|
Ô |
ng Đoàn hết trở mình bên này lại lật mình bên kia. Đêm nay đã là đêm thứ hai, rất khuya rồi ông vẫn không sao ngủ được. Chiếc đồng hồ đặt trên nốc tủ cứ lách cách, lách cách… đều đặn, tiếng nó không to, nhưng âm thanh phát ra vào những lúc khuya khoắt này khiến người đang thao thức cứ phải chú ý đến, thế là lại càng không sao chợp mắt được. Ông cũng đã cố quên đi mọi chuyện, cố quên đi… người đàn bà ấy, quên đi tất cả. Khuya lắm rồi, mệt mỏi lắm rồi, ông muốn ngủ một giấc thật ngon để ngày mai làm việc. Chuyện gì còn có đó, ngày rộng tháng dài lo gì không giải quyết được. Nhưng ông vẫn không sao ngủ được. Hình ảnh người đàn bà vẫn cứ hiện ra rờ rỡ trước mắt ông. Hơn năm năm làm cục trưởng ở đây, với một núi công việc liên quan đến ngành hải quan do ông “đứng mũi chịu sào”, chưa bao giờ ông gặp một trường hợp khó xử như trường hợp này. Phòng bên mấy đứa con ông đều đã ngủ say. Ngoài kia, phố xá cũng đã im lìm như ngủ, tất cả mọi âm thanh đều đã tạm thời lắng lại nhường chỗ cho một không gian yên tĩnh, trong lành. Chỉ mình ông trong đêm khuya thức một mình, trăn trở một mình. Phải giải quyết việc này như thế nào đây? Câu hỏi như một mũi dao vô hình ngoáy sâu vào từng tế bào trên cơ thể ông, khơi dậy trong ông biết bao nỗi niềm thầm kín. Là một cán bộ hải quan có thâm niên trên ba mươi năm trong ngành, dù ở cương vị nào, được phân công làm việc gì khó khăn, vất vả đến đâu, ông cũng là người luôn luôn hoàn thành nhiệm vụ. Rồi hơn mười năm làm phó cục trưởng, hơn năm năm làm cục trưởng, lãnh đạo cả một tập thể hàng mấy trăm con người, ông đã thể hiện được mình là một cán bộ xốc vác, năng nổ, có uy tín, được trên trọng dưới kính. Từ trước đến nay, mọi công việc xảy ra trên địa bàn, dù to nhỏ nặng nhẹ gì, khi được cán bộ cấp dưới đề xuất ý kiến, với chức trách quyền hạn của mình ông đều chỉ thị giải quyết một cách chóng vánh, thấu tình đạt lý. Vậy mà lần này chỉ một việc cỏn con ông đã phải nghĩ suy đến đau cả óc suốt từ hôm qua đến nay vẫn không sao tìm được cách giải quyết thỏa đáng. Lúc thì ông quyết định thế này, lúc lại quyết định thế kia. Rồi suy đi nghĩ lại, ông thấy cả hai cách giải quyết, cách nào cũng không ổn. Trong tình trạng bế tắc, lòng dạ ông càng thêm rối bời, xen một chút buồn bả, lo lắng. Không biết lúc này đã mấy giờ rồi nhưng ông thì đã nghe rất rõ tiếng gà gáy từ đầu phố bên kia vọng sang. Chắc cũng phải quá nửa đêm rồi! Không ngủ được, ông ngồi dậy, nhẹ nhàng đẩy cửa đi ra ngoài hiên và ngồi lại ở đó nhìn ra xa, rất xa…Ừ, mới đó mà đã hơn ba mươi năm rồi! Thời gian như ngọn gió trôi qua thật nhanh, chả trách mái tóc ông ngày một thêm nhiều sợi bạc. Còn người ấy, người đàn bà khiến ông phải trăn trở cả đêm, chắc nay cũng không còn trẻ nữa. Hơn ba mươi năm trôi qua, tưởng đâu mọi chuyện đã khép vào quá khứ, chẳng ai nhớ đến ai nữa. Thế mà nay bỗng từ đâu tất cả lại lần lượt hiện về. Có một cái gì đó không bình thường, không vui trong chuyện này ư? Không, chẳng có gì là không bình thường cả, mà trái lại rất đáng mừng. Ông phải cảm ơn số phận, cảm ơn cuộc đời đã cho ông niềm vui vì được biết tin về người ấy…
