Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 15/04/2026 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Miếu trinh nữ

B

à giáoVịn nằm bất động nơi chiếc giường đơn, đôi bàn tay gầy khẳng xếp chồng đặt ngay ngắn trên bụng. Mái tóc xám bạc xõa ra trên làn gối đã ngã màu dưa muối. Khuôn mặt bà trắng bợt, mỏi mòn. Chỉ riêng đôi môi khô hơi nhếch lên như muốn nói điều gì mà không nói được.

            Mới đêm qua, đứa cháu nội ông Vưng còn sang giúp bà trẻ thắp hương cúng ông trẻ nhân ngày tuần. Hai bà cháu còn ríu rít trò chuyện với nhau tới tận lúc đài nổi nhạc đọc truyện đêm khuya nó mới xin phép bà để về học bài. Lúc đứa cháu ra cổng bà còn bảo “Sáng mai qua đây sớm bà để dành cho đĩa xôi phần lộc cúng ông mà ăn lót dạ rồi đi học cho đỡ đói bụng”.

            Bây giờ thì bà đã đi xa. Xa lắm rồi!

            Ông Vưng ôm chặt lấy đầu em gái lay gọi:

            - Em ơi… Em đi mà không nói với anh một lời.

            Mặt người đàn ông ngoài sáu mươi tuổi như đất khô gặp nước muốn vỡ vụn ra. Việc em gái ông bị bệnh tim chẳng thể sống lại là điều gia đình đã biết trước nhưng sao lại là lúc này. Ông cầu mong trời phật cho em mình được đến tuổi lục tuần gia đình sẽ làm lão cho bà trẻ, mà sao…

            Ông Vưng lấy trong tủ ra bộ quần áo lụa trắng mới tinh, được gấp là cẩn thận đưa cho vợ:

            - Mình thay cho cô ấy. Nhớ bảo bọn trẻ lấy kem, lấy phấn trang điểm cho bà…

            Đợi mọi người làm xong việc ông Vưng mới vào buồng. Chiếc giường gỗ xoan mét hai bà Vịn thường nằm không còn khô khốc nữa. Trên nền chiếu cũ là thon thả một thân hình thiếu nữ trong bộ đồ lụa trắng, khuôn mặt như có nắng khẽ hừng lên với cặp môi chớm đỏ. Nhìn em hồi lâu, ông Vưng khẽ lắc đầu rồi ôm mặt. Mọi người nghe tiếng ông nức lên mà ai cũng thấy gan ruột mình như bị thắt lại.

            Cả làng xúm đến lo tang lễ cho bà giáo Vịn. Trước lúc nắp ván thiên đậy lại, ông Vưng đứng trước bàn thờ có thờ ảnh một người chiến sĩ trẻ vái lạy ba vái rồi lấy từ trên ấy xuống một chiếc bi đông cũ trong đựng đầy nước và chiếc hộp gỗ sơn đỏ trong đựng đầy đất ra đầu ngõ, mặt hướng về phía Nam cất tiếng gọi:

            - Ba hồn bảy vía chú Thống ở đâu, sống khôn thác thiêng, gần bay la, xa bay bổng mà về với cô Vịn nhá!

            Lời cắt da cắt thịt ấy được cất lên ba lần. Sau đó ông Vưng lẳng lặng đi vào nhà đặt bình nước và hộp đất vào lòng áo quan, nức nở:

            - Vịn ơi, em đi cho mát mẻ. Cầu xin cho em với chú ấy được đoàn tụ nơi chín suối.

            Nắp áo quan khẽ đậy lại. Một kiếp người đã xong công nợ với đời. Những ngọn nến đỏ lay lắt. Mùi hương trầm ngào ngạt. Tất cả như hòa lẫn với nhau giữa nơi gửi và chốn về…

            Bố mẹ sinh chín lần chỉ đậu lại được hai con. Những anh chị đầu đều chết yểu, mãi sau mới được Vưng, lại mãi sau nữa mới có Vịn. Lúc nghén Vịn mẹ đau yếu luôn, đi đâu cũng phải nhờ người dắt hoặc chống gậy nên khi mẹ sinh gái, bố lấy tên Vịn đặt cho con. Vịn hay ăn chóng lớn. Vịn là lộc trời ban cho bố mẹ. Đến tuổi dậy thì cô thuộc loại xinh gái nhất làng.

