn ám ảnh về thân phận, tuổi tác mà ông đã mang từ tỉnh về. Ở thành phố ông cũng có một ngôi nhà nguy nga như biệt thự, gần chục cửa hàng chuyên doanh, buôn gạo và muối ở các đầu ô. Mấy năm gần đây ông “bành chướng” về đến các chợ quê. Các con ông bảo: “Bố già rồi, cần được nghỉ ngơi, công việc để chúng con gánh vác”. Chỉ một thời gian ông cảm thấy như bị lừa. Nhưng ông dấu mọi người. Ông Cả tâm sự: “Tôi nhường lại cho con cháu buôn bán tự lập. Lá rụng về cội, tôi về quê gửi nắm xương tàn cho mát mẻ”. Thực tế là ông không chịu nổi các con ông nữa, ông không muốn chết dần, chết mòn vì cô đơn trong căn phòng rộng mênh mông trên tầng thượng. Ông về quê trước khi chúng có thể đuổi ông đi, khi ông là gánh nặng của cả cuộc đời chúng. Cô con dâu cả của ông đã có lần xa xôi: “Bệnh tật đến lạ, ăn uống khoẻ, béo như phỗng, nhưng chẳng biết cái gì. Hầu ăn không khổ bằng hầu ỉa... Để thì buồn, cắt thì đau”.
Trong thâm tâm ông mong một cơn “tăng xông” đột ngột “phựt” một cái “đứt” luôn. Đừng bắt ông phải mang nỗi khổ “giời đày”. Như lão Cạnh đấy, con cái dúi cho mấy đồng, phỉnh phờ bằng mấy câu đơn giản, lão có thể không chết vì bệnh tật mà chết vì xe cộ đụng phải. Thằng Thọ tống lão ra đường cho khuất mắt, đúng là thằng con ghẻ. Còn ông Cả, con ông đứt ruột đẻ ra, đặt vào tay chúng cả một số vốn kếch xù, bằng tuổi chúng ông làm sao có được như thế! Con cái ông có tiền mỗi đứa lao theo một đam mê. Đứa thì cờ bạc, đứa cá cược, bóng đá, chọi gà. Thằng lớn mê chim. Nó rước về mấy chục cái lồng, treo khắp cả nhà, ngoài giờ ở cửa hàng về đến nhà nó sống với chim. Một lần nó bảo ông: “Bố thấy nó hót có khoái không? Đúng là một điềm báo cho cảnh làm ăn thịnh vượng”. Rất rành mạch tiếng chim rót vào tai làm ông nhức cả đầu. Suốt cả ngày “Đủ... Đủ... Đủ, quá đủ!” Chẳng biết là giống chim gì. Ông Cả muốn thét vào mặt nó: “Còn thiếu, thiếu nhiều lắm, đó là tình người”. Nhưng ông lại ngao ngán lắc đầu nghĩ: “Tiếc kê mai mẫu” chuyện xưa tưởng chỉ răn đời sao mà nay có thật.
Ông Cả chán đời, chán con bỏ về quê gặp ngay lão Cạnh một duộc với mình ông càng chán. Nhiều lúc ông tự động liều mình: Âu cũng là cái số trời bắt con người vào cái tuổi tàn canh mãn cuộc phải chịu, sự đời ông đã nếm đủ, còn như lão Cạnh thật là khổ, khổ cả một đời.
* * *
Ông Cả Hoè và lão Cạnh bằng chà nhau, ông Cả Hoè con ông Hàn Thao, thuốc Bắc gia truyền, mẹ ông buôn hàng tấm, trong làng bà có gần hai chục khung cửi, vốn liếng kha khá. Ông Cả Hoè là con trai một. Lão Cạnh cũng là con một, mẹ lão chuyên đi mót, vào lúc mùa vụ khoai, sắn, lạc, vừng và những gié lúa vương vãi. Bố lão Cạnh chết vì “ngã nước” sau một bận đi dắt trâu cho các lái trên ngược về. Nhà lão nghèo lắm. Ông Cả còn nhớ như in chuyện xảy ra mấy chục năm về trước.