Sáng ra, ông Đoàn ăn uống qua quýt rồi đến cơ quan thật sớm. Ông ngồi vào bàn làm việc, mở tập tài liệu đọc lướt qua một lượt rồi đặt bút ký. Xong, ông để tất cả về một bên, chỉ cần để vào đúng vị trí ấy, cô văn thư không cần hỏi cũng biết chắc chắn số tài liệu ấy đã được ông ký duyệt rồi. Tính ông vốn vậy, việc gì cũng phải ngăn nắp, đâu ra đấy. Bỗng có tiếng chuông điện thoại, ông vội vàng cầm lấy ống nghe. Từ đầu dây bên kia có tiếng cậu Tuấn, đội trưởng đội chống buôn lậu trên biên giới: “Em gọi về xin ý kiến anh nên xử lý thế nào về số hàng lậu bắt giữ chiều hôm trước ạ?”. Ông trả lời gần như quát: “Còn thế nào nữa, cứ đúng pháp luật mà làm. Đã là hàng lậu, hàng cấm thì cứ tùy theo mức độ mà xử lý”.“ Báo cáo anh đây là lô hàng của…”. “Của ai?”. “Dạ…của bà Mai Thùy ạ!”. Có một cái gì đó chợt nhói đau trong lòng ông khi ông nghe người cán bộ cấp dưới nhắc đến tên người ấy với một thái độ có vẻ hơi nể nang, rụt rè. Hầu hết các nhân viên của ông trên biên giới đã phần nào hiểu được mối quan hệ giữa ông với người đàn bà có tên là Thùy nên mới tỏ ra lúng túng như thế. Chẳng những trên đó mà ngay ở cơ quan cục mọi người cũng đều biết rất rõ “câu chuyện tình” của ông mấy mươi năm trước. Bởi đã có lần ông từng kể cho họ nghe. Rồi khi người đàn bà đó sau mấy chục năm bặt vô âm tính, nay xuất hiện với một bức thư thì họ càng có cơ sở để khẳng định những gì ông kể với họ là có thật một trăm phần trăm. Họ rất hiểu nỗi trăn trở của ông khi đứng trước một sự việc mà giải quyết cách nào cũng không dễ. Một lát trôi qua, ông nói: “Của ai cũng thế thôi, các cậu cứ cho lập biên bản rồi cho hàng vào kho không nể nang ai hết. Hôm trước tôi cũng đã chỉ thị như vậy rồi”. Sau câu nói ông ngồi lặng đi một lúc. Có vẻ như ông rất miễn cưỡng khi phải thốt ra những lời lẽ mà ông hoàn toàn không muốn. Ông thấy mình quá khắt khe nếu không muốn nói là tàn nhẫn khi quyết định như thế. Rồi ông lục tìm xem lại lá thư của người ấy. Sáng hôm kia trong lúc ông đang làm việc thì cô văn thư mang đến cho ông một bức thư. “Thưa chú, có một người phụ nữ nói quen chú gửi lại cho chú lá thư này. Cô ấy đưa cho cháu, cháu chưa kịp hỏi gì cô ấy đã đi ngay rồi ạ!”. Cô văn thư còn tả tỉ mỉ rằng người phụ nữ ấy năm nay khoảng ngoài năm mươi tuổi, dáng người mập mạp, cách ăn mặc có vẻ dân thành phố, nói năng rất lịch thiệp. Cầm trong tay chiếc phong bì ông Đoàn vô cùng ngạc nhiên. Ông có quen ai mà phải gửi thư cho ông bao giờ đâu. Xưa nay mọi mối quan hệ, dù thân hay sơ, dù trao đổi bàn bạc công việc hay chỉ là tình cảm, xã giao…thì thường là người đó trực tiếp gặp ông, nếu không thì chủ yếu liên lạc qua điện thoại, chứ mấy khi gửi thư bao giờ. Mà đây lại là thư của một người phụ nữ mới lại càng ngạc nhiên hơn. Ai thế nhỉ? Ông mân mê chiếc phong bì một lúc trong tay rồi mới đọc qua dòng chữ viết rất nắn nót ở bên ngoài: “Đặng Thị Mai Thùy. Kính gửi anh: Trần Minh Đoàn - Cục trưởng cục Hải quan tỉnh…”. Trống ngực ông đập rộn lên một hồi khi mắt ông vừa chạm ngay những dòng chữ đầu tiên. Rồi ông thốt lên như đang nói một mình: “Mai Thùy ư? Trời ơi, có lẽ nào lại là cô ấy ư?”