Vụ lúa hè thu năm nay bà con nông dân làng Triệu Hòa sạ gần như không bỏ một thửa ruộng nào. Vụ lúa trước được mùa to nên bà con hứng khởi lắm.
Chủ nhiệm Tân và trưởng làng Cảnh đón chủ tịch huyện về thăm, đi hết đồng gần ruộng xa, rồi vào quán cô Thi uống nước trà ngon. Chủ tịch huyện khen:
- Triệu Hòa các anh giỏi lắm, lúa đang thì con gái đẹp mơn mởn xanh rờn trước gió đồng thật sướng con mắt.
Được chủ tịch huyện khen, trưởng làng Cảnh, chủ nhiệm Tân vui lắm, dịu giọng than:
- Báo cáo anh, lo lắm ạ.
- Lo cái nỗi gì…
- Thưa chủ tịch, đập Trấm chặn dòng khi lúa Triệu Hòa sắp ra đòng mà gặp hạn là…
Chủ tịch huyện ngắt lời:
- Thế máy bơm đến đâu rồi?
- Báo cáo anh, mua được máy rồi, nhưng tiền mua dầu và thợ chạy máy bơm mới gay chứ.
- Triệu Hòa khó vậy sao.
- Báo cáo anh có bao nhiêu dành được, mua cái máy bơm là vét túi.
- Được rồi, có gì tôi bàn với thủy lợi. Nếu vì chặn dòng sớm gây thiệt hại thì bù cho một ít tiền, huyện giúp thêm một ít, được chưa. Cứ thế nhé, đừng để lúa khô nước là là… không được đâu đấy. Nói với chủ tịch xã, tôi đến và đi đột xuất, thứ sáu mời ra huyện gặp tôi. Chủ tịch lên xe, ô tô của huyện nghèo coi bộ dễ sa lầy đường làng không may bánh sa xuống ổ trâu.
Hai vị quan làng tự thưởng cho mình thuốc trà ở quán cô Thi:
- Pha cho anh ấm trà Thái móc câu. Mà sao quán chẳng có kẹo bánh loại kha khá vậy cô. Lấy cho gói A Lào.
- Báo cáo trước để hai anh biết. Hai anh ký sổ kha khá rồi đó, em cụt vốn rồi.
- Yên chí, cuối tháng sòng phẳng hết.
- Dẹp ba chuyện vặt, thợ bơm nước đến đâu rồi…
- Đang lấn cấn đây, một anh nhận lời, nhưng làm đêm, ban ngày bận chạy cho xã mình.
- Thì phải vậy thôi.
- Ông nói nghe ngon như dồi chó rượu gạo. Ai thổi cơm, lại tiền công gấp rưỡi. Liệu bà con có thông cảm, hay rồi lùm xùm thanh tra mệt mỏi lắm.
Tân đang thưởng thức vị chát trà Thái đề xuất:
- Ta nhờ cô Thi thổi cơm, có phải thuận tiện không. Ăn ở đây ra nơi đặt máy có bao xa…
- Cô Thi giúp cho hợp tác xã chứ?
- Thì để anh ta về đây có muốn không mới thổi…
- Đó là tôi yêu cầu, vài ngày thợ về đây tôi bàn lại với cô.
- Dạo này buôn bán ra sao, có trụ được lâu dài không? Thôn rồi xã giải quyết cho cô lắm người thắc mắc đó nghe.
Tuổi ba nhăm, Thi không tươi xuân như mươi năm về trước. Người mập ra, tuy khuôn mặt còn cái nét trong trắng. Nhờ mái tóc dày và dài quá gối, da trắng nên ai nhìn cũng ưa. Nhiều gã trong làng, trong xã mò đến tán, hòng kiếm một tình thương chóng vánh. Tất cả bị Thi cự tuyệt. Sợ chuyện lộ ra vừa tai tiếng, vợ con họ tìm đến đánh ghen, làm sao chống đỡ.
Ngày ấy Thi là du kích của xã, một mảnh đạn pháo tiện gọn đùi bên phải. Thi mất đi chân phải quá gối trước ngày quê nhà giải phóng. Nhờ bộ đội cấp cứu ở trạm quân y dã chiến, vết thương chóng lành. Thi thành thương binh, nhưng không phải bộ đội, chẳng có chính sách gì, chỉ có trợ cấp ít ỏi.
Sau chiến tranh, kinh tế khó khăn, mà người cần đền ơn đáp nghĩa thì nhiều. Xã, thôn cho Thi mở quán bán lặt vặt, bao thuốc, gói kẹo, cái khăn mặt để trụ được qua ngày. Vậy mà mấy ai thông cảm, lại eo xèo. Bọn trẻ mua chịu, Thi không bán, chúng đặt điều nói bậy gọi xách mé mụ què.