Năm ấy trời rét lắm, mới có tháng mười mà sương giá nhuộm lá cây trong vườn nhà bạc phếch. Trầu không - cháy đen thui, thân đổ đốt rục rạc, cành khẳng khiu nhô ra như nắm xương người hủi. Chỉ có táo là tốt, hình như càng rét quả càng giòn, càng sắt ngọt. Cả Hòe xúng xính trong cái áo bông ấm áp, đứng chơi ở gốc táo trước nhà, những quả táo bột chín trắng trên cành. Cu Cạnh đi ngang qua, trên người khoác một chiếc áo tây cũ trăm miếng vá, cúc đứt chẳng còn cái nào. Mỗi khi có làn gió thổi đến, Cạnh ta hai tay khép chặt tà, người cúi gập xuống như tránh làn roi phũ phàng quất vào người. Thấy vậy, Cả Hoè gọi:
- Ê... Cạnh còi!
- Cho tao quả táo - Cu Cạnh nói và nhe hàm răng sún cười trên đôi môi tím tái.
- Đ... cho.
- Tao cứ lấy - Cạnh sấn vào.
- Tao thách đấy? Mày vào - tao thả chó.
- Mày thách tao hả?
Tối đó Cạnh còi vào thật, nó trèo lên cây làm một bụng no nê. Trước khi về nó định báo cho Cả Hoè biết sự thách đố đã hoàn thành, nó bèn ném một quả rõ to vào cửa, ai ngờ chó thấy động xồ ra, năm, sáu con nhe răng chồm lên như những con sư tử bu quanh gốc. Vừa lúc đó ông Hoè vác gậy chạy ra. Chỉ gậy lên cây ông quát:
- Xuống, xuống ngay, quân ăn trộm, ông cho mày trận đòn.
- A, Cạnh còi, thằng Cạnh cậu ạ! Cậu cho chó cắn chết nó đi.
Cạnh còi ngồi trên cây chẳng còn cách nào đành nói liều:
- Tao nhảy xuống giếng, tao mà chết cả nhà mày phải đi tù.
Vừa nói, Cạnh vừa làm động tác chuẩn bị lao xuống cái giếng đào ngay bên gốc táo. Chẳng biết nó có dám làm thật không mà ông Hòe phải dịu giọng:
- Xuống đi cháu, bận sau muốn ăn bảo ta lấy cho. Đừng làm thế, xuống đi, ta đi vào đây!
Ông Hòe quay lại thét chó, thét con, đóng cổng đi vào nhà.
Sau đó vài năm ông Cả ra tỉnh tập nghề buôn bán. Hình ảnh Cạnh còi với những quyết liệt ám ảnh khiến ông buôn chăm chỉ, tằn tiện và trở thành một người rất thành công trong doanh nghiệp. Thỉnh thoảng ông có về quê, được biết Cạnh còi đi bộ đội. Năm ngoái về súng lục trễ hông, oai lắm. Cạnh đã lấy vợ, một cô gái làng bên, nhà cũng nghèo như nhà Cạnh. Được cái cô chăm chỉ tần tảo, gia đình hạnh phúc lắm.
Mấy năm gần đây buôn bán phát đạt, ông Cả mang hàng về chợ Độ quê ông không ngờ ông gặp ngay Cạnh còi ngồi ở cửa chợ thu lệ phí. Mấy chục năm trời không gặp nhau nhưng ông Cả nhận ra ngay. Lão Cạnh có vẻ mệt mỏi, bệ rạc, khác hẳn hình ảnh oai vệ mà ông Cả vẫn tưởng tượng trong đầu, lại gần, ông Cả bảo:
- Cạnh còi..., à ông Cạnh - ông Cả gọi thảng thốt, lão Cạnh ngơ ngác giật mình, nhấc cặp mi xùm xụp, vẻ bối rối.
- Cả Hoè... Ông Cả Hoè!
- Làm sao mà ông đến nông nổi này, mấy lần về quê nghe nói anh đi bộ đội, làm to lắm, tôi đã mừng... Ai đời, rõ khổ.
Sau đó ông Cả hỏi thăm mọi người và được biết.