. Ông lật qua lật lại chiếc phong bì, đọc kỹ lại một lần nữa như sợ mình có nhầm lẫn gì không. Không! Không nhầm lẫn! Đúng là cô ấy rồi! Đúng là Mai Thùy thật rồi! Đúng là người mà ông hằng nhắc nhở, gọi thầm tên trong từng ấy năm biền biệt, không tin tức. Thì ra cô ấy vẫn còn sống chứ không phải đã hy sinh như ông lầm tưởng. Vậy từ ấy đến nay cô ấy ở đâu, cuộc sống thế nào? Mà tại sao đến bây giờ Mai Thùy mới liên lạc với ông? Và rồi bỏ đi không gặp ông chỉ để lại bức thư này? Ông Đoàn tay run run mở lá thư đọc liền một mạch. Rồi ông còn đọc đi đọc lại tới mấy lần nữa mới gấp bức thư cho vào phong bì như cũ.
Bức thư của người đàn bà có tên là Đặng Thị Mai Thùy gửi ông Đoàn được viết trên một mặt giấy học trò, nét chữ nghiêng nghiêng, nhưng rõ ràng, dễ đọc. “Anh Minh Đoàn thân mến! Có lẽ khi nhận được lá thư này anh sẽ rất ngạc nhiên. Nhưng em tin khi đọc xong anh sẽ hiểu tất cả. Hơn ba mươi năm đã trôi qua kể từ ngày ấy. Đất nước, quê hương đã có những thay đổi thật lớn lao. Anh và em, hai người hai hoàn cảnh khác nhau nhưng ở mỗi người đều có những đổi thay nhất định. Từ ngày ấy đến nay, qua bạn bè, người thân em vẫn biết rất rõ về anh và luôn luôn giỏi theo từng bước trưởng thành của anh trên mọi chặng đường công tác. Và em đã thực sự phấn khởi khi thấy anh “công thành danh toại”, xứng đáng với gia đình, quê hương; xứng đáng với lòng mong mỏi của biết bao đồng đội, bạn bè, trong đó có em, những người đã cùng anh chiến đấu, hy sinh trong những năm tháng chiến tranh vô cùng gian khổ, ác liệt trước đây. Còn em, sau lần chia tay với anh cũng không còn ở lại nơi ấy mà theo đà thắng lợi của chiến dịch tiếp tục đi sâu vào tuyến trong. Em chỉ có thể trở lại nơi miền quê có nhiều hoa mai ấy khi nước nhà đã hoàn toàn độc lập và sinh sống ở đấy cho đến tận bây giờ. Mấy chục năm qua, em đã bao lần định tìm đến anh để được tâm sự với anh cho thoả nỗi nhớ mong…Nhưng em đã không làm vậy khi biết anh đã có một tổ ấm gia đình đang tràn trề hạnh phúc. Mấy năm trước em được tin chị nhà mất trong một vụ tai nạn giao thông, để lại anh và các cháu côi cút trên đời. Thú thật với anh lúc đó em đã định tìm đến với anh ngay. Bằng tính nhạy cảm của người phụ nữ và bằng những quá khứ ngọt ngào, yêu thương mà chúng mình từng dành cho nhau, em tin, nếu em đến chắc chắn anh sẽ dang rộng vòng tay đón em. Nhưng, một lần nữa em đã gạt mọi ý nghĩ đó sang một bên. Em không muốn làm phiền anh, không muốn chen ngang vào cuộc sống của gia đình anh khi các con anh không còn mẹ nữa mà cha của chúng lại phải san sẻ tình cảm cho một người đàn bà khác là em. Vả lại, em cũng có một gia đình - tạm gọi là gia đình - và cũng đang sống một cuộc sống như tất cả những người đàn bà khác từng đi qua chiến tranh. Rồi sau này anh sẽ hiểu tất cả về em.