Mùa mưa gió, Thi nằm tại quán trong cảnh cô đơn. Giá như có một mái ấm, một đứa con… Nước mắt chảy dài như giọt mưa long tong ngoài mái tôn xám đầy vết thủng.
Tháng tư năm ấy, một anh bộ đội người Bắc đẹp trai lạc đơn vị. Thi đưa anh xuống hầm bí mật trong cảnh vây ráp của lính địa phương. Cả ngày hôm ấy, hai người ăn cơm khô, uống nước trắng. Hầm cá nhân, nay hai người đành chấp nhận đùi chạm đùi, ngực chạm ngực. Mấy lần phải bất đắc dĩ đi vệ sinh. Nếu ở trên mặt đất thì ngượng chín mặt. Quá trưa anh bộ đội buồn ngủ, cứ tựa vào Thi mà ngủ, hai đầu chạm vào nhau. Đến gần chiều Thi cũng gục vào vai anh ta. Cả hai người có lúc căng cứng, có lúc chùng lại trong cái hầm bí mật. Thời gian ngưng đọng dưới bóng tối cho đến khi có tín hiệu an toàn, cả hai thở phào thánh thiện. Anh bộ đội vui mừng thoát chết ôm hôn Thi và bảo: “Anh tên là Thế quê ở Hà Nam, Thế yêu em”. Thi xúc động nắm tay Thế hẹn tìm nhau sau chiến tranh.
Giờ thì tiếc lắm, nếu xảy ra chuyện ấy, biết đâu Thi đã có một đứa con lên mười làm chỗ dựa về già. Nghe đâu đơn vị của Thế tiến đến cầu An Lỗ cách Huế không xa thì cả tiểu đội hy sinh.
Đêm nào có mưa, nhớ chuyện mười năm dưới hầm là mất ngủ. Sáng ra phờ phạc như một trận ốm.
Thi đang dọn lại kệ hàng thì chủ nhiệm Tân đưa người khách lạ đến.
- Cô làm gì đó, tôi đưa người nhờ cô thổi cơm đến đây.
Thi ngừng tay, bê cái ghế đến bàn nước mời hai người ngồi.
- Ta đi vào chuyện cơm nước để anh Điền còn ra xem nơi đặt máy.
- Thế này cô Thi ạ, anh Điền chạy máy bơm nước cho hợp tác xã vào ban đêm. Ban ngày anh làm xã khác cách đây đến 20 cây số. Cô nấu giúp bữa cơm chiều. Hợp tác xã cân đối gạo cho cô. Cô lo thức ăn tương đối để anh thợ có sức mà làm đêm.
- Cơm thì thổi giúp, còn thức ăn làm sao được, hoàn cảnh em chợ búa thất thường, nên… khó.
- Có gì dùng nấy, ai đi chợ thì gửi.
Sau một hồi trao đổi, Thi đồng ý nấu cơm một ngày một bữa vào tầm chiều. Hai người để xe đạp ở quán rồi men theo bờ ruộng đến nơi đặt máy cũng chẳng bao xa. Chủ nhiệm Tân và thợ máy Điền đưa mắt ước chừng phải chạy bao nhiêu giờ máy, nước mới vào được chân ruộng cao. Sau khi xem xét cái máy, hỏi chính thức mấy giờ ngày mai thì có xăng nhớt. Họ trở về quán, Thi đã pha trà, để gói thuốc ngồi chờ hai người.
- Hai anh uống nước.
- Cô Thi hí, chiều mai khoảng năm giờ, nấu cho ba người ăn, để họ vào việc, còn những ngày sau thì chỉ có anh Điền thôi. Khi nào anh Điền có nhu cầu ăn khuya cháo hay chè xôi gì đó thì cô giúp, hai người cứ việc thảo luận với nhau.
Bữa cơm đầu thật vui vẻ, khá tươm tất. Có cá nấu măng chua, trứng vịt đổ chả, cá nục tươi kho rim nước, thêm mấy món phụ quê nhà. Điền ăn uống khá tự nhiên, chứng tỏ anh chàng đã ăn cơm thiên hạ mòn răng. Thi không chịu cùng ăn, lấy cớ làm những việc lặt vặt. Cô để ý Điền từ hôm mới gặp. Thật khó đoán tuổi, nhưng nét mặt chưa đến bốn mươi. Tay dài khỏe, cặp mắt nhìn thẳng nghị lực, tóc rễ tre đen mun. Ngực nở, người cao hơn Tân cả gang tay. Đàn ông mà như vậy có lẽ khoáng đạt lắm. Thi thấy cảm tình với người thợ máy mới quen.