Giải phóng miền Nam được mấy năm. Cạnh hơn bốn mươi tuổi. Cạnh một mạch ra quân về quê, con cái chưa có, Cạnh phải về nuôi mẹ và sống với vợ xây đời ấm no. Về đến nhà mẹ Cạnh đã chết, vợ Cạnh đi lấy chồng mãi tận đằng xuôi. Căn nhà đổ nát, chỏng trơ ngay trên bàn thờ là mấy cái bát nhang chuột vày, chân nhang bắn tung toé. Ngay ngắn trên tường là tấm bằng Tổ quốc ghi công mà Cạnh là liệt sĩ. Hiểu rõ ngọn nguồn, Cạnh khuỵu xuống như một thân cây bị đốn ngang gốc. Cạnh ôm khư khư cái ba lô trong lòng tấm tức khóc, mỗi lúc một to, tiếng khóc từ đáy lòng người lính già làm cho xóm làng âm thầm khóc theo. Họ khóc cho cái cảnh đời éo le.... không ai nỡ ngăn Cạnh, có lẽ phải khóc cho nguôi ngoai nỗi đau đè nặng trong lòng, nỗi đau âm thầm mà không ai có thể bù đắp được. Có người bảo:
- Đời người có số thật, anh này số khổ, khổ từ bé.
- Tránh trời không khỏi nắng- một người khác xa xôi.
- Đúng là khổ cả một đời - Ông Cả xác nhận.
* * *
Lão Cạnh thành người thu vé chợ, lão chẳng bỏ sót ai, gặp người buôn bán có tiền lão “dít” phải biết. Được cái lão đem tiền nộp phần trăm cho chính quyền rất sòng phẳng. Còn lại lão đem uống rượu. Uống cả ngày. Ông chủ quán thịt chó thì thầm vào tai mọi người. “Lão uống có một chén vào mồm, chín chén lão đổ ra quần áo.” Người lão nồng nặc mùi rượu. Lão lang thang ở chợ, mồm lảm nhảm nhưng chẳng ai biết lão nói cái gì. Ai cũng sợ lão. Đám “anh chị” bảo:
- Lão Cạnh là bộ đội đặc công, giỏi võ lắm!
- Lão là thương binh đấy, lão không thèm nộp sổ, chớ có đụng vào.
- Hình như khổ quá nên lão hoá lẩn thẩn.
Chẳng biết tin ai, ông Cả mấy chục năm trời thấy lão Cạnh tồn tại ở chợ Độ này. Một buổi, nhân mang hàng về quê thấy lão Cạnh hom hem, ông Cả nhìn lại mình, trên đầu đã hai thứ tóc. Động lòng ông Cả Hoè thủ sẵn một món tiền đến gần lão Cạnh ông nói nhỏ:
- Tôi cho anh, đừng sống thế này nữa, cầm lấy đi, tôi biếu anh thật mà. Khổ quá... Già rồi vẫn đày đoạ thân thể.
Lão Cạnh ngẩng đầu, trợn mắt, trong đáy mắt lão ánh lên một tia mãnh liệt. Ông Cả rờn rợn nghĩ: “Ngộ nhỡ...” liền thu tiền quay đi.
Chẳng biết có phải do lời nói của ông Cả lay động tâm linh lão Cạnh hay một lý do nào khác. Hôm sau lão Cạnh bỏ chợ về nhà, lão sống lủi thủi như một người lẫn. Làng xóm dựng lại căn nhà đổ nát bỏ không đã lâu ngày của lão. Chính quyền cắt cho lão mấy sào ao liền kề để lão mưu kế sinh nhai. Lão chấp nhận một cách lẳng lặng. Lão cần cù, ao của lão đẹp lắm, những hôm “dở giời” cá ngoi lên đớp hóng, nhìn mặt ao lăn tăn như mưa mau đều hột rắc. Ai đi qua cũng phải thốt lên: “Mát tay quá”!
Lão giữ ao cẩn thận lắm, không ai dám bén mảng. Phường câu trộm làng bên đã bị lão cho một trận đòn nhừ tử. Về chuyện này ông Cả Hoè biết rõ tính nết lão Cạnh, lão Cạnh vốn rất quyết liệt kể từ thuở thiếu thời...
Ây thế mà có kẻ dám mò đến, ấy là thằng Thí. Thằng Thí thì lão Cạnh chẳng lạ gì. Nó được mọi người gọi là “người nhà giời”. Tóc nó lởm chởm vàng khè, da nó xanh tím, miệng sún hết răng, hễ mở mồm đỏ lòm, trông như ông hộ pháp gác cổng trong đền Độ. Nó từ đâu đến không ai biết! Nó con nhà ai, chẳng ai hay. Nó lang thang ở chợ nhặt nhạnh kiếm miếng ăn. Lớn vừa đủ để các mẹ suốt ngày ngồi ở chợ, béo phền phễn, hễ mở mồm là xót xa cho nó nhưng luôn mồm gọi:
- Thí, lấy cho tao xô nước.