            Vào tuổi lấy chồng, nhà Vịn không tối nào là tối không có trai làng đến chơi. Mẹ không dám ngủ sớm. Nhiều đêm bà phải e hèm đuổi khéo khách hoặc nhắc nhỏ con gái về giờ giấc. Vịn biết mẹ sốt ruột nhưng vẫn ý tứ trò chuyện. Cô chỉ có cách đuổi khách duy nhất là ngước đôi mắt lá răm nhìn đồng hồ khi kim giờ của nó sắp nhích đến con số mười. Rồi khách cũng quen và vơi dần dần khi mà người lọt vào tầm ngắm của cô không ai khác ngoài anh chàng nhút nhát con vợ chồng ông đồ nghèo đã khuất, nhà ở cuối làng. Anh là người không dám đến nhà Vịn chơi, chỉ lảng vảng qua cổng nhìn trộm vào. Anh tên Thống, bạn học cùng trường nhưng trên Vịn hai lớp. Họ biết nhau từ lâu nhưng thực sự quen nhau là do hôm trời mưa lụt. Đường đến trường có một quãng trũng dài chừng trăm mét. Học trò nam đến chỗ lội, cởi quần dài, có đứa cởi cả quần cộc rồi lội ào qua cho kịp giờ vào lớp. Hôm ấy Vịn đi muộn. Cả Thống cũng đi muộn. Vịn đứng nhìn quãng đường ngập khóc thút thít. Thống đang định cởi quần áo lội ào qua, nghe tiếng Vịn khóc vội dừng lại. Chẳng hỏi chẳng rằng Thống vào nhà bên mượn cái thúng sơn to. Thống đội thúng trên đầu lặc lè ra đặt lên mặt nước rồi bảo Vịn:

            - Ấy ngồi lên thúng tớ đẩy qua cho không muộn học.

            - Còn anh?

            - Ôi dào… không sao. Nhanh lên…

            Khi vịn ngồi lọt thỏm vào chiếc thúng sơn rồi, Thống cứ quần dài như thế lội ào xuống nước đẩy thúng. Tới bờ bên kia Thống bảo Vịn:

            - Ấy chạy nhanh lên cho kịp giờ học!

            - Còn anh?

            - Ôi dào… không sao!

            Hôm ấy, sau lúc lội quay trả thúng sơn, khi đến trường học Thống bị muộn mất tiếng rưỡi. Trưa ấy, Thống phải ở lại làm kiểm điểm đến đầu giờ chiều mới được về, đói quắt bụng. Vịn biết chuyện, đứng đợi Thống ở ngay cổng làng. Lúc Thống vừa nhễ nhãi bước lên, Vịn len lén nhìn rồi ấp úng hỏi:

            - Anh bị phạt à?

            - Ôi dào… không sao!

            Hình như Thống nghiện câu “Ôi dào…không sao” khiến Vịn bật cười. Tự nhiên Thống nhíu mày:

            - Ấy cười cái gì?

            - Không…

            Biết là Thống tự ái. Vịn dịu giọng hỏi:

            - Anh có đói không?

            - Em bảo này…

            - Gì?

            - Xòe tay ra…

            - Không!

            Vịn lấy từ trong túi sách của mình ra củ khoai luộc to bằng cổ tay dúi vội vào túi áo Thống rồi bỏ chạy. Được một quảng xa cô mới quay lại nhìn. Lúc ấy Thống đã thành chàng thộn đứng ngây ra với củ khoai vỏ tím đang nằm trên tay.

            - Anh ăn đi cho đỡ đói. Em về trước đây!