Tân ngồi lại dặn dò thêm:
- Này cô Thi, khó khăn lắm mới mời được anh ta về chạy máy cho hợp tác xã. Cô giúp một tay bằng cách nấu cho anh ta ăn như hôm nay là được. Có gì tôi tìm cách… Trời có lẽ hạn, lúa đẹp lắm mà cần nước. Thiếu nước là sản lượng tụt ngay.
- Thì em cố gắng giúp hợp tác xã bằng công sức, còn…
- Còn tiền bạc thì chúng tôi có trách nhiệm. Thuốc men, anh ta mua chịu thì cô ghi sổ, trong phạm vi mỗi ngày một bao. Thế nhé, tôi đi ra xem họ làm ăn ra sao.
Tiếng máy nổ xình xịch từ xa đưa lại nghe êm êm. Trời đã lờ mờ, Thi châm đèn, cái quán và cũng là nơi ở của một con người đơn độc không còn tối tăm như đêm tối trời có mưa. Một mảnh trăng non lấp ló đằng sau bụi tre già lọt qua phía trước quán nhỏ. Gió từ sông thổi lên thật dễ chịu.
Khi Thi bước ra khỏi quán thì trăng đã nhuộm vàng cánh đồng ngút tràn tầm mắt. Có nước kịp thời, lúa xuân thì được sức trổ mã hứa hẹn một vụ hè thu sây bông nặng hạt, được mùa to. Tiếng máy chạy êm tai đều đều vọng đến quán xua đi cảnh cô đơn của làng quê thuần nông đã bao đời.
Từ ngày Điền đến ăn cơm tuy có bận rộn hơn, nhưng Thi thấy vui. Bữa ăn nào cũng có tô canh hay món gì đó lạ miệng. Bữa nào cơm còn là Thi hỏi Điền tại sao ăn ít. Rồi hôm sau món ăn được thay đổi.
Dần dà Thi cũng biết được chuyện nhà chuyện riêng của người thợ bơm. Điền đã ba tám tuổi, vậy là hơn cô đến chín tuổi. Chị vợ buôn vặt đủ thứ ở cái chợ huyện mới xây dựng lại sau năm 1975. Họ có với nhau hai con gái. Đứa đầu đã học lớp ba, còn đứa sau gần ba tuổi, nhờ bà ngoại trông coi. Cuộc sống khá vất vả, buôn bán nhỏ khó khăn, nếu không có bàn tay thợ lành nghề của Điền đi chạy máy nước cho các hợp tác xã để mỗi năm kiếm được cả chục tạ thóc thì gay go lắm. Vợ có thai đứa thứ ba mấy tháng thì gặp sự cố thai sản. Ước muốn có đứa cháu trai của nội ngoại tiêu tan. Người vợ trở nên thầm lặng và gầy rạc đi.
Một tháng qua đi nhanh chóng, lúa đã ngập đồng hứa hẹn một vụ bội thu. Đêm qua lại có mưa, máy không chạy, Điền ngồi chơi đến khuya ở quán với Thi. Hai người nói bao chuyện xa gần về hiện tại tương lai. Điền mượn chiếc nón dùng đèn pin trở ra cái lán giữa đồng. Trời vẫn mưa, khuya lắm, không thể ngủ lại quán được.
Đêm sau nữa, trời có trăng rất sáng, sau bữa cơm Điền bảo sắp xa Triệu Hòa rồi. Thi nghe mà nao nao như mất mát cái gì. Điền hỏi Thi lấy một bao thuốc nguyên rồi lật đật chạy ra với máy. Hình như có ai đến. Và đúng là Cảnh đến thật. Điền phân trần.
- Tôi vào mua bao thuốc lá để thức đêm.
- À tôi có đem cho anh cả gói đây, máy móc ổn chứ.
- Ổn thôi, mong trời mưa cho vài lần nữa là ăn chắc, đỡ tốn xăng nhớt.
- Tôi đang họp.
Nói rồi Cảnh đi nhanh về phía làng, trăng lên sáng ngập đồng lúa, gió từ sông thổi dìu dịu, không khí thật trong lành. Điền nhìn trời nhìn trăng, nhìn đồng lúa bắt đầu ngậm sữa hứa hẹn được mùa. Thấy vui và tiếc sẽ xa nơi đây.
Từ phía quán Thi, có ai đi ra cánh đồng. Ai nhỉ, trăng sáng và Điền chăm chú nhìn. Cô Thi, không lẽ... mà cô ấy ra đây làm gì. Nhưng rồi dáng đi của người khuyết tật một chân mà Điền đã quen quen mấy bữa nay không thể ai khác.
Trăng sáng quá và Điền không thể nhầm được. Thi đã đến không còn xa cái lán nữa, Điền chạy nhanh đến đón. Ôi cô Thi, có việc gì mà đi cho cực thân.
- Anh bỏ quên cái máy quẹt, Thi đem ra để anh hút thuốc.
- Khổ thân cô.
Anh đỡ Thi ngồi xuống cái giường tre đã có chiếu chăn. Thi ngồi hơi lệch người bởi thương tật và thở gấp.
Ngoài kia trăng sáng đẹp, gió thổi chiều từ sông lên, lúa rì rào như vui đùa trước cảnh bình yên của đất trời và bàn tay con người, để có một cánh đồng bạt ngàn đem lại no đủ cho dân làng.
Điền lúng túng chẳng biết làm gì, còn Thi bảo anh ngồi xuống cạnh mình, rồi nói bâng quơ:
- Anh ngủ thế này khuya chắc lạnh?
Tiếng máy chạy no dầu, tròn tiếng êm êm. Điền bảo quen rồi, mà có ngủ đâu, đề phòng máy có sự cố, nên thức luôn.
- Thế ngày có ngủ bù không?
- Có hôm ngủ hôm không.
Và họ im lặng, nghe hơi thở của nhau.
Chích chèo chèo hót… Chích chèo chèo hót… Thi ôm chầm rất chặt Điền run lên trong hơi thở.
- Con chim ma anh ơi, em sợ lắm. Thế là làng này ngày mai sẽ có người chết.
Thi ôm chặt Điền, da thịt người phụ nữ thanh tân mát mẻ truyền cho anh sự rạo rực tuổi tráng niên. Anh đáp lại bằng đôi tay khỏe chắc của người thợ máy và hôn lên tóc vừa gội lá sả. Một mùi thơm hương đồng gió nội khiến anh ngây ngất. Họ say nhau, họ hiến dâng, họ tan ra trong trận sóng tình hết đợt này đến đợt khác chẳng khác mùa đại hạn gặp trận mưa dài không dứt. Cho đến khi tiếng máy lục cục, Điền mới bừng tỉnh.
- Bỏ mẹ rồi máy khô dầu.
Điền choàng vội cái áo qua người chạy nhanh ra tắt máy. Trăng sáng chẳng khác ban ngày, bàn tay người thợ sờ lên từng bộ phận của máy và ngửi mùi dầu. Máy vẫn mát mùi dầu chưa khét, vậy là yên tâm. Điền múc dầu lấy phễu theo quy định đã thành thạo. Chùi tay vào cái áo lót đã cũ làm giẻ lau.
Thi ngồi nhìn trăng, tóc dài mượt chảy dài sau lưng làm nổi chiếc áo dệt kim màu trắng có tay chẳng khác nào pho tượng sống.
Điền đến ngồi cạnh, cầm tay Thi nhẹ nhàng hỏi:
- Em muốn về sao?
Thi không trả lời mà hỏi bâng quơ:
- Mấy giờ rồi?
- Chịu, nhưng cũng nửa đêm rồi. Anh đưa em về nhé.
Thi vấn lại tóc, nũng nịu. Điền ôm Thi nhẹ nhàng như một cô bé. Da thịt ấm mềm và hai bầu ngực của Thi như có sức mạnh xiết chặt thêm đôi tay của người thợ máy khỏe mạnh không thể dứt ra.
Ngoài kia trăng rất sáng, trời đất yên bình, chỉ có lúa đón gió mát từ sông thổi tới. Thi nhìn cái quán của mình lờ mờ xa, đột nhiên hỏi Điền.
- Có ai đặt tên con là Trăng không anh?
- Có lẽ chưa có ai. Mà sao Thi hỏi vậy.
- Là nếu hôm nay em có… với anh, thì em sẽ đặt con tên Trăng.
Khi Điền trở lại cái lán thì gà cuối làng đã gáy râm ran. Anh nằm lên cái giường tre còn ấm nóng hơi người phụ nữ đã dâng hiến cho mình nguyên vẹn. Anh lại tiếp tục công việc cho máy chạy để bù lại thời gian đã mất.
* * *
Hơn một năm sau, trong cái quán nhỏ đã có tiếng khóc của trẻ vài tháng tuổi. Thi đẩy tao nôi và cất lên giọng hò mượt mà của làng quê tự thuở nào.
“À ơ hờ.. rồi mùa toóc rạ rơm khô, bạn về xứ bạn à ơ hơ, thì biết nơi mô để ơ... tìm...”
Huế, 01/2015
N.L