- Thí, về nhà bảo lão ấy mang cho tao mấy bao hàng.
- Thí mang miếng thịt này về ra đây tao cho hào bạc.
Cứ thế nó nhanh như thỏ để kiếm miếng bỏ vào mồm. Chợ mỗi ngày một đông, nó ngày một lớn lên, chân tay nghều ngào, nó yếu lắm, chẳng ai muốn thuê vì sợ không xứng với đồng tiền bỏ ra, chẳng ai sai vặt nó nữa, nó thành thành thằng Thó, nó “thó” nhanh lắm. Các mẹ nhìn thấy nó bảo nhau: “Coi chừng đấy”. Đôi khi nó bị những trận đòn thừa sống thiếu chết vì vụ “thó” không thành. Nó cứ lừ lừ đi ngoài chợ, bộ dạng như một hình nhân.
Một đêm cuối tháng chạp, rét như cắt da thịt. Suốt ngày nó chẳng có gì bỏ vào mồm. Thó nằm co quắp trên những phản thịt ghép lại trong cầu chợ, bụng nó sôi ào ào. Cái đói bắt nó phải nhổm dậy. Cái chợ ban ngày ồn ào náo nhiệt bao nhiêu, thì ban đêm nó lại lắng lặng bấy nhiêu. Sự so sánh ấy khiến nó rờn rợn . Gió cuốn lá chạy lao xao, nó cảm giác như đang lạc vào một cái chợ “âm”, nó mơ có một mái nhà. Cái đói đẩy nó ra bờ ao nhà lão Cạnh, gió hun hút, nó nghĩ bụng: “Cá dày lắm, nhất định phải kiếm được cái gì?” Nó nhìn mặt nước xám như đổ chì mà run rẩy. Nghe nói thợ lặn phải có một bát nước mắm cốt uống trước khi xuống nước, giá được một ngụm... Mùi cá nướng và cái bếp lửa hồng trong đầu đã kéo nó xuống ao nhà lão Cạnh. Hình như trong nước ấm hơn. Nó cùa bàn tay nhỏ bé, tay nó toàn nước nhưng nắm lại chẳng được gì. Bỗng “huỵch” một cái, nó bị ném lên bờ. Trước mắt nó là lão Cạnh, nắm tay đen xì như cái búa dơ lên ngang mặt. Nó nhắm mắt lại chờ đợi. Một khoảnh khắc nặng nề trôi qua. Mở mắt nó thấy lão Cạnh cúi xuống bế nó lên, lão nói nghèn nghẹn trong cổ: “Tao đã khổ, mày còn khổ hơn tao!” Lão mang nó vào nhà, bọc nó trong một cái áo bộ đội cũ rộng thùng thình, nó ngồi bên bếp lửa mà run lên từng chập. Múc cháo ra bát lão Cạnh bảo nó:
- Cháo cá đấy, còn nóng, ăn đi cho nó sướng!
Nó bưng bát cháo húp sùm sụp ngon lành. Hôm sau nó ở lại, mấy hôm nữa thấy nó làm ao cùng lão Cạnh. Lão Cạnh bảo nó: “Từ nay mày là thằng Thọ, mày cao số lắm!”.
Có nó, cuộc đời lão Cạnh đỡ lẻ loi. Nó có lão Cạnh, nó có một mái nhà, cả hai cùng lặng lẽ tồn tại. Biết chuyện, ông Cả Hoè bảo: “Lão Cạnh rước nợ vào người, cái của vô thừa nhận ấy báu gì”. Thời gian đắp đổi, lão Cạnh đã toan về già, còn nó trở thành thanh niên. Tâm tính nó thay đổi, nó lầm lì làm suốt ngày. Một hôm lão Cạnh bảo nó: “Mày lấy vợ quách đi cho xong”.
- Chó nó lấy, mà nếu có ai lấy lại chả làm khổ người ta à. Nó nói với lão Cạnh và đảo mắt nhìn quanh nhà, nghèo quá thật. Lão Cạnh có vẻ mủi lòng.