            Rồi đến chuyện này. Vịn nghe mấy đứa bạn mách không ngày nào là Thống không đi qua nhà Vịn vài lần. Lần nào anh chàng cũng đánh mắt nhìn vào. Hễ thoáng thấy trong nhà có bóng người là bỏ chạy. Biết chuyện, Vịn chủ tâm rình. Lúc thấy Thống đang lơ ngơ đi qua Vịn ào ra chặn đường:

            - Sao không vào nhà?

            - Đông người sợ không đủ thời gian để tiếp.

            - Khinh nhau thế…

            - Ấy là tôi nói tôi…

            Vịn bĩu môi:

            - Dối!

            - Thật mà…

            - Nhỡ người ta lại muốn tiếp người không muốn đến thì sao?

            Thế là hai người yêu nhau. Vịn chủ động hôn người yêu trước. Thống bật cười, mặt nóng ran:

            - Thế nào ấy nhỉ?

            Rồi Thống đi học đại học. Vịn vào sư phạm tỉnh. Ngày Vịn ra làm cô giáo, Thống vẫn đang học năm cuối. Đùng một cái Thống từ trường về nhà. Anh mang theo cả đồ đạc cá nhân về. Tối ấy hai người hẹn nhau ở cái quán ngói giữa đồng.

            Thống bảo Vịn:

            - Anh đi bộ đội Vịn ạ. Quảng Trị đang đánh nhau dữ dội lắm. Lính sinh viên hầu hết vào chiến trường này.

            - Sao đột ngột thế?

            - Thời chiến mà em.

            Vịn lặng người. Nước mắt cô ứa ra rồi chảy tràn trên má:

            - Bao giờ anh đi?

            - Chiều ngày kia phải có mặt ở đơn vị.

            Bất ngờ Vịn ôm chầm lấy Thống, tiếng khóc bật ra cùng tiếng nấc:

            - Anh Thống…

            - Gì thế em?

            - Em sợ!

            Người Vịn run rẩy, oặt mềm. Cô lả đi trong vòng tay Thống.

            - Hay là.

            - Anh bảo gì?

            - Mai hai đứa mình lên xã đăng ký kết hôn?

            - Em sợ không kịp.

            Họ im lặng. Chỉ có gió đồng bốn xung quanh lành lạnh và hai người rừng rực bên nhau. Lát sau, Vịn cầm lấy bàn tay của Thống đặt lên vầng ngực đang như sóng dồn của mình:

            - Em xin làm vợ anh trước, được không?

            Đôi bầu vú trinh nguyên, nở nang của Vịn chợt cồn lên khi năm đầu ngón tay của Thống chạm vào. Một cảm giác mơn man như gió đẩy khiến Vịn ngả lưng nhè nhẹ trên cái quán lát gạch bát. Thống vùi mắt vào ngực Vịn. Vịn nhận ra làn nước mắt nóng hổi của Thống như đang dải than dải lửa lên ngực mình.

            - Vịn ơi, anh thương em, thương lắm…

            Thống nói trong dồn nén rồi anh ngồi bật dậy…

            - Anh…?

            Thống nâng Vịn lên rồi ôm riết lấy cô vào mình. Trong bóng tối lờ nhờ Vịn chỉ nhìn thấy đầu của Thống lắc lắc. Hôm sau nữa, tiễn Thống ra bên xe cô chỉ nhận được những cái nhìn như chạm khắc của anh và mảnh giấy nhỏ gấp vuông có ghi run rẩy mấy chữ:

            “Anh không thể… Chúng mình chưa được phép… Chờ ngày chiến thắng…Thương em vô cùng!”. Đây là lời cuối cùng Vịn đọc được của người yêu trước khi anh ra trận.