Anh Đoàn thân mến! Bây giờ có một việc em cần nhờ đến anh giúp đỡ. Em biết việc này chỉ có anh mới có thể giúp được cho em mà thôi…”
Phần cuối của bức thư bà Mai Thùy nói với ông Đoàn rằng, bà có một đứa con gái và đó cũng là đứa con duy nhất của bà, hiện nó đã có chồng có con đang sinh sống cùng bà. Nó là một đứa con ngoan, xinh xắn, hiếu thảo với mẹ, yêu chồng thương con, chăm chỉ làm ăn. Nhưng rồi không biết do trời xui đất khiến thế nào mà cách đây chừng một tuần, nghe bạn bè rủ rê, nó dồn tất cả vốn liếng tích cóp được từ hàng bao năm nay, lại còn vay hết số tiền mà bà đã dành dụm, tiết kiệm được để qua lại biên giới buôn bán làm ăn. Ngay từ chuyến đi đầu tiên nó đã bị lực lượng hải quan ở cửa khẩu biên giới bắt giữ tất cả hàng hoá. Bà đã trực tiếp đến đó cầu xin họ tha thứ cho con bà nhưng không một ai nhất trí giải quyết. Vì họ cho rằng lô hàng mà con gái bà đưa từ biên giới sang, chủ yếu thuốc lá ngoại, nằm trong danh mục hàng cấm nhập khẩu. Sực nhớ đến ông, bà đã quyết định viết lá thư này gửi ông. Bà tin rằng, là người nắm giữ cương vị cao nhất của ngành hải quan tỉnh, đồng thời là chỗ tình sâu nghĩa nặng xưa kia chắc chắn ông sẽ không nỡ từ chối giúp bà…Ông Đoàn đọc xong bức thư thì thở dài, buồn vui lẫn lộn. Nét mặt ông lộ rõ niềm xúc động. Đã hai ngày trôi qua đầu óc ông không một phút thảnh thơi. Hai đêm ông trằn trọc, thao thức, không ngủ được. Hôm nay đã là ngày thứ ba ông đến cơ quan trong một trạng thái như thế. Lúc rảnh việc, ông ngả người ra ghế như muốn dành cho mình một khoảng thời gian yên tĩnh để nhớ về một thời đã qua.
Phải gần một tháng sau những vết thương trên người anh mới lành hẳn. Sức khoẻ anh trở lại bình thường. Trong căn hầm giữa rừng sâu, bốn phía là giặc, vẫn chỉ có hai người, một trai một gái sống bên nhau. “Tên em là Mai Thùy, vì quê em là vùng biên cương nên khi sinh em, ba mẹ em đã đặt tên con gái mình là Biên Thùy. Sau này em thấy tên ấy có vẻ hơi con trai nên em sửa lại thành Mai Thùy. Vả lại tên ấy cũng rất có ý nghĩa với em. Vì quê em có rất nhiều hoa mai. Không biết ai đã trồng chúng ở đây và từ lúc nào. Chỉ biết khi lớn lên em đã thấy cả một rừng hoa mai bạt ngàn nơi vùng biên cương này. Bây giờ đang là mùa thu anh chưa biết đấy thôi, chứ chỉ vài tháng nữa khi mùa xuân đến, ở đây suốt cả tháng ròng, lúc nào cũng vàng rực một màu hoa mai trông đẹp lắm anh ạ! Anh có thích màu vàng của hoa mai không? Người ta bảo màu vàng là màu của cách biệt, chia ly, nhưng màu vàng cũng là màu của hy vọng và chờ đợi. Em rất yêu màu vàng, màu vàng của hoa mai em lại càng yêu hơn”. Một lần khi nghe anh hỏi tên, người con gái ấy đã trả lời anh. Mai Thùy là chiến sỹ giao liên của trạm A12 nằm trong rừng sâu, nơi có những con đường bí mật luồn lách đi các ngả mà chỉ người giao liên mới có