Hôm Cả Hòe đến chơi nó rủ rỉ tâm sự: “Đời người như ông mới thật là sướng, bố con nhà cháu khổ quá, com cóp mãi mà chẳng mua nỗi con bò cái cóc, cuốc đất chai cả tay mà chẳng được bao nhiêu. Giá có con bò mà cày thì sướng biết mấy!”.
- Đã đủ chưa? Ông Cả Hoè hỏi lại.
- Gần đủ rồi, xong vụ lúa chiêm, thu nốt vụ cá “xép” nữa chắc là mua được. Có bò cháu sẽ cày lở cả quả đồi này, còn trăm giuộc bò chả đi được, thì chịu khó mà cuốc, trên cao thì màu, dưới thấp thì lúa... mấy chốc mà giàu có sung sướng - Nó nói mắt trong veo như đang hình dung ra cái giây phút ấy.
- Đời người có đi có đến, có phúc có phần, bố con nhà cậu cố lên. Ông Cả Hoè nói động viên, trong thâm tâm ông mong như thế.
- Một hôm lão Cạnh đắn đo mãi rồi bảo nó: “Mày cứ lấy vợ đi về nhà nó làm đỡ, tao già mất rồi”. Nó bảo: “Đợi tậu bò xong hãy hay”. Lão Cạnh bảo: “Tậu bò, lấy vợ, làm nhà là ba việc lớn của đời người, mày tính thế cũng phải”.
Vụ lúa năm ấy, lúa chắc như sỏi, thằng Thọ khấp khởi mừng thầm. Ai ngờ giữa một trưa nắng, lão Cạnh ngã sấp xuống mặt sân ngập lúa vàng, bất tỉnh nhân sự. Thằng Thọ vực lão vào nhà. Dân làng bảo: “Phen này chắc lão Cạnh chết, mắc vào cái chứng tai biến mạch máu não ấy phải một túi tiền, mà có sống thì cũng dở người dở ma. Thằng Thọ là con nuôi, chó nó hầu. Nó còn ấp ủ mộng tậu bò lấy vợ”.
Nhưng thằng Thọ mang lão Cạnh lên bệnh viện tỉnh. Hơn một tháng lão Cạnh về. Gặp nó ông Cả Hoè hỏi, nó bảo: “Mất hết cả bò, kèm theo món nợ”, mặt nó buồn rười rượi.
* * *
Lão Cạnh cứ lê lết trên đường như thế, có người bảo: “Nó tống cổ lão ra đường cho đỡ xấu hổ với đám bạn gái.” Có người gặp nó chửi ngang mặt: “Quân ăn cháo đá máng, đồ bạc bẽo”. Nó im lặng cúi đầu chịu trận. Gặp nó ông Cả Hoè hỏi. Nó nói gọn lỏn:
- Ngồi ở nhà thì cũng chết thôi!
Hơn nửa năm trời lão Cạnh đi đều đặn như người giàu tập thể dục dưỡng sinh. Lão đi với một niềm tin mà thằng Thọ đã gieo vào lòng lão. Nhất định lão phải trúng số, trúng to nữa là đằng khác để lão chấm dứt cái cảnh đói nghèo, để lão có một ngày sung sướng.
Thằng Thọ làm hùng hục, làm thêm cả phần việc lão. Nó bảo với ông Cả Hoè: “Cháu góp gần đủ tiền mua bò rồi, chỉ mong “ông già” đừng có lăn đùng ra như lần trước là xong, có bò sẽ có tiền, mà có tiền thì gì bằng, sướng lắm!”.
Ông Cả Hòe buồn lắm, con người chỉ mơ đến tiền, vì tiền mà tán tận lương tâm. Cả cái thằng Thọ này nữa, vì tiền mà nó đẩy lão Cạnh vào con đường đỏ đen hão huyền, thật tàn nhẫn nó lừa cả người ốm, người mắc bệnh thần kinh. Ông Cả Hoè nằm ốm mất mấy ngày không dậy được, con cái ông xa xôi không biết, ông càng buồn cho sự dửng dưng của những đứa con mình đứt ruột đẻ ra.