            Chiến tranh là bom đạn. Vịn đã quen nghe tiếng máy bay giặc rít trên đầu. Ngón tay trỏ của cô từng xiết cò súng nhả đạn lên trời. Bàn chân Vịn từng chạy qua khói bom dắt lũ trẻ xuống hầm. Mặt cô từng nhìn thấy máu chảy trên những thi thể vô tội bị mảnh bom cắn xé. Chiến tranh chẳng còn gì xa lạ khi mỗi ngày nó mỗi dữ dội hơn trên những trang tin nhiều lửa khói của đài, của báo. Là cô giáo, Vịn từng dạy các em chịu đựng và cảnh giác. Cô như là tất cả của các em mỗi khi chúng cần được nâng giấc che chở. Vịn đã tận tâm sống cho cái cộng đồng mấy chục đứa trẻ đội mũ rơm ở ngôi trường sơ tán ấy không một mảy may tính toán, so đo. Có các em bên cạnh Vịn như quên đi tất cả. Cô sợ nhất là những lúc một mình. Thời khắc ấy chỉ có Vịn với tất cả. Lúc ấy cô nhỏ nhoi, yếu đuối, cả lạc lõng nữa. Chiếc giường cá nhân quá rộng so với tuổi hai mươi của người đang yêu. Hình tượng đàn ông duy nhất lúc này chỉ có Thống. Nhắm mắt là thấy anh. Chợt nghĩ là có anh. Cái vùng giác quan nhạy bén nhất lúc đối với Vịn là Thống. Cô không có được một đêm ngủ liền mạch. Giữa mê và tỉnh là sự trống vắng đến ghê người. Lúc ấy Vịn thường ngồi dậy, dựa mình vào vách đất cắn đến xơ xác một góc chăn. “Ôi, giá như chỉ có đánh giặc ban ngày, như công chức đi làm việc tám tiếng ấy để chiều chiều em được đón anh, tối tối em được có anh…”. Vịn từng viết những câu như thế về Thống trong nhật ký của mình. Có lúc cô còn ví mình như con chuột nhắt bé nhỏ chỉ chờ đêm xuống để gặm nhấm những ký ức yếu đuối mà không muốn một ai biết được sự yếu đuối ấy. Con người có lúc phải biết giấu cái phần người rất thực của mình đi vì một lẽ sống chung của mọi người. Lúc ấy, người ra trận, người đánh giặc là quan trọng hơn tất cả. Vịn từng dạy học trò như thế và luôn nghĩ như thế. Nhưng rồi cái phần bản năng thật thà cảu cô đã không kìm được sự yếu đuối khi nghe tin Thống tử trận. Người đưa tin chỉ nói anh ấy hy sinh ở Quảng Trị. Lúc ấy, mùa hè nóng bỏng của miền quê cát trắng đã đi qua để chỉ còn lại cái tái tê của những cơn gió lạnh lùa về qua liếp nứa nơi mái trường sơ tán của Vịn. Cô đóng băng như phiến đá dựng giữa sân trường rồi oặt xuống như ngọn cây con mới trồng gặp nắng. Khi cô giáo hiệu phó kiêm thư ký công đoàn trường, người có chồng vừa hy sinh trên mặt trận đường Chín đến thăm Vịn mới bình tâm lại phần nào. Nỗi đau an ủi nỗi đau, còn gì hiệu nghiệm hơn thế.

            Thời gian chầm chậm đi qua đời Vịn. Nỗi đau mất người yêu như vết dằm ẩn sâu trong cơ thể thỉnh thoảng lại nhói lên. Giá như Vịn được làm vợ anh đêm ấy. Giá như anh đừng lắc đầu. Nhưng rồi cái dòng chữ “Anh không thể” trên mặt giấy anh viết vội gửi lại cho Vịn khi không dám nói bằng lời đã như những đường cày sắc lẻm cứ thuôn thuốt hằn qua, hằn lại tâm trạng Vịn. Làm sao có thể quên anh được khi mà quảng đường lội hôm nào vẫn còn bì bõm từng vết chân cô bé Vịn. Lại còn củ khoai luộc vỏ tím với lời nói “Ôi dào…không sao” võ vẻ như vô duyên mà có sức hút ngầm ghê gớm ấy nữa. Và… cái bàn tay đã ram ráp báng súng ấy, trong đêm thanh tân, cũng là đêm duy nhất, đôi bầu vú nõn nà con gái của Vịn biết được thế nào là da thịt đàn ông. Nhưng rồi, chỉ có thế! Anh không thể… Thống của em ơi, lẽ nào!

