|
1 |
. Nguyễn đưa mắt quan sát những dãy trại nằm san sát dưới những tán cây rậm rạp, hài lòng nhận thấy việc dựng trại đã được hoàn thành sớm hơn dự liệu. Theo lệnh vua, mùa đông năm nay đại quân tạm lùi về vùng rừng núi để chỉnh đốn binh mã, dưỡng uy sức nhuệ, rèn thêm khí giới chuẩn bị cho những chiến dịch lớn vào mùa xuân năm sau.
Đã quá tiết đông chí, rừng núi như đang chuyển mình chờ đón một mùa xuân mới. Chóng thật. Mới đó mà đã sắp hết một năm! Bất giác, Nguyễn đưa tay vuốt lại tóc đã bắt đầu chớm bạc của mình. Năm nay, ông mới bốn mươi, nhưng trông có vẻ hơi già vì đã nhiều năm theo vua nằm gai nếm mật, trải qua không biết bao nhiêu gian lao, nguy hiểm.
- Báo cáo quân sư, phía sau doanh trại đã được phát dọn sạch sẽ, chỉ chừa lại mấy cây lớn để ngụy trang.
- Tốt, ngày mai tiếp tục phát về phía tây thêm vài chục thước nữa.
- Tuân lệnh!
Khuya. Nguyễn đang nằm trong trướng đọc lại cuốn “Vạn kiếp binh thư” thì bỗng nhiên thấy cửa ngoài khẽ lay động, rồi một thiếu phụ lách mình bước vào. Chị ta mặc một bộ đồ màu xanh lá cỏ, tóc xõa che gần kín khuôn mặt, dáng vẻ rủ rượi như vừa qua một cơn nguy cấp. Đến bên giường Nguyễn, chị ta vội sụp xuống lạy rồi vừa khóc vừa nói:
- Thưa quân sư, xin ngài rủ lòng thương, ra tay cứu giúp mẹ con thiếp…
Nguyễn không hiểu chuyện gì, liền ngồi dậy ngay ngắn hỏi:
- Chị muốn ta giúp việc gì, xin cứ nói. Nếu giúp được, ta sẽ không từ chối.
- Dạ, thưa quân sư, nguyên nhà thiếp ở phía sau doanh trại, trên phần đất mà ngày mai quân sư cho quân sĩ phát dọn. Thiếp cũng biết việc quân là cần kíp, nhưng ngặt nỗi thiếp vừa sinh nở xong, các con còn yếu quá, chưa thể nào dời đi nơi khác được, xin quân sư thư thả cho ba ngày, thiếp sẽ thu xếp dọn đi nơi khác, lúc ấy quân sư sẽ cho phát dọn.
Nguyễn trầm ngâm suy nghĩ. Việc phát quang doanh trại là cần thiết, nhưng lùi lại ba ngày thì cũng chẳng hề gì.
- Được, ta đồng ý lùi lại ba ngày, chị cứ về thu xếp.
- Xin cảm tạ ân đức của quân sư. Kiếp sau xin cắn cỏ ngậm vành đền ơn cứu mạng.
Thiếu phụ nói xong liền sụp xuống lạy tạ ơn rồi cáo biệt ra về. Nguyễn lại chìm sâu vào giấc điệp.
Sáng hôm sau, khi Nguyễn giật mình tỉnh giấc thì trời đã sáng bạch. Nhớ lại giấc mộng hồi hôm, ông liền vội vã ra mé sau doanh trại xem thử thế nào thì đã thấy khói mịt mù, mấy tên quân đang thi nhau phát cây, đốt cỏ. Nguyễn quát lớn:
- Dừng tay!
Đám nghĩa quân lập tức dừng tay, ngơ ngác nhìn Nguyễn chờ đợi, Nguyễn gọi người cơ trưởng đến hỏi:
- Từ sáng đến giờ phát dọn ở đây, người có thấy gì lạ?
- Bẩm quân sư, chẳng thấy gì lạ cả.
- Thế ngươi có gặp một người đàn bà và mấy đứa nhỏ?
- Bẩm không. Cơ trưởng khẳng định.
- Lạ nhỉ? Nguyễn băn khoăn. Thế các ngươi không gặp chuyện gì thật sao?
Người cơ trưởng suy nghĩ hồi lâu rồi mới sực nhớ ra:
- Bẩm, có gặp một ổ rắn lục, chúng con đã đập chết cả rồi.