Cuối năm đó có một ông “lái” đánh hơn chục cặp trâu qua làng, đến gốc sung bên cạnh ao nhà lão Cạnh thì dừng lại nghỉ. Thằng Thọ mê lắm, nó mon men ra xem, đến một con trâu mắt lồi long lanh như thuỷ tinh, cặp sừng “hướng tiền” nghịch ngợm, bốn khoáy đóng chuồng trên nền da trê đen bóng. Đặc biệt bị vá trắng ở bốn chân, đỉnh đầu ở trán và chốt đuôi. Thằng Thọ không làm sao mà dứt ra được.
Ông Cả Hoè cũng giống các con ông, ông cũng có một đam mê, đó là ông mê trâu, tuy không phải “lái”, chẳng phải thợ cày nhưng ông xem tướng trâu rất giỏi. Từ trâu trọi, trâu đực giống, đến trâu cày ông đã nói là trúng trăm phần trăm. Ông bảo thằng Thọ:
- Đây là con trâu lạ, tướng của nó quý vô cùng, ai được nó mà cày thì làm ruộng vượng lắm!
Thằng Thọ hình như hiểu điều đó, nó rất say, nó luồn dưới bụng, nó cưỡi lên lưng, nó xoa xuýt như thắm thiết một tình bạn bè đã có từ lâu. Con trâu hếch mũi lên thở phì phì, rồi nhe lợi cười với nó. Ông Cả bảo: “Con trâu nó hý chủ, hợp với cậu lắm!”.
Chiều hôm đó “lái” nhổ cọc lên đường, thằng Thọ ngẩn ngơ như vừa đánh mất một cái gì, ông Cả Hoè hỏi nó: “Có đủ tiền mua không?”.
- Chưa đủ để mua một con bò cái cóc - giọng nó run run.
Giá ngày trước ông Cả sẽ biếu nó một món tiền cho đủ, nhưng bây giờ đào đâu ra, con ông chẳng đã tàn nhẫn bảo thẳng vào mặt ông: “Đã thuê người cơm bưng tận miệng, nước giót tận mồm, ông cần gì đến tiền nữa mà xin!” Ông Cả buồn rầu bất lực gần bảy chục tuổi thật là: “Lực bất tòng tâm”.
Vừa lúc đó lão Cạnh khấp khểnh về đến nơi, nhìn thấy thằng Thọ, chừng như lão hiểu. Lão bảo nó, giọng ủng oảng chỉ có mình thằng Thọ hiểu. Nó hét vào tai lão:
- Làm sao đủ tiền mà mua được!
- Đây, tiền đây, tao vừa trúng số - lão bật nói giọng ngọng nghịu. Cái tay còn lại lão Cạnh móc vào túi. Thằng Thọ chua chát cười rồi bỏ đi, mọi người có mặt đều cười ồ, không ai rõ chấp người mắc bệnh thần kinh.
- Đây, thật mà - Lão Cạnh móc túi ra một tập bạc.
- Lão trúng số thật! Mọi người reo lên.
Ông Cả Hoè trố mắt ngạc nhiên, nhưng ông liền hiểu ra ngay những ngày qua lão Cạnh có cờ bạc, xổ số gì đâu. Thằng Thọ cho lão tiền là nuôi một niềm tin cho lão vào cuộc sống. Chính sự vận đồng hàng ngày làm cho lão khoẻ ra. Còn lão, lão gom những đồng tiền đẫm mồ hôi của thằng Thọ để có ngày hôm nay.
Bố con lão Cạnh mua được một con trâu quý, con trâu “sáu miếng”. Ông Cả Hoè mới chỉ thấy lần này là lần thứ hai trong đời một con trâu như thế!
Lão Cạnh sướng thật, sướng về già. Ông Cả nghĩ đến mình mà ngấm nghía câu ngạn ngữ: “Trẻ cậy cha, già cậy con”. Còn ông, ông có tiền có con mà ông khổ, khổ thật. Con ông quý chim hơn người. Nó mê cái tiếng hót đã làm ông đau đầu chóng mặt. Nghe nó hót mà ông linh cảm thấy một điều không lành. Phải rồi tiếng của nó là một điềm gở báo trước mà nay ông mới nhận ra: “Khổ... Khổ... Khổ, quá khổ!”. Ông chợt nhớ ra đó là loài chim Khiếu, tên nó là “Bạc đầu ông”.
H.N.H