            Thời gian bàng bạc trôi qua trên mái tóc đã bắt đầu xơ cứng của Vịn. Nhiều trai tráng tìm cách ướm hỏi cô chỉ cúi mặt, lặng câm. Anh Vưng xót em gái nói thật:

            - Dù sao thì chú ấy cũng mất rồi. Nước mình đâu phải chỉ mình cô với chú ấy có cảnh này. Anh khuyên em nên…

            Vịn không nhìn anh. Cô nhìn chăm chắm vào đôi bàn tay đang khép chặt ngón nói với anh trai như Thống từng nói với mình…

            - Em không thể…

            Anh Vưng thở dài. Bố mẹ mất sớm, chỉ còn anh. Thương em mà chẳng làm sao lay chuyển được em. Chiến tranh có bao giờ đồng nghĩa với hạnh phúc. Mọi vết thương đều có thể hàn  gắn lại, mà sao… Em gái anh thì ngày một lớn tuổi lại đau yếu luôn:

            - Nghe anh. Có gia đình rồi em sẽ nguôi ngoai dần. Bây giờ còn trẻ, nay mai già cả có con có cháu vẫn hơn…

            Vịn vẫn lắc đầu “Em không thể…” và nói với anh trai nguyện vọng của mình:

            - Em chỉ mong, lúc nào thuận lợi, được vào tận Quảng Trị tìm được mộ anh Thống, xin hài cốt về…

            Vịn muốn làm nghĩa cử của người vợ. Nguyện vọng này của em gái được anh trai đồng tình:

            - Cô để anh lo chuyện này. Cô yếu chưa thể đi được… Anh sẽ cố gắng để cô chú được trọn nghĩa với nhau… Có điều… Cô phải lo giúp anh chuyện kia. Có lo được cho em chuyện anh mới không mắc lỗi với bố mẹ…

            Vịn chỉ biết nhìn anh và im lặng. Anh Vưng vào cuộc tìm kiếm dấu tích người đã khuất. Gặp những người đã từng chiến đấu với Thống, anh mang về cho Vịn thông tin về Thống. Sớm ấy, nhận nhiệm vụ bơi qua sông Thạch Hãn vào Thành Cổ, Thống vừa đi được một lát thì bom và pháo giặc đổ ào xuống mặt sông, mặt thành. Một ngày bom đạn dữ dội nhất. Hôm ấy chiến sĩ ta hy sinh nhiều. Nhiều người chỉ biết đã hy sinh mà không sao tìm thấy xác. Trong chuyện đau lòng này còn có đôi chút an ủi Thống để lại. Anh Vưng đã nhận lại từ đồng đội của Thống hai vật kỷ niệm của người đã mất. Đó là chiếc bi đông nước có khắc tên Thống -Vịn và chiếc khăn tay còn trắng nguyên được gói kín trong tấm ni lông. Chiếc khăn này do chính Vịn mua vải pô-pơ-lin Trung Quốc rồi hý hoáy thêu đôi chim câu chung một cành hoa được cách điệu từ hai chữ V- T đan ríu vào nhau.

            Nhận được kỷ vật của người yêu Vịn vẫn khôn nguôi ao ước. Cô nói với anh trai:

            - Em sẽ đi Quảng Trị một chuyến. Biết đâu, lại tìm được thêm manh mối gì khác về Thống của em!

            Anh Vưng gật đầu:

            - Cô bố trí anh sẽ đi cùng cô. Nhưng phải lúc nào cô thật khỏe đã.