- Trời! Nguyễn kêu thầm trong bụng, nhớ lại hình ảnh người đàn bà mặc bộ đồ màu xanh cỏ non trong giấc mộng. Ông bảo người cơ trưởng dẫn đến coi xác rắn. Một con rắn lục màu xanh éo, dài cả thước, đã bị đập dập đầu, bên cạnh là xác ba con rắn bằng khoảng mút đũa. Nguyễn bàng hoàng nhìn đám xác rắn, cảm thấy ân hận vô cùng. Xưa nay, ông là người thủ tín như thủ đức, vậy mà hôm nay không ngờ lại trở thành một kẻ thất tín, làm cho cả một gia đình rắn phải chết oan uổng. Càng nghĩ, Nguyễn càng cảm thấy bứt rứt không yên.
Đêm đó, Nguyễn chong đèn ngồi đọc sách trong trướng, lòng bần thần khó tả. Bỗng đâu từ trên cao rơi phịch xuống một giọt máu đỏ tươi, trúng ngay vào trang sách đang đọc. Nguyễn giật mình nhìn kỹ thấy giọt máu ấy rơi ngay vào chữ “Đại”, lật lên thì thấy thấm đúng ba tờ. Nguyễn vội vàng buông sách nhìn lên thì chẳng thấy gì cả, chỉ nghe tiếng gió rít ngoài trời như có ai đó vừa lướt qua. Đêm đó Nguyễn nằm suy nghĩ mãi mà chẳng thể nào hiểu được ý nghĩa của sự việc. Từ ấy đêm ngày lo lắng, linh cảm có một tai họa nào đấy chắc chắn sẽ xảy ra, chưa biết là ngày nào.
2. Hai mươi năm sau, Nguyễn bây giờ đã là một bậc khai quốc công thần, đứng đầu bá quan văn võ. Một hôm, nhân lúc rảnh rỗi, Nguyễn cải trang thành thường dân dạo ra Tây Hồ ngắm cảnh. Đang vui bước trên đường, ông bỗng sững người dừng lại trước vẻ đẹp mê hồn của một người con gái đang đứng bên hàng chiếu. Không, không thể nói đơn giản là đẹp được, mà phải gọi là một tuyệt thế gian nhân thì mới đúng. Có lẽ nhị Kiều của Tôn Quyền và Chu Du cũng đẹp đến nhường này là cùng. Nguyễn còn đang lan man ngẫm nghĩ thì đã nghe giọng oanh thỏ thẻ:
- Mời quan mua chiếu ạ!
Nguyễn giật mình cười giả lả:
- Ta cũng như mọi người, sao gọi là quan lớn?
Người đẹp vừa cười duyên vừa nhỏ nhẹ trả lời:
- Dạ thưa, ở thành Thăng Long này, ở đất Đại Việt này, còn ai mà không biết quan lớn là…
Nguyễn hớt lời, vui vẻ:
- Quan lớn khi chơi thì cũng là thường dân thôi. Dám hỏi quý danh của nàng là gì cho tiện xưng hô?
- Dạ thưa, tiểu nữ là Lệ, chữ Lệ trong câu thơ “Đã mấy thu nay để lệ nhà - Duyên nào đeo đẳng khó chẳng tha…”
Nguyễn bật cười ha hả:
- Không ngờ mấy câu thơ vụng về của ta mà nàng cũng thuộc, thật là hân hạnh, hân hạnh…
Người đẹp cười e thẹn, nói như rót mật vào tai, câu trầm câu bỗng, như ru như gợi:
- Tiểu nữ còn nhớ đó là hai câu đầu trong bài thứ tám của tập “Ngữ y”. Trong bài đó, tiểu nữ thích nhất là câu “Người mòn mỏi hết phúc còn ta…” Người thân đã lần lượt chết hết, chỉ mình ta may còn sống...
- Ồ, không ngờ nàng lại hiểu ra đến thế. Quả đúng như lời người xưa đã nói: Thiên hạ mênh mang, ở đâu cũng có người tri kỷ. Trên đời này, nếu được làm bạn với một hồng nhan tri kỷ như nàng thì quả là vạn phúc, vạn phúc…
Người đẹp đôi má đỏ bừng, cúi đầu vân vê tà áo:
- Quan lớn quá khen, phận tiểu nữ nghèo hèn, ai thèm đoái hoài tới?
Nguyễn khẳng khái:
- Nếu nàng không chê ta già cả, xấu xí, từ nay ta nguyện cùng nàng kết mối tâm giao!
Người đẹp ngước nhìn Nguyễn, đôi mắt long lanh như sóng nước hồ thu làm Nguyễn rung động cả người:
- Nếu được vậy, thì đó là phước phận của tiểu nữ.
Từ ấy, cứ dăm bảy ngày, Nguyễn lại đến Tây Hồ một lần để cùng người đẹp chuyện trò, đàm luận văn chương. Anh hùng hạnh ngộ giai nhân, người làm thơ gặp được người tri kỷ, tình chưa trao mà thắm, duyên chưa ngõ mà nồng, chẳng bao lâu hai người say nhau như mây với gió, như nước với thuyền. Lạ một điều là tuy gần gũi như vậy mà Nguyễn vẫn không biết gốc tích nàng ra sao. Cứ mỗi lần hỏi đến, nàng đều bảo rằng mình mồ côi cha mẹ từ hồi còn nhỏ, hiện sống với một bà dì ở tận Linh Sơn xa xôi, mỗi khi đem chiếu ra kinh bán đều phải ở lại nhà trọ? Thấy nàng luôn tìm cách tránh trớ, Nguyễn cho rằng có lẽ nàng có mối khổ tâm nên cũng không tìm cách gặn hỏi.
Quen nhau gần được một năm thì nàng đồng ý theo về nhà Nguyễn, sớm hôm sau hầu hạ để đáp đền ơn tri ngộ. Phần Nguyễn từ lúc có nàng, mọi việc đều trở nên hanh thông, thuận lợi. Vào triều thì được vua sùng ái, về nhà thì được nàng hết lòng chăm sóc, Nguyễn như người tu tiên đắc đạo.
3. Ngày tháng êm đềm trôi nhanh, một hôm, Nguyễn đang cùng nàng ngồi thưởng hoa bên hồ thủy tạ thì có tin vua ngự giá đến thăm. Nguyễn vội vàng cung thỉnh thánh giá. Vua tôi cùng vào đại sảnh, Nguyễn bày tiệc đãi vua. Rượu được vài tuần, vua vui vẻ hỏi:
- Trẫm nghe nói Quốc công có một nàng hầu vừa xinh đẹp vừa hay chữ, sao không mời ra đây cùng uống rượu, bình thơ?
Cực chẳng đã Nguyễn phải gọi nàng ra hầu rượu. Vua vốn còn rất trẻ, vừa nhìn thấy nàng đã bấn loạn tâm thần. Không ngờ trên đời này lại có người đẹp đến vậy. So với nàng, đám phi tầm mỹ nữ trong hậu cung còn kém xa. Nàng lại nói năng trôi chảy, ứng đối lưu loát khiến vua càng thêm yêu quý. Hôm ấy vua uống hơi nhiều nên bị mệt, khi hồi cung nàng được lệnh phải tháp tùng theo xa giá để chăm sóc long thể.
Sáng hôm sau, quan thái giám là người đầu tiên phát hiện ra cái chết của vua. Triều đình lập tức bắt nàng tống giam vào ngục, sau đó Nguyễn cũng bị bắt.
Hình bộ thụ án, quyết rằng Nguyễn và vợ âm mưu giết vua tính chuyện phản nghịch nên xử tru di tam tộc. Cả gia tộc Nguyễn gần một trăm người, chỉ có duy nhất một người là công tử út nhờ đi vãn cảnh chùa mà thoát nạn, còn lại tất cả đàn ông con trai đều bị chém, riêng số đàn bà con gái bị cạo đầu sung vào làm nô tỳ tại các phủ.
Ngày ra pháp trường, Nguyễn đứng trước đoạn đầu đài, ngửa mặt lên trời than:
- Tam đại…tam đại… Đến bây giờ thì ta đã hiểu, tam đại là ba đời! Không ngờ đó lại là một lời nguyền oan nghiệt! Ta chết đã đành, còn những người vô tội kia, cớ sao lại bị liên lụy?
Nàng quỳ bên Nguyễn, nước mắt đầm đìa:
- Ơn đền oán trả, lệ thường xưa nay vẫn thế. Kiếp sau nếu được tái sinh cùng nhau, thiếp xin nguyện suốt đời đi theo hầu hạ tướng công.
Nói vừa xong thì mây đen ùn ùn kéo tới, che lấp cả mặt trời buổi trưa. Đúng giờ ngọ, một tiếng “chém” khô khóc văng lên, trời bỗng nhiên sấm vang chớp giật rồi gió to mưa lớn nổi lên ầm ầm như thể đất trời đang trút cơn thịnh nộ.
Năm ấy, Nguyễn sáu mươi hai tuổi.
N.M.K