thể biết. Trạm của cô có bốn người nhưng ba người đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ. Còn lại một mình, Mai Thùy vẫn kiên quyết bám trạm và đã gặp được Minh Đoàn bị thương nằm dưới một hố bom nhờ một lần “băng rừng vượt suối” chuyển công văn. Chưa thể trở lại đơn vị, anh đành ở lại với Mai Thùy và tạm thời trở thành chiến sỹ giao liên. Mai Thùy là một cô gái khoẻ mạnh, rắn rỏi, nước da bánh mật, thứ nước da chỉ con gái vùng biên mới có. Nhưng Mai Thùy lại có duyên và có sức hấp dẫn đến lạ lùng ở đôi mắt. Một đôi mắt đen thăm thẳm. Một đôi mắt mà bất cứ người con trai nào khi nhìn vào cũng phải mê muội, đắm đuối. Minh Đoàn đã thực sự bị chinh phục bởi đôi mắt ấy của Mai Thùy. Cô giao liên cũng không thể từ chối mãi những câu nói, những cử chỉ ngập tràn yêu thương của anh chiến sỹ giải phóng. Và họ đã yêu nhau bằng tất cả tình cảm khát khao ở mỗi người. Yêu đến tha thiết, yêu đến điên cuồng, yêu đến lay rừng chuyển núi. Họ bất chấp tất cả, chỉ biết có yêu. “Anh sẽ yêu em và đợi em cho đến lúc nào nước nhà độc lập, thống nhất anh sẽ cưới em. Chúng mình cùng ở lại vùng biên cương này và sẽ sống bên nhau trọn đời!”. “Em cũng sẽ mãi mãi yêu anh, cho dù sau này cuộc chiến có còn kéo dài và anh có xa em đi đâu đi chăng nữa thì em vẫn không thay lòng đổi dạ mà vẫn ở vậy chờ anh!”. Tiếng hai người lẫn trong tiếng gió rừng lao xao và như chìm đi trong tình cảm yêu thương nồng cháy mà cả hai cùng tự nguyện trao gửi cho nhau. Rồi cũng đến lúc họ phải chia tay. Hôm ấy hai người đã ôm hôn nhau rất lâu, nói với nhau rất nhiều. Và cả những giọt ước mắt của người con gái vương trên mắt người con trai. Mai Thùy đã cắn vào má người yêu đến rớm máu như muốn ghi dấu ấn trên cơ thể anh và gửi gắm tất cả tình yêu thương, hy vọng của mình. Minh Đoàn trở lại đơn vị, tiếp tục hành quân chiến đấu. Từ đó anh không còn nhận được một chút tin tức nào về Mai Thùy nữa. Bao tháng ngày đi qua, bao trận đánh đi qua, đời lính trận nay đây mai đó, nhưng trong lòng anh không một giây phút nào vắng bóng người yêu. Sau giải phóng anh mới có dịp quay trở lại vùng biên, nơi có những rừng mai để tìm Mai Thùy, nhưng nghe nói cô đã theo chân các chiến sỹ giao liên ra đi vào dạo ấy và đã hy sinh, nên anh đành lặng lẽ quay về. Rồi anh chuyển ngành, được cử đi học, lấy vợ sinh con và mấy chục năm qua công tác trong ngành hải quan thì mọi chuyện như đã khép vào quá khứ. Nhớ lại những năm tháng chiến tranh, hình ảnh Mai Thùy luôn nặng trĩu trong anh với biết bao kỷ niệm đẹp. Anh vẫn thầm nhắc tên cô trong những đêm không ngủ, mặc dù bên anh đã có một gia đình ấm êm, hạnh phúc…
Ông Đoàn vẫn ngả người trên ghế, tay mân mê bức thư của Mai Thùy. Chợt ông bỗng giật thót người khi nghĩ tới một điều gì đó. Ông vội mở bức thư đọc lại một lần nữa. Trán ông hằn thêm những nếp nhăn. Bây giờ điều day dứt trong ông không còn đơn giản như ông nghĩ là nên hay không nên bắt lô hàng lậu nữa, mà đó còn là tình cảm riêng tư cách đây mấy chục năm giữa ông với Mai Thùy. Trong bức thư này đâu là tình cảm chân thành, đâu là uẩn khúc mà Mai Thùy còn giấu nhẹm trong lòng chưa muốn thổ lộ với ông? Lại có tiếng chuông điện thoại. Nhưng lần này người đầu dây bên kia là phó cục trưởng Thành: “Tôi đang ở trạm cửa khẩu chỉ đạo giải quyết những tồn động ở đây. Thưa anh, tôi thực sự lúng túng không biết nên thế nào với lô hàng của mẹ con bà Thùy…”. Ông cắt ngang với một thái độ giận giữ: “Không phải sáng nay tôi đã chỉ thị cho cậu Tuấn rồi sao! Anh là lãnh đạo mà cũng chần chừ vậy ư?”. “Nhưng thưa anh đây là một trường hợp đặc biệt. Bà Mai Thùy là người thân của anh. Chúng ta nên…”. “Chúng ta nên tha cho họ chứ gì? Anh có biết làm vậy là sai pháp luật, là tiếp tay cho buôn lậu không? Một lần nữa tôi đề nghị các anh không thể vì cá nhân tôi mà dung thứ cho bất cứ ai”. “Nhưng hôm qua chúng tôi đã thống nhất và đi đến quyết định…”. “Tôi chân thành cảm ơn các anh, nhưng tôi hoàn toàn không nhất trí cách giải quyết đó được”. Tiếng ông nghe thì có vẻ mạnh mẽ, cương quyết vậy nhưng trong lòng ông thì như đang có cả trăm mối tơ vò. Không biết ông làm vậy có tàn nhẫn với ân nhân của ông, tàn nhẫn với người một thời đã gửi trọn tình yêu thương cho ông không? Có thể có ai đó sẽ đánh giá việc làm của ông là xơ cứng, là thiếu mềm mỏng, chỉ có lý mà không có tình, thậm chí sẽ có người còn cho ông là kẻ “vong ân bội nghĩa”, vân vân và vân vân. Dù có đủ lý do để bao biện cho hướng giải quyết của mình, tự lương tâm ông, ông cũng cảm thấy dằn vặt, cắn rứt. Nhưng nếu thử giải quyết ngược lại thì sẽ thế nào đây? Ông có còn là vị cục trưởng đáng để làm gương cho mọi người nữa không? Mọi người sẽ nghĩ gì về ông? Hay lúc đó trong và ngoài cơ quan sẽ suốt ngày rêu rao cái câu đại loại như: “Ông cục trưởng Đoàn vừa ký cái quyết định buông tha lô hàng lậu có giá trị hàng trăm triệu đồng cho người tình xưa…”. Hoặc ai đó có sẵn hằn học với ông, được dịp này nhằm mặt ông mà xỉa xói thì chắc ông cũng chỉ còn có một cách là “ngậm bồ hòn làm ngọt” chứ còn biết làm sao! Thôi, không chần chừ, áy náy gì nữa, cứ thế mà làm. Để chắc chắn, một lần nữa ông chỉ thị cho trạm hải quan cửa khẩu tịch thu toàn bộ lô hàng thuốc lá ngoại nhập khẩu trái phép chờ tiêu huỷ. Hôm ấy trở về nhà, ông đứng ngồi không yên, lòng dạ nôn nao, thấp thỏm. Rồi ông mở tủ lục tìm cái gì đó lẩm nhẩm tính toán một hồi. Xong, ông gọi điện thoại lên biên giới. Khi đã có trong tay cái mà ông cần, nét mặt ông tự nhiên tươi tỉnh hẳn lên. Lúc ấy ông mới thực sự cảm thấy thư thái trong lòng. Và ông cũng tự thấy ông suy nghĩ như vậy và làm như vậy là đúng.
Hai ngày nghỉ cuối tuần, ông Đoàn một mình trở lại vùng biên nơi từng để lại trong ông những kỷ niệm đẹp. Lâu lắm rồi ông mới có dịp thăm lại nơi này. Những ngày sau tết nguyên đán phong cảnh ở đây vẫn như còn nguyên vẹn hương sắc của mùa xuân. Tiết trời thật trong trẻo. Và nắng gió cũng thật dễ chịu. Nhưng đẹp hơn cả, xao xuyến lòng ông hơn cả vẫn là những rừng mai. Ngày ấy ông chưa được nhìn thấy mùa mai nở. Bây giờ trước mặt ông là cả một rừng mai nở muộn. Màu vàng của triệu triệu cánh hoa như một tấm lụa trải dài vắt mình bên những sườn đồi đẹp đến ngơ ngẩn. Người ta chỉ cho ông một ngôi nhà mới xây ngay giữa thị trấn, phía trước trồng rất nhiều hoa mai nói với ông đó là nhà của bà Mai Thùy. Chần chừ một lát rồi thì ông Đoàn cũng mạnh dạn bước vào ngôi nhà ấy. Ông gặp ngay bà Mai Thùy khi bà vừa từ trong nhà đi ra. Tim ông đập rộn lên như trống khải hoàn. Đã lâu lắm rồi ông mới gặp lại cảm giác trẻ trung ấy ở mình. Một phút sững sờ trôi qua, cả hai cứ đứng lặng nhìn nhau mà không nói được một lời. Có vẻ như ai cũng rất xúc động, bồi hồi khi gặp lại nhau. Nếu có thể họ đã lao vào ôm lấy nhau như những ngày cả hai còn ở trong rừng sâu. Nhưng hình như cả hai đã cố nén, cố giữ cho nhau một khoảng cách, cho dẫu khoảng cách đó chỉ là tạm thời, ít nhất là trong lúc này. Cuộc hội ngộ vừa bất ngờ vừa như được báo trước này diễn ra đúng cái nơi họ từng gặp nhau lần đầu. Đó là ngày cả hai hãy còn rất trẻ, phơi phới sức xuân. Ba mươi năm trôi qua, giờ thì tóc ai cũng đã lưa thưa sợi bạc. Gặp nhau họ như quên đi mọi chuyện vừa xãy ra. Họ tránh không đã động gì đến chuyện công tác, làm ăn của nhau. Ký ức về một thời bên nhau cứ thế ùa về. Nó lấn át tất cả mọi mặc cảm, giận hơn, trách móc. Nhưng họ cũng không biết phải nói gì nhiều. Câu chuyện chốc chốc trở nên rời rạc, đứt quãng. Rồi như không biết phải nói gì, hai người lại đưa mắt nhìn nhau. Một chút ngập ngừng, e thẹn ở cả hai và hình như trên khoé mắt bà Mai Thùy có mấy giọt lệ lăn ra chỉ đủ để ươn ướt nơi vành mi. Ba mươi năm trôi qua nhưng đôi mắt bà không khác xưa là mấy. Đôi mắt ấy vẫn đen thăm thẳm, vẫn lay động lòng người. Ông Đoàn đã nhìn rất lâu vào đôi mắt ấy, đôi mắt một thời từng làm ông mê mẩn. Đôi mắt mà trong suốt hàng bao nhiêu năm qua không lúc nào ông nguôi ngoai nỗi nhớ. Và bây giờ khi lại được nhìn vào đôi mắt ấy thì trong ông tất cả quá khứ lại lần lượt hiện về. Những đám lửa, những quầng khói. Căn hầm và rừng mai bên triền núi. Người con gái giao liên và những lời hò hẹn…
Trong lúc ông Đoàn đang mơ màng nhớ về một thời đã qua thì bà Thùy lại đột ngột nhớ tới một chuyện khác. Đó là cách đây mấy ngày, Mai Hương, con gái bà phát hiện trong trong tài khoản cá nhân của nó có ai đó vừa gửi vào hai trăm triệu đồng. Nghe con gái khoe, ban đầu bà hơi ngạc nhiên nhưng rồi bà cũng đoán ra ai là người đã gửi số tiền đó. Theo bà người đó không ai khác ngoài ông Đoàn. Nhưng bà không vội nói với con gái, cũng như bây giờ khi ông Đoàn đến nhà bà cũng chưa vội đả động gì đến chuyện đó. Mãi lúc ông Đoàn đứng dậy ra về, bà Mai Thùy mới rơm rớm nước mắt nói với ông. Rằng bà đã làm phiền ông một việc khiến ông khó xử. Nhưng tại sao ông phải làm vậy? Tại sao ông lại phải mang tiền riêng của ông ra chuyển vào tài khoản của Mai Hương con gái bà? Những hai trăm triệu đồng! Đó là một số tiền lớn cả đời ông dành dụm mới có được. Rằng ông không thể tha cho con gái bà để khỏi mang tiếng dung túng cho kẻ buôn lậu, nên muốn dùng số tiền đó bù đắp cho con gái của bà ư? Hay là ông muốn đền ơn trả nghĩa bà vì trước đây bà đã từng chăm sóc, cứu sống ông? Giọng bà nửa thương cảm, nửa giận hờn, trách móc. Thì ra mọi việc ông làm bà Thùy đã biết cả. Đúng là tuần trước ông đã hỏi trạm hải quan cửa khẩu số tài khoản cá nhân của con gái bà đang được giữ ở đó để chuyển số tiền ấy. Bây giờ nghe bà Thùy nói vậy ông không biết phải trả lời bà thế nào. Có lẽ ông không cần phải thanh minh gì nữa. Bởi tất cả những gì bà Thùy vừa nói đã trả lời hộ ông. “Nhưng nếu chỉ vì vậy thôi thì em xin được hoàn trả lại cho anh số tiền đó.- Bất chợt bà Thùy nhìn thẳng vào mặt ông Đoàn và nói - Đồng tiền rất quý nhưng không phải ai cũng có thể nhận chỉ vì những lý do như thế. Một người như em thì lại càng không bao giờ cho phép mình được làm như thế”. “Anh chỉ muốn giúp em. - Ông Đoàn ngậm ngùi nói. - Từng đó đã ăn thua gì, đã thấm tháp vào đâu so với những gì…”. Bà Thùy cắt ngang: “Em đã nói rồi…nếu chỉ vì thế em sẽ trả lại anh”. “Tại sao?”. “Anh không biết gì ư? - Tiếng bà Thùy trở nên hổn hển. - Anh ngây thơ, khờ khạo đến thế ư? Anh vô tâm đến thế ư? Anh không biết gì cả sao, anh không nhớ chút gì sao? Trời ơi, em biết nói gì đây để anh hiểu. Bao nhiêu năm trôi qua, em đã phải một mình cực nhọc, vất vả nuôi con, một mình chịu đủ lời ong tiếng ve. Anh khờ khạo đến thế sao?...”. Những câu sau cùng phải cố gắng lắm bà Thùy mới thốt ra được. Tiếng bà nghẹn lại như không thể nói thêm được nữa. Nước mắt bà chảy tràn trên má. Rồi bà loạng choạng suýt nữa ngã vật xuống đất. Ông Đoàn bước đến choàng tay ôm lấy bà. Cả người bà như lọt thỏm trong vòng tay ông. Một lát, chỉ một lát thôi nhưng họ cùng có cảm giác gần gũi, thân thiết nhau lạ lùng. Vừa dìu bà ngồi xuống ghế, ông vừa hỏi, giọng lạc đi: “Em vừa nói gì? Em…em nói lại cho anh nghe đi!”. Bà Thùy nhìn ông nói trong nước mắt nghẹn ngào: “Nó đấy! Nó là Mai Hương, là cái con đi buôn lậu bị bắt, là cái con mà anh đã bỏ tiền túi ra cho nó. Nó…nó là con gái của anh đó!”. “Con của tôi ư? - Ông Đoàn kêu lên, cảm thấy chới với như nghe tiếng sét bên tai. - Trời ơi, vậy mà bao nhiêu năm nay anh sờ sờ ra đó mà em không hề cho anh hay biết. Nó đâu rồi? Mai Hương đâu rồi? Con của chúng ta đâu rồi? Em gọi nó về đây cho anh!”. Rồi ông từ từ bình tâm lại nhìn ra bên ngoài. Ở đó, ngay trước mặt ông là những rừng mai. Những rừng mai bạt ngàn, mênh mông một màu vàng rực rỡ.
N.N.C