            Rồi bệnh tim cô bất ngờ đổ xuống. Bao nhiêu thuốc thang vẫn chẳng làm sao giúp được cô giáo lành lặn trở lại. Vịn phải nghỉ dạy học. Anh Vưng đón Vịn về dựng cho cô một ngôi nhà nhỏ ở mảnh đất phần trăm cuối làng để em gái có cơ ngơi. Ra ở một mình Vịn càng khắc khoải. Vịn nói với anh trai:

            - Chả đêm nào là đêm em không mơ thấy anh Thống.

            - Cô nghĩ nhiều nó thế.

            - Lạ quá. Anh ấy bảo anh ấy không chết. Lại còn rủ em lúc nào vào Quảng Trị anh ấy sẽ đưa ra sông Thạch Hãn tắm rồi trèo lên Thành Cổ chơi. Em phải đi…

            Anh Vưng thở dài:

            - Bệnh tim của cô thế này đi đâu?

            - Có khi vào được trong ấy em lại khỏe ra

            -…

            Anh Vưng chỉ im lặng. Với Vịn lúc này chỉ cần một biến động nhỏ sẽ ảnh hưởng đến bệnh tình. Thương em, anh phải nghĩ cách:

            - Cô để anh đi cho…

            Anh Vưng đã đến Quảng Trị. Mọi người đón anh như đón người nhà. Ai cũng bảo gia đình anh là ân nhân của vùng đất khắc nghiệt này. Khi hỏi về Thống ai cũng lắc đầu. Một cụ già nói với anh: “Thịt da liệt sĩ Thống đã hóa thân vào đất này rồi”. Anh Vưng nghiệm ra thấy đúng. Anh đem chuyện này kể lại cho Vịn nghe. Vịn chỉ biết lặng nhìn anh, đôi mắt gầy ứ lên rồi đầy tràn nước mắt.

            Bệnh tình của Vịn có vẻ nặng hơn. Thương em đã cảm anh Vưng lại vào Quảng Trị một lần nữa. Lần này giấu em gái, anh mang theo cả chiếc bi đông và chiếc khăn di vật của Thống để lại. Anh xuống Đông Hà buổi tối, sáng sớm hôm sau anh có mặt bên bờ sông Thạch Hãn vừa lúc mặt trời vừa nhô lên khỏi dãy phi lao phía biển. Anh ôm chiếc bi đông trong lòng bàn tay ngước nhìn mặt trời lúc lâu, kính cẩn vái ba vái rồi vục bi đông xuống lòng sông. Có bi đông nước đầy của sông Thạch Hãn rồi anh Vưng đến Thành Cổ Quảng Trị. Anh lang thang đây đó như người trong mộng. Anh nhìn ngắm khắp nơi. Cây xanh quá, nhà đẹp quá. Cả ngôi Thành Cổ được dựng lại làm di tích cũng mới quá. Anh thầm gọi Thống: “Thống ơi, cả những đồng đội của Thống nữa… các anh đang ở đâu…! Thống đã gánh bom đạn cho tôi, đồng đội Thống đã gánh bom đạn cho tôi… Cả những người như tôi nữa… Các anh ơi…”. Và tối ấy, chờ lúc trăng lên, anh Vưng đập trán mình ba lần vào vách Thành Cổ Quảng Trị rồi mở chiếc khăn trắng Vịn thêu tặng Thống ra trải trên nền cỏ. Đôi tay anh run rẩy vốc từng nắm đất nhỏ của miền đất kiên cường này đặt vào lòng khăn…

            - Vịn ơi, anh mang được cái này về cho em đây!

            Vịn nhận ra món quà anh Vưng mang từ Quảng Trị về cho mình. Bình nước vẫn đầy nguyên không hề sánh một giọt. Cô ôm bình nước vào lòng. Gói đất cũng vẹn nguyên trong tấm khăn buộc kín. Anh Vưng nói:

            - Rồi anh sẽ đóng cho em một chiếc hộp gỗ nhỏ để em đặt gói đất vào. Em đưa anh hai thứ đó lên bàn thờ chú Thống mà thờ luôn một thể.

            - Em biết ơn anh vô cùng.

            - Sao cô lại nói vậy!

            Bệnh tình của Vịn giảm hẳn. Cô vui ra khi mỗi ngày được thắp hương trước bàn thờ người yêu cùng bi đông nước sông Thạch Hãn và gói đất Thành Cổ Quảng Trị. Thống của cô đang ở đây, đồng đội cuả anh đang ở đây. Những người đã hy sinh…

            Một thời gian sau, thấy em gái khỏe lên anh Vưng mừng khôn xiết. Anh kể với mọi người rằng bi đông nước ấy có thần, gói đất ấy có thánh. Anh nói với Vịn:

            - Giờ đây cô khỏe rồi. Chắc là chú ấy phù hộ…

            - Có khi thế thật anh ạ!

            Đợi lâu lâu sau nữa anh Vưng mới dám tâm sự với em nỗi lo mong đợi của mình:

            - Em cũng đã cứng tuổi lại một thân một mình. Anh chỉ xin cô giúp anh…

            Vịn hiểu ý anh trai nhưng cô vẫn lắc đầu: “Em không thể…”

            Nay thì bà giáo Vịn đã ra người thiên cổ. Ông Vưng càng thương em hơn khi mà điều ông muốn em làm nhưng em không thể. Ông chả có lỗi gì cả, cả nơi chín suối nếu biết chuyện này chắc chú Thống cũng chẳng giận ông. Vì cô ấy đã quyết ở trọn vẹn vậy rồi ra đi, tận đáy lòng mình nhói lên trong ông niềm xót xa ghê gớm, cảm phục ghê gớm.

            Trên mộ bà giáo Vịn, ông Vưng cho xây một ngôi miếu nhỏ. Dân làng gọi đó là miếu Trinh Nữ. Hình bà giáo Vịn được khắc đá gắn liền vào vách miếu. Trước mộ bà ông cho trồng một khóm hồng bạch. Giống hồng này ông Vưng xin của sư cụ chùa làng.

            Cây hồng bạch nhiều hoa, nhiều nụ. Năm nào, cứ mỗi lần vào Sài Gòn thăm con gái lấy chồng trong ấy ông Vưng đều ra mộ em gái, xin bà một cành hồng bạch có đủ hoa, nụ và lá. Cành hồng ấy theo ông dọc đường thiên lý vô Nam. Bao giờ cũng vậy, thành phong tục, khi qua sông Thạch Hãn cành hoa ấy lại được ông thả xuống mặt nước như nỗi lòng thơm thảo và biết ơn của những người đang sống trước những người đã khuất…

                                                                                                                                    P.Q

Phan Quế
Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 127 tháng 04/2005

Mới nhất

Thông báo về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí

13/04/2026 lúc 22:15

THÔNG BÁO Về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí Kính gửi quý bạn đọc,

31/07/2025 lúc 15:23

Tạp chí Cửa Việt - 35 năm một chặng đường

28/06/2025 lúc 16:18

Ngày 28/5/2025, Tạp chí Cửa Việt tổ chức lễ kỷ niệm 35 năm tạp chí ra số đầu tiên và gặp mặt cộng tác viên năm 2025. Tại buổi lễ, Phó Tổng biên tập phụ trách Hồ Thanh Thọ đã có bài phát biểu khai mạc...

Vùng trời hoa sim

26/06/2025 lúc 23:29

Những triền sim tím đồi xaBềnh bồng nâng gót mùa qua lặng thầm

Hương xưa; Nắng sớm

26/06/2025 lúc 23:27

Hương xưa… Ta về tìm lại hương xưa

Tạp chí số cũ
Câu chuyện du lịch
tư tưởng Hồ Chí Minh

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

16/04

25° - 27°

Mưa

17/04

24° - 26°

Mưa

18/04

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground