Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 15/04/2026 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Mồ cá sấu

(Tặng Đại tá Lê Bá Ước, Trung đoàn trưởng Đặc công Rừng Sác năm xưa)

 

I.

- Tốt đỏ sang sông hả, một tốt thì làm gì được anh bạn ơi!

- Tốt đặc công đó, mà đặc công thì cần gì phải nhiều kia chứ!

- Nhưng gặp xe pháo của tớ, cậu có làm nên chuyện được không?

Cánh tay của “Lăm” Thái Bình cứ huơ huơ như múa trên bàn cờ, mắt cứ lấp la, lấp láy lúc bên này, lúc bên kia, rồi bàn tay ẵm con pháo của mình, vút thật nhanh đốp xuống con tốt của Hạnh vừa sang sông như con chim bói cá!

- Khoan, khoan! Hồi đã, hồi đã!...

- Hồi cái gì? Đánh Mỹ anh có hồi với chúng nó không, hay anh chịu trận?

- Không sao, không sao!

Hạnh Cảnh Dương phì liền hai tiếng “không sao” rất bình tĩnh rồi tiếp:

- Thua keo này- ờ ván này, bày ván khác. Lo chi! Đúng vậy không! Mà tớ có anh Bảy Ước, liệu cậu có địch nổi không?

Hạnh Cảnh Dương chính tên là Hạnh ở Làng Cảnh Dương tỉnh Quảng Bình. Hạnh kể “ruột thịt gồm những năm anh chị em. Ba trai, hai gái. Cha toàn lấy tên các loại cá đặt cho con. Đầu tiên là Hanh tức là cá Hanh, sát đó là Thằng Mú, rồi đến con Mòi- mắm mòi đấy mà, đến thằng Nục, và cuối cùng là con Lẹp. Em út mình, hắn mỏng như con cá Lẹp!”.

Không phải Hạnh tự đổi tên mình mà chính anh em đơn vị đã đổi cho Hạnh. Hạnh kể chuyện ở quê khi nào muốn câu cá Hanh, thì ngày hôm trước phải ăn xôi.

- Đi câu xa hay sao mà phải ăn xôi?

- Anh em hỏi?

- Gần xa mặc kệ, nhưng ăn xôi hôm sau có cái phân dẻo, trộn với cám rang thơm, vo vo lại thành những viên bi. Cá Hanh tạp ăn lắm!

Câu chuyện thành tên Hạnh là thế. Và cuối cùng thì Hạnh cũng đồng ý, chỉ thêm cái dấu nặng thôi!

“Lăm” Thái Bình lại khác. Là con thứ tư, nhưng khi vào đất Đồng Nai, được gọi là Năm- Chéo- Bùi Ngọc Chéo ở Thái Bình. Vùng khu III luôn nói giọng N thành L và ngược lại cho nên Năm Chéo thành Lăm Chéo.

Sống chung trong đơn vị, mỗi người mỗi vùng, với đặc điểm riêng, nên thường trêu nhau để vui những khi nghỉ đánh giặc.

Ngoài giờ học tập, họ học võ, đánh cờ tú lơ khơ, hay đi bắt cua, bắt ghẹ. Chuyện riêng tư, chuyện gia đình đều kể cho nhau nghe, nên ai cũng hiểu nhau và hòa đồng làm một.

Tổ Chéo và Hạnh còn một người nữa. Đó là Miểng. Ba cái tên gộp lại gần nhau nghe có vẻ ngồ ngộ. Chẳng ai chê hay khen tên nào đẹp, tên nào xấu.

Nhưng anh nào cũng có cái tự hào về mình. Chéo nói về bố mình y như trong sách báo. Có lẽ anh đã đọc kỹ những bài báo viết về cái đại đoàn của bố anh:

- Ngoài biển, tàu chiến chĩa súng vào, còn ba mặt đồng, quân Pháp vây kín. Trên không máy bay quần lượn, thế mà đại đoàn bố tớ vượt qua như chơi rồi quay lại nện vào lưng chúng. Bố tớ chả phải chỉ huy đâu- chỉ lính thôi, nhưng ông hay nói “đại đoàn tớ” y như đại đoàn do ông chỉ huy vậy- thì cũng như bây giờ mình gọi “trung đoàn Rừng Sác tớ” mà. Chính anh Bảy chỉ huy bọn mình chứ!

Hạnh đâu có chịu thua. Cái làng Cảnh Dương của anh có kém gì, còn hơn nữa là đằng khác!

- Bố cậu chỉ vượt qua con sông Vân úc sang Kiến An thì có gì là ghê gớm. Xem làng tớ này, nào làng chiến đấu giống như Cự Nẫm- cũng một làng ở huyện Bố Trạch Quảng Bình quê tớ. Còn vượt sông ăn thua gì, có người Cảnh Dương (còn gọi làng Ròn) bơi bộ từ làng vào tận cửa Thuận (Thừa Thiên - Huế). Đủ cả thuỷ bộ, không quân, Pháp tấn công vào làng, mà có vào được đâu! Làng tớ như pháo đài, mỗi nhà đều vây kín tường bằng đá san hô cao ngang đầu người, nên lính Pháp đi ngoài đường, dân cứ đứng trong nhà, trong sân, lấy đá ném vào đầu, vào mặt. Thằng nào có mũ sắt thì còn may, không cũng toi mạng. Lại hầm chông dọc đường nữa. Làng toàn cát nên dễ đặt hầm chông lắm. Dân làng với du kích thì được thông báo rồi, còn ba thằng mũi lõ bị sập, chông xuyên qua cả giày, thòi lên trên, máu phụt bắn cả mặt, cả người, la rống như bị chọc tiết. Thì đây cũng là chọc tiết, chỉ khác không chọc ở cổ mà chọc ở chân, ở bụng, lại vài ba thằng phải khiêng nguyên cái bàn chông xuống tàu thuỷ chúng đỗ bên ngoài biển, đố rút chân ra được ngay.

Miễng ngồi lặng lẽ từ nãy đến giờ, không hề có một lời. Nhưng chừng như đồng đội cứ khoe mãi thành tích với nhau, cũng nóng gáy:

- Tụi mày chỉ nói dóc không thôi! Có đứa nào biết các cô gái sông Hương của tớ chưa?

Đang tán láo với nhau, vừa đúng lúc từ trong đám rừng, Bảy Ước lò dò đi ra. Mồm ngậm điếu thuốc rê cuốn, Bảy Ước đã hỏi ngay:

- Chúng mày đang huênh hoang gì đấy, nhậu hả?- Lúc nào cũng nhậu. Nhớ là lúc nào tao cho phép thôi nghen.

- Thưa thủ trưởng, đâu dám ạ. Chỉ chơi mấy ván cờ cho vui thôi. Đấy là lời “Lăm” Chéo. Nhưng Hạnh Cảnh Dương vội cắt ngay lời bạn:

- Thủ trưởng cứu em với, nó vừa diệt mất thằng tốt của em đấy.

- Mày đi lẻ, không phối hợp đồng đội, bị nó diệt là phải rồi. Thôi cả ba đứa tập họp lại đây, kế hoạch mới. Thích đấm đá tau cho mày ra tay đây. Chuyến này cả ba thằng làm ăn cho ra trò nghen!

- Hoan hô, thủ trưởng, hoan hô.

- Kỳ này thủ trưởng cho anh em ăn miếng to to cho khoái khẩu!

- Nhỏ to do chúng mày, tự lực cánh sinh, không có viện trợ đâu đấy!

Bao giờ anh Bảy giao nhiệm vụ, cũng động viên tinh thần theo kiểu ấy.

Thế là bốn cái đầu chụm lại phải đến nửa tiếng đồng hồ trên tấm sơ đồ vẽ bằng tay do thủ trưởng lôi từ trong túi trải ra.

* * *

Đúng là cái đầu anh Bảy đi trước con mắt. Nếu không đổ bộ thì làm gì mà rầm rầm rộ rộ từ mấy bữa nay. Mà chỉ quanh đi quẩn lại từ cái đoạn Thị Vải đến Lòng Tàu này thôi. Hay định đánh vào Sở chỉ huy đặc công Rừng Sác. Đâu phải chúng mày chưa vào. Đánh nhau với Việt cộng thật chán phè, cứ y như không đánh nhau với ai cả. May lắm vớ được vài thằng dân ù ù cạc cạc, còn thì là đánh nhau với cây cối, với cỏ rác- đấy là lời của lính Mỹ nói khi hắn bị bắt!

- Thế sao không cút về nước? Việt cộng đã hỏi thế!

- Về thì mất lương, không khéo bị tù đào ngũ nữa! Do tướng tá trên đảo đi đâu, làm gì, thì theo vậy...

Hóa ra lính Mỹ đi đến cái đất này cũng đơn giản vậy thôi! Chẳng có thằng nào có cái lý tưởng gì cả.

- Thây kệ chúng nó! Lời anh Bảy nói với anh em vào đêm hôm sau. Lần này cho chúng mày được khoái khẩu như chúng mày đề nghị. Con cá nào to nhất thì hãy bắt, cá nhỏ không thèm.

- Đó là cách nói ám hiệu, nên Chéo, Miểng và Hạnh đều hiểu cả.

- Bọn em theo ý anh.

Cuộc chia tay vào chiều tối thật lặng lẽ và bí mật. Tất nhiên là không có ai tiễn đưa ngoài anh Bảy.

Nếu cái rầm rầm rộ rộ của quân Mỹ mấy ngày đêm vừa qua, vừa ồn ào huênh hoang thì cuộc ra đi của những anh lính đặc công lại ngược chiều một cách khó ai hiểu nổi.

Anh Bảy vẫn đứng đó- trên bờ sông đầy Chà Là gai, kín đáo không hề có bến bãi hay vết chân người. Và ba người lính của anh, mình trần trùng trục (may mà cũng béo khoẻ) với một chiếc quần lót, màu đất. Đầu có một chiếc mũ bằng vải dù bông ngụy trang, và ở cổ đeo một sợi dây, phía cuối là một chiếc ống bằng nhựa. Hầu như chiếc ống là giá trị nhất cho những đặc công nước này, nó chỉ dài khoảng gang tay. Ôi, một vũ khí “đánh giặc”, nói là vũ khí của sự sống mới phải. Chính đó là cái ống thở, mỗi khi họ phải chìm dưới mặt nước. Họ có thể nằm dưới lòng nước hằng giờ, hằng buổi mà quân Mỹ không thể phát hiện.

Họ lặng lẽ bơi, không một tiếng động. Phía trước mặt họ là một đống, một mảng bèo lớn, như trăm nghìn đám bèo vẫn trôi trên sông từ xưa nay. Nhưng không đấy là chiếc phao bơi, trên phủ kín bèo và ẩn giấu những khối bộc phá mà đêm nay, hay ngày mai, họ sẽ nhận chìm “những con cá to nhất”- như lời anh Bảy dặn.

Không một bóng thuyền trên sông, chỉ phía tận xa kia- cách nơi họ bơi là lốm đốm những ánh đèn của những chiếc tàu Mỹ đang đỗ, cũng như đang chạy- một quầng sáng lớn toả lên bầu trời, chốc chốc lại vút lên những quả pháo sáng dù lơ lửng... Tàu tuần tiễu chạy xung quanh, vòng vèo dưới cái quầng sáng ấy.

- Hẳn là con cá to như anh Bảy nói- Chéo nói qua với Miểng.

Hạnh đang bơi gần đấy nói với sang...

- Cá à, cái đình làng đấy!. Còn to hơn cái đình làng Cảnh Dương tớ nữa!

- Mục tiêu càng to, càng dễ đánh chứ sao! Miễn là mình phải bấm kíp hẹn giờ, rồi rút nhanh không thì...

- Tính rồi mà, áp sát là được!

- Tất nhiên! mà “ba cây chụm lại” thì núi cao nào chẳng đổ...”

* * *

Lần nào cũng vậy, bơi giữa dòng sông, còn là dễ, chứ “bơi” giữa đám sình lầy thật vất vả. Mà có phải bơi đâu. Chính là trườn, là bò, cũng có chỗ đứng lên lom khom mà đi, như là tìm vật gì trước mặt, thật ra là để tránh một gốc cây, một bụi chà là gai. Cái bóng tối quái kiệt của đêm, của rừng đước, rừng mắm, hay những gốc dừa nước có lúc đâm thủng trầy cả da càng khổ. Mà cái đoạn sình lầy có ngắn đâu, bởi khi vượt sông, đã phải tránh thật xa cái đám tàu bè ngồn ngộn, mất trật tự kia lúc nào cũng rình chộp lấy mình, hay nã đạn xối xả vào mình, lại thêm cái lũ ác ôn cá sấu cũng là một loại giặc nữa. Chúng chẳng hề có cái “lập trường” gì cả ngoài cái cần thiết là mùi thịt người. ở đây, còn có gì khác ngoài thịt người. Thịt lính Mỹ hay thịt Việt cộng thì cũng như nhau thôi! Đã bao đồng đội mình bị cái lũ giặc nước ấy tàn sát. Khi phải bơi lặn trong lòng sông. Một vài đồng chí có lần cũng chống lại được chúng bằng một con dao găm đâm vào mắt nó, cũng có lúc săn lùng tất nhiên quanh chỗ đóng quân, cũng diệt được một vài tên bằng bẫy mìn, lựu đạn đánh lừa chúng bằng cách chịu thiệt một con vịt làm mồi. Một lần vớ được một ổ trứng cá sấu cũng xem như món cải thiện.

Và rất may lần này, ba anh “tốt đặc công” của anh Bảy không phải nhọc sức lo toan với cánh giặc cá sấu. Hình như chúng chưa được đánh động.

* * *

Một tiếng súng nổ rất xa, rất xa...

Từng loạt đạn của tàu giặc đáp lại tiếng súng xa ấy. Bao giờ cũng thế, chúng ra sức vãi đạn lên khắp nơi, với hướng chúng nghe và chẳng biết mục tiêu nào cả.

Chéo vắt một nắm bùn ném về phía Hạnh. Hình như đó là một cái lệnh. Và...họ đã bấm kíp.

Sự phối hợp yểm trợ của một trận địa pháo DKZ hưởng ứng ngay lập tức. Ba anh lính đặc công đã hoàn thành nhiệm vụ đánh tàu, và họ- rút lui. Tất cả đạn pháo to nhỏ của Mỹ ầm ầm phóng về phía họ. Không phải là một cuộc đấu pháo. Chỉ có tàu Mỹ bắn tới tấp. Nhưng trong các tiếng nổ của đạn pháo lại có những tiếng nổ khác rất lạ tai. Tiếng nổ không hề kém tiếng rít của đường đạn đi. Tiếng nổ của khối bộc phá.

Miểng đứng hẳn lên giữa đám sình lầy, loang loáng bóng bùn ướt sau những tầng cây vốn không có trật tự của hàng lối ven dải sông nước mặn này. Cây trên đầu rào, có những cành bị phạt ngang, rồi xuống trước mặt. Như một trận bão rừng. Bây giờ không thể nào phân biệt tiếng súng nào ra súng nào nữa. Chỉ biết đó là một cuộc đổ đạn giữa một vùng trời đầy pháo sáng. Quãng sông rõ như ban ngày. Ba anh lính đặc công đã thành ba chiếc trụ, hay ba gốc cây đầy bùn như những gốc cây khác có đến sát tận nơi, chắc cũng khó phân biệt nổi đâu là người đâu là cây. Cái nghề “đặc công” ăn người ở chỗ địch không biết họ ở đâu, họ là gì gì nữa. Cũng là trận địa nhưng không thể gọi là trận địa khi chẳng có tiểu, trung hay đại đội lao lên với những tiếng hò reo, xung phong xung phong... chỉ là một trận địa của bùn đất, cỏ rác với những cây đước đầy rễ vòng quanh gốc vồng lên như những vòi đốm đen hoặc ánh lên dưới quầng pháo sáng, cùng dừa nước tỉa ánh sáng thành những tia lóng lánh xao động. Và sáng hơn cả là cái cột nước- nhiều cột nước từ con cá to nhất- Lời anh Bảy, và cái “đình làng của Hạnh”.

- Như những thác nước dựng ngược! Chính Chéo đã nói như vậy. Tiếng la thét của giặc tự hòa vào tiếng đạn đổ lên trời, lên đất của ta.

Chiếc tàu to nhất- biết gọi là gì nhỉ: chiến hạm, khu trục hạm- LCU-LC Mỹ thập ác- thôi thế, gì cũng được đã nhận đủ khối thuốc nổ của đặc công chúng mình rồi. Miểng bò lại sát Chéo và nói vào tai.

Bây giờ là chiếc tàu tự nổ và cứ từ từ chìm.

- Vỏ thép tàu dày, hóa ra cũng có “móng tay ta nhọn” thật! Một trong ba lính đặc công dí dỏm mượn câu vỏ quýt, móng tay.

* * *

Những xác lính Mỹ đã tung hê lên khắp mặt sông từ cái tàu lớn nổ tung và sắp chìm nghỉm. Cũng không hoàn toàn bị bắn tung lên, mà hình như cũng có thằng nhảy vọt ra khi chúng không bị va đập. Có ý thức hay không ý thức chúng cũng đang làm một cuộc tẩu thoát. Nhưng với những thứ “trang bị lính” lủng củng và bề bộn, có đứa nhảy xuống thì đã tuột xuống dưới tầng sâu mặt nước. Đứa lại ngoi lên, tất cả bơi lội một cách khổ sở. Chúng bơi, chúng chồm lên xác nhau như đàn cá trong lưới cố tìm cái sống. Súng Mỹ lại vải đạn, lên cả cái đám lính lúc nhúc ấy, chắc chúng nghĩ rằng Việt cộng sẽ đến lôi chúng đi. Ồ! Không phải bởi vì thế đâu, hàng đàn cá sấu đã quây lại. Với đàn cá sấu thì khó có thể nói, đâu là lớn nhỏ: đúng là cá sấu Rừng Sác. Đám loài vật ăn thịt người này hình như cũng có cái trí khôn của những loài kiếm mồi. Chừng như chúng cũng biết nghe tiếng súng, mà tiếng súng là lời mời dự tiệc.

Chắc ban đầu, những lính Mỹ trên những chiếc tàu bao quanh đã vãi đạn xuống sông để chống lại cá sấu, nhưng hình như chúng cũng nhận ra rằng chúng đang bắn vào đồng đội. Những tiếng gào la chửi bới đã tắt ngay những tiếng súng ấy.

Hóa ra, cuộc chiến bây giờ đã là cuộc chiến với cá sâu. Hẳn là có những lính Mỹ phải gọi lũ cá sấu này là “cá sấu Việt cộng”

II.

Cũng không cần nói chính xác là ba mươi năm, mấy tháng, mấy ngày. Nghĩa là trên ba mươi năm sau ngày ba mươi tháng tư năm 1975- hai người Mỹ bước vào thềm nhà đại tá về hưu Lê Bá Ước - tức là anh Bảy, anh Bảy Ước, người chỉ huy xa xưa của trung đoàn đặc công Rừng Sác- Tất nhiên, sau khi Tỉnh đội Đồng Nai đã gọi điện báo cho anh. Xe ô tô họ đỗ ngoài cổng. Câu đầu tiên của một trong hai người Mỹ nói:

- Ông sẵn sàng cho phép chúng tôi gặp ông chứ?

Đại tá về hưu nói ngay:

- Nhà chúng tôi mở cửa, có nghĩa chúng tôi sẵn sàng tiếp tất cả mọi người! Mời các ông vào.

- Thank you- Ok- Cảm ơn.

Một người Mỹ vừa nói tiếng Anh và vừa nói tiếng Việt. Tiếng Việt anh ta nói rất sỏi, theo đúng giọng Nam bộ. Chắc anh ta đã từng ở miền Nam. Rồi anh ta tự giới thiệu.

- Chúng tôi ở phái đoàn MIA- chắc ông đã biết. Chúng tôi đến đây để tìm lại những đồng đội chúng tôi mất tích ở chiến trường này.

- Mất tích hay là chết? Tôi hiểu từ này hơi khác nhau đấy- trên bộ, trên sông, kể cả trên không nữa!

- Chúng tôi cũng không thể nào nắm được hết. Nhưng chỉ xin ông cho biết về trận ông đã đánh chìm chiếc tàu lớn nhất của chúng tôi ngày...tháng...năm... trong đó có hai người bạn thân của chúng tôi. Họ có tên G và V.

- Xin lỗi, điều này chắc dòng sông của chúng tôi mới có thể trả lời các ông được và hình như chỉ hỏi có hai người bạn thân, tôi nghĩ hơi ít đấy!. Đài BBC sau trận ấy đã đưa tin, có hàng trăm lính Mỹ đã bị thiệt mạng. Thôi, nhưng đấy là việc các ông. Về phía chúng tôi, chắc các ông cũng biết là có rất nhiều đồng chí chúng tôi đã hy sinh tại dòng sông này. Ông nhấn mạnh vào hai tiếng hy sinh, hình như để phân biệt với hai chữ mất tích mà người Mỹ đưa ra.

Ba mươi năm trôi qua, hình như trong ông chưa có một ngày thanh thản với đồng đội của mình. Về những người hy sinh, về những người còn vật lộn với cuộc sống hàng ngày. Chưa phải ai cũng đã có một đời sống đầy đủ sau chiến tranh. Và hôm nay, ngồi trước kẻ thù năm xưa, tự nhiên ông lại cảm thấy thanh thản lạ. Họ đến đây để nói lên một sự thật, mà từ trước họ từng chối bỏ. Ông như người đại diện giờ phút này cho anh em cùng chung một lý tưởng, chung những bữa cơm, một khoảnh rừng sình lầy, một mái lá trung quân thậm chí một ván cờ, kể cả một chén rượu. Ông cảm thấy bàng hoàng và xúc động, vì ông ngồi trước kẻ đã từng muốn tiêu diệt chúng ta, muốn đẩy đất nước chúng ta về một thời kỳ đồ đá (!).

Hai người Mỹ ngồi lặng đi, nhìn nhau như định nói những điều gì mà trước đây họ từng quen nói. Nhưng nhìn người đối thoại mình bình tĩnh, như có vẻ suy tư; họ cũng có thể nói thêm những gì khác! Nhưng ông Bảy Ước đã phá cái không khí lặng im ấy:

- Được rồi, tôi sẽ mời các ông xem lại một hiện vật. Rồi ông đứng dậy, đi lại góc nhà, mở tủ, mang ra một chiếc đế giày. Chỉ còn chiếc đế không thôi, dài khoảng ba mươi phân, phần đế cao hơn, rất lớn mà bàn chân của những người Việt Nam thường không thể vừa được cỡ này? Một chiếc đế giày! Có gì lạ?.

Rất bóng loáng, bằng một loại cao su có thể là nhựa tổng hợp hay gì đó, rất sạch sẽ. Ông Bảy Ước ngồi lại ghế cũ của mình và đặt chiếc đế giày lên bàn. Hình như ông đã quen với cái hiện vật này rồi. Và cũng hình như trong cuộc đời chiến đấu của ông không lạ với những chiếc đế giày hay cả những đôi giày như cái này. Nhưng sao ông lại đưa ra một chiếc đế giày cho những người lính Mỹ xem, và lại là một chiếc thôi!

Ông lại cầm chiếc đế giày lên bằng tay phải. và ngón tay trỏ của bàn tay trái ông chỉ vào:

- Đây, các ông xem, mười ba con hào lớn nhỏ gắn chặt trên đế chiếc giày. Ông nói tiếp gần như xúc động:

- Mười ba con hào Rừng Sác cắn chặt vào đây. Tự nhiên, ông hơi mỉm cười- không phải tôi dán những con hào này vào đấy đâu nhé! Nguyên xi từ dưới lòng sông- cái “tĩnh vật” này.

Hai người Mỹ như không cử động: Bốn con mắt dõi theo ngón tay trái của ông.

Lặng im, lặng im...

Một thứ im lặng nặng nề- không biết có phải cái dư tích khủng khiếp của chiến tranh mà hai người Mỹ ngồi đây đang gánh chịu cho quân đội của họ.

Ông Bảy Ước lại dịu dàng kể tiếp

Một người dân chài đã tặng cho tôi chiếc đế giày này đấy. Họ, sau một buổi kéo lưới đã kéo nó lên, đầy bùn đất lòng sông. Tất nhiên, họ đã cọ rửa sạch sẽ. Tôi đã cảm ơn họ về một di vật chiến tranh. Nếu các ông là nhà văn chắc có thể viết được một cuốn tiểu thuyết “Cuộc phiêu lưu của chiếc đế giày từ bên kia Thái Bình Dương”!!!.

Người Mỹ nói sỏi tiếng Việt bỗng dưng đứng lên nói với đại tá Lê Bá Ước.

- Xin lỗi ông, và cũng rất cảm ơn ông, có lẽ không muốn gây xúc động cho chúng tôi và hình như ông cũng muốn định nghĩa cho chúng tôi về từ ngữ chiến tranh, mà chúng tôi từng đã được lệnh đi đến nhiều nơi trên thế giới này. Hình như anh ta đã bóc hết những ý nghĩ trong đầu mình- Và cũng xin phép ông cho tôi được trao đổi với bạn tôi một phút.

Đại tá Ước gật đầu.

Anh ta quay sang người bạn mình và nói hàng tràng tiếng nói của đất nước mẹ đẻ anh. Người thứ hai trước mặt đại tá chỉ gật gật và cuối cùng ông Bảy Ước chỉ nghe được một tiếng cuối “dét dét” (Yes, yes).

Người Mỹ nói tiếng Việt lại nhìn đại tá như muốn nói dò thêm:

- Tôi lại xin lỗi ông lần nữa là chúng tôi muốn có được cái hiện vật mà ông đang có. Chúng tôi sẽ bằng lòng trả giá do ông định.

Mặt đại tá đỏ lên, nóng bừng: Nhưng có cái gì đó trong ông bắt ông dịu lại:

- Xin lỗi, lòng sông Rừng Sác đã gửi lại cho tôi chứng tích này. Tôi đã từng chiến đấu ở đây trên mảnh đất Đồng Nai này, trên đất nước Việt Nam này, cuộc kháng chiến của chúng tôi không hề trừu tượng, và đây là cái vật chứng cụ thể của các bạn bè ông đã gửi lại, không có cái giá nào bằng đô la cả. Hơn nữa tôi càng không muốn các ông đặt nó dưới bức tường đen mà các ông thường tưởng niệm như những anh hùng của nước Mỹ, tôi muốn khép lại qúa khứ cho các ông hơn là cho chúng tôi. Nhưng lịch sử vẫn cứ là lịch sử. Chắc các ông cũng đồng ý như thế chứ!

III.

- Hẳn các ông còn đủ thì giờ?

- Vâng! Rất sẵn sàng. Thì giờ của chúng tôi sang đây là cốt tìm cho được những người Mỹ chúng tôi đã “bỏ mạng” trên đất các ông. Anh ta không dùng chữ “mất tích” như những phút đầu gặp gỡ nữa. Chúng tôi sẵn sàng đi đến nơi nào, hoặc nghe một chi tiết nào về những người xấu số của chúng tôi.

Như ôn lại trong trí nhớ của mình, sau ba mươi năm với bao nhiêu công việc: việc đồng đội cũ, việc nhà, việc con cháu học hành, và hình như ông đã nhớ ra:

- Tôi sẽ đưa các ông trở lại với dòng sông, nơi ngày xưa các ông đã từng thất trận.

Người Mỹ nói sỏi tiếng Việt cắt ngang lời đại tá:

- Tôi chỉ muốn đến những nơi có xác người Mỹ, còn như hình dung các trận đánh đã có các nhà quân sự hay nghiên cứu lịch sử quân sự.

- Các ông cứ bình tĩnh, tôi không muốn xúc phạm các ông đâu. Nhưng đây là một nơi có dấu vết quân Mỹ mà anh em Rừng Sác đã chôn.

- O.K. Thế thì tốt qúa. Công việc chúng tôi đã có kết quả. Xin cảm ơn ông trước.

- Nhưng khoan. Anh em chúng tôi thường gọi đó là “Mồ cá sấu”.

- Xin lỗi, ông không đùa với chúng tôi đấy chứ!

- Rất nghiêm túc, rất nghiêm túc!

* * *

Con thuyền quay mũi ra phía sông, sau khi con sào của anh Bảy đẩy một cú mạnh vào bờ. Bây giờ thì Hạnh đã ngồi vào tay lái. Trong thuyền đã có bốn người. Anh Bảy giới thiệu:

- Đây là Hạnh, đồng đội của tôi ngày trước, và là người đã tham dự vào việc đánh chìm chiếc tàu chiến lớn của các ông.

- Anh ta vẫn còn? Người Mỹ hỏi.

- Tất nhiên, và còn tất cả ba người. Nhưng chỉ có anh ở lại đất này. Anh ta làm cái nghề xa xưa khi còn ở làng: ngư dân.

- Bây giờ đi đâu, thưa thủ trưởng. Hạnh hỏi anh Bảy Ước.

- Về chỗ “Mồ cá sấu”- Nơi ngày xưa các cậu đã chôn xác cá sấu, các ông này muốn tìm xác của đồng đội.

- Lâu qúa rồi, em cũng ít qua lại đấy.

- Cố gắng!

Hai người Mỹ vẫn như không hiểu điều gì đã từng xảy ra. Sao họ không gọi là mồ Mỹ, hay mồ giặc Mỹ mà cứ gọi là “Mồ cá sấu”.

Thuyền đã lướt trên dòng sông một đoạn khá dài. Phía sau lưng là cầu Đồng Nai, xe cộ vun vút qua lại, mà bên dưới là một cảng nhỏ đầy tàu thuyền. Những con tàu ăn bến, nhả bến tấp nập.

Những đám bèo vẫn trôi trên sông, lặng lẽ, thỉnh thoảng xao động lên một chút khi có tàu thuyền, ngược dòng hay xuôi dòng. Cuộc sống trên phố, trên đường, trên sông an bình một cách lạ, khiến những người đã qua chiến tranh cảm giác như đang lật ngược cuộc sống lại. Tất cả gì xa xưa là lặng thầm, bí mật, kín đáo, thì bây giờ trở nên ồn ào, xô bồ và bày phơi tưởng chừng như hết cỡ - nghĩa là đủ thứ màu sắc và âm thanh - trừ những tiếng nổ.

Hai bên bờ sông, nhà mọc lên từng chòm, từng cụm, đỏ rực mái ngói, những bức tường đầy cửa sổ, cửa lớn, lấp lánh kính như những trang sách lớn của học trò dựng đứng mà cửa lớn cửa nhỏ là những hình ảnh minh họa. Đặc biệt ruộng đồng, vườn cây xanh ngát trĩu quả như tự giới thiệu về sự trù phú của mình về quê hương, về xứ sở của những bàn tay cần cù lao động. Nét mặt của những người Mỹ tuy ẩn giấu một cái gì như phân vân, khắc khoải nhưng cũng như được lây cái vui tươi của đất trời sông nước nơi này. Chừng như họ đang chỉ đợi.

Bỗng anh Bảy hỏi Hạnh:

- Có nhớ địa điểm không? Hay lâu quá quên rồi.

Hạnh không trả lời, nhưng tự nhiên anh quặt thuyền lại.

- Đúng là thủ trưởng có trí nhớ tốt hơn em.

Và thuyền đã quay lái. Hạnh cho chạy chầm chậm và bỗng dừng sát vào một bờ đầy chà là gai. Anh nhìn lên một vòm cây cao trong đó có một cây bần lớn gần sát bờ sông.

- Đây rồi, thủ trưởng ạ!

- Ừ, thì lên đi!

Hai người Mỹ cùng anh Bảy Ước và Hạnh nhảy lên bờ. Hạnh chăm chú nhìn vào cây bần. Gốc nó bạnh, có mấy cành lớn chìa ra, có nhánh đã sát mép nước. Chà là tua tủa.

- Gai chà là nhọn lắm đấy, cẩn thận không rách da thịt. Cũng may hai người Mỹ đã đút tay vào những túi áo.

Hạnh chỉ lên thân cây bần:

- Kìa, hình con cá sấu ngày xưa thằng Vĩnh khắc vào đấy! Vết khắc ngày trước bé, bây giờ to đến thế!

Tất cả nhìn lên. Đúng là có một vết sẹo ngang ở thân cây, cao gấp đôi thân người đứng. Hình như con cá sấu nằm ngang. Cũng có bốn vật chân thòi ra bốn hướng, và cái đuôi dài vòng theo thân cây.

Hạnh đi lui, đi tới phía trước gốc cây và anh như tự nói với mình. Ngày xưa, bờ sông nằm ngoài kia kìa, sao bây giờ đã vào tận đây!

- Xem lại đi, lời bác Bảy Ước.

- Thưa thủ trưởng, quãng sông này đã bị lở hết rồi, em nhớ cây bần phải cách bờ ít ra là năm sáu mét, mà bây giờ chỉ còn khoảng vài mét, nhất định là bờ sông bị lở, nên ngôi mộ không còn.

Người Mỹ nói tiếng Việt bất giác kêu lên:

- Ngôi mộ, ngôi mộ!!!

- Vâng! Hạnh đáp. Ngôi mộ cá sấu và người Mỹ chính là chôn ở đây. Nhưng chắc dòng sông đã cuốn đi về biển mất rồi! Ba mươi năm, có ít đâu!

- Rất, có thể! Anh Bảy cũng thốt lên như vậy, rồi anh nhìn dòng sông với cảm giác nó rộng hơn nhiều so với thời anh ngược xuôi trong lòng nó.

Rất may là còn có hình khắc trên thân cây bần để thấy lại một chút qúa khứ!

* * *

Mặt trời chiều chiếu xuống trên dòng sông Ông Kéo màu đùng đục. Một mảng lớn vàng sáng lấp lánh gợn những vết nhăn. Và người chỉ huy Rừng Sác năm xưa, như xúc động trước cảnh vật thân quen kỷ niệm quay sang Hạnh:

- Bây giờ cậu có thể kể lại cho hai người Mỹ này biết rõ về nấm mồ cá sấu mà cậu là người đã trực tiếp chôn nó.

Anh Bảy đề nghị tất cả mọi người xuống thuyền lại, rồi nói chuyện. Ý anh muốn được yên tĩnh hơn. Ai nấy đều cùng theo lời anh.

Bốn người ngồi trong sạp thuyền như ngồi trước mâm cỗ mặc dù chẳng có gì. Trước khi bước xuống, một người Mỹ đã đưa máy ảnh lên chụp gốc cây bần, anh đang ngắm thẳng vào vệt khắc hình con cá sấu trên thân cây, rất cẩn thận rồi mới bấm máy. Xong anh chụp cả hình Hạnh, chắc để muốn có được một chứng nhân trước ngôi mộ đã trở nên vô hình mà chốc nữa anh sẽ nghe đầy đủ sự tích của câu chuyện.

- Cậu bắt đầu đi,... Và Hạnh theo lời anh.

- Vâng, hơn ba mươi năm... Đêm ấy, chúng tôi ba anh em sau khi đã đánh chìm chiếc tàu đổ bộ của Mỹ, chúng tôi chỉ dừng lại một chốc để xem được kết quả, xong phải rút ngay. Không phải chúng tôi không dám trụ lại, nhưng nhiệm vụ của chúng tôi đến đây đã hoàn thành, nên việc rút lui là đúng lúc. Hơn nữa để tránh một cuộc lùng sục, nếu quân Mỹ, có thể làm tiếp theo để đáp trả món nợ vừa xảy ra. Việc trở về bấy giờ không khó như lúc bơi qua, vì bây giờ chúng tôi đã nhẹ nhàng hơn. Và dĩ nhiên, chúng tôi không chọn lối cũ, để tránh cái bất trắc. Liếc nhìn về nơi xảy ra cuộc chiến, vẫn là pháo sáng, vẫn là đám tàu to nhỏ nhiều loại vần vụ, nhưng chừng như không còn tiếng súng. Cũng nói thêm cái may mắn, là không bị một chú cá sấu nào hỏi thăm trên đường bơi. Có lẽ chúng đang tập trung tới dự bữa tiệc do quân đội Mỹ mời! Được nghỉ ngơi lấy lại sức, và để báo cáo lên thủ trưởng...

Đại tá Bảy Ước cắt ngang:

- Thôi không cần nhắc lại việc ấy, cậu cứ kể về chuyện con cá sấu thôi!. Và Hạnh lại tiếp tục:

- Buổi sáng ngày thứ ba, chúng tôi đang ở trong lán thì bỗng có tiếng gọi: - Anh em ơi, ra xem! Có cá sấu!

Chúng tôi chạy ra sát bờ sông. Đúng là một con cá sấu thật to đang nghếch mõm lên sát bờ đất.

- Phải ba tạ là ít! Một anh reo lên nho nhỏ. Một anh khác khoát tay ra hiệu bảo im lặng.

- Bắn đi! Mấy bữa nay đơn vị đang thiếu thực phẩm. Tự nhiên con cá sấu này vác xác đến nạp mạng cho chúng mình. Và tất cả như đồng tình. Vì thời gian này, diệt cá sấu cũng như diệt giặc Mỹ, nó thường gây hại cho anh em mỗi lần qua sông, nhất là cho cánh đặc công Rừng Sác. Như một mệnh lệnh ý định được thực hiện ngay.

Mấy phát súng nổ. Trong cái bất ngờ không thể biết trước, con cá sấu giẫy lên vài phút, rồi nằm im đang từ từ chìm xuống. Nhưng anh em đã nhanh chân nhảy xuống, người cầm dây buộc vào đuôi, vào mõm, và hùa nhau đẩy lên bờ. Ba tạ thịt không ít. Có anh đã mừng thầm.

Một vùng rừng sình lầy rộng mênh mông, một vài tiếng súng nổ cũng không gì là lạ, vì hẳn quân Mỹ đã từng biết nơi ấy là căn cứ địa Rừng Sác. Nhưng với người chỉ huy thì phải chú ý. Cho nên chẳng mấy chốc đã thấy mặt trung đoàn trưởng ở cạnh mình rồi. Một anh nói ngay:

- Báo cáo thủ trưởng, kiếm được con cá sấu này to lắm!

- Ừ! Nhưng trước khi chúng mày bắn, nó đã chết chưa hay bị thương mà tạt vào đây?

- Thưa thủ trưởng, một là nó ăn no qúa, vào nằm nghỉ, không thì cũng bị thương do hôm kia đạn Mỹ bắn. Trước lúc bọn em bắn, nó còn ngáp há rộng cái mõm đầy răng nhọn, thế là nó chưa chết!

Tất cả cùng xúm lại, mổ con cá sấu, họ cắt ngay cái đầu rời ra, rồi lật ngửa xẻ từ trên xuống dưới. Gan ruột thòi ra, cái dạ dày to tướng phình như một quả bóng lớn bơm căng. Bảy Ước nói như ra lệnh:

- Xem dạ dày nó có gì trong... Biết đâu...

Anh không nói tiếp, hình như trong anh hiện lên một hình ảnh mà mỗi lần anh em bắt được cá sấu, anh còn kinh hãi và xúc động. Đấy là một lần, anh em mổ một con cá sấu và đã thấy trong dạ dày nó một chiếc nhẫn vàng và một mớ tóc phụ nữ- những thứ mà con vật ăn không tiêu được và cũng chưa bị thải ra. Anh xót xa cho người phụ nữ bất hạnh nào đó mà không thể biết được tông tích. Cho nên hôm nay cũng thế, anh như ra lệnh là phải xem cái dạy dày của con cá sấu.

Và chính lần này, như một sự bất ngờ lại tái diễn. Một đám tóc vàng óng nằm trong cái đống bầy nhầy những thức ăn đã nhão nhoét bên cạnh vài dúm tóc đen, lần giữa những đốt xương to nhỏ, tự nhiên, người chỉ huy Rừng Sác kêu lên:

- Nghĩa ơi!

Như cùng ngừng tay và im lặng tất cả.

Bảy Ước đang gọi tên của Nghĩa. Nghĩa - một trung đội trưởng dưới quyền chỉ huy của anh vừa mới bị “nạn cá sấu” mà anh vừa mới được báo cáo hôm qua.

- Chôn đi, chôn đi tất cả! Anh hét to lên, không kìm được mình. Và cả nhóm người đứng bên anh cũng quên mất những ý nghĩ ban đầu về chuyện thực phẩm.

Một số người chạy về lấy xẻng, cuốc và dao. Xong họ xúm nhau người phạt bớt những cành, những gốc chà là, rồi đào một cái huyệt rộng, và đẩy tất cả xuống cái hố đất vừa đào. Người dùng xẻng, người dùng cuốc vun đất lên:

- Mớ tóc vàng, nhất định là một quân nhân Mỹ, và mớ tóc đen nhất định là...

Người cầm dao lúc nãy nói một cách dè dặt.

- ừ thế thì chôn đi là phải, mà con cá sấu này cũng có công diệt một tên giặc Mỹ cũng đáng gọi là “dũng sĩ diệt Mỹ”.

- Nhưng còn mớ tóc đen?

- Thôi tha tội cho nó. Nó làm sao phân biệt được địch hay ta. Với đồng chí ta. Thì việc ta làm là đúng đắn rồi..

Vừa lúc đắp xong nấm mộ, thì Vĩnh cầm dao phát những cành chà là gai, vứt lên nấm đất gọi là mộ ấy, như một thứ ngụy trang.

Anh em cùng ngồi nghỉ. Vĩnh đến bên cây bần, vạch khắc lên thân cây hình một con cá sấu. Anh quay lại:

- Ta gọi đây là “mồ cá sấu”.

- Ừ hay, hay đấy.

Thế là tay Vĩnh nghịch ngợm khắc hình lên cây, hóa ra bây giờ cũng có ý nghĩa. Hạnh nói như một lời kết luận.

... Lúc ấy, tôi quay lại giữa khoang thuyền Hạnh tiếp, lấy một thẻ hương và nhảy lên bờ. Tôi lấy bật lửa trong túi bật lên, đốt mấy nén hương và cắm lên phía trước mộ. Rồi chắp tay vái ba lần như những lần đi phúng viếng hay giỗ chạp. Tôi nghĩ về đồng chí mình, nhưng tự nhiên cũng thấy thương thương anh lính Mỹ nào đó đến bỏ xác nơi này.

Và một người Mỹ như cũng theo Hạnh nhảy lên bờ. Anh ta xin Hạnh mấy nén hương, châm lửa và cũng cắm xuống chỗ Hạnh vừa cắm. Rồi anh ta làm dấu thánh trên ngực.

Chắc trong hai người đều có hai cách cảm nghĩ khác nhau. Rồi họ lại cùng xuống thuyền. Con thuyền nổ máy và quay về phía cầu cảng Đồng Nai. Anh Bảy Ước đã bấm máy điện thoại di động.

Chiếc ô tô của hai người Mỹ từ phía ngã ba Vũng Tàu đã đến. Hai người bắt tay cảm ơn anh Bảy Ước và Hạnh.

Trước khi lên xe, người Mỹ nói sỏi tiếng Việt nói với anh Bảy Ước:

- Chuyến đi này của chúng tôi không đạt kết quả cụ thể, nhưng lại đạt một kết quả ngoài mong muốn là ông đã cho chúng tôi nghe một câu chuyện khá kỳ lạ về “mồ cá sấu”. Thật y như những truyện trong “Nghìn lẻ một đêm” chắc tôi phải kể lại chuyện này trên báo chí Mỹ chúng tôi - Xin phép ông.

Anh Bảy Ước nhẹ nhàng:

- Tuỳ các ông!

... Và chiếc xe lao đi...

Tự nhiên Hạnh nhảy đến ôm chầm lấy Bảy Ước lúc không còn hai người Mỹ.

- Anh Bảy, anh Bảy.

Bốn dòng nước mắt chảy xuống trên má hai người. Khi buông nhau ra, Hạnh nói:

- Anh ghé em chơi đã!

- Thôi lần khác...

Chiếc xe của Tỉnh đội cũng vừa đến dừng lại. Hạnh hỏi thêm:

- Độ này anh còn đánh cờ không?

- Hết đánh giặc, bây giờ về hưu thì...đánh cờ. Còn cậu ra sao?

- Em thì đánh...cá...thôi.

Tiếng của Hạnh như kéo dài theo tiếng ô tô người chỉ huy cũ của mình đang hòa vào muôn tiếng khác trên đoạn xa lộ Hà Nội ở Đồng Nai.

  Tháng 10-2006

             T.H


Tấn Hoài
Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 147 tháng 12/2006

Mới nhất

Thông báo về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí

13/04/2026 lúc 22:15

THÔNG BÁO Về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí Kính gửi quý bạn đọc,

31/07/2025 lúc 15:23

Tạp chí Cửa Việt - 35 năm một chặng đường

28/06/2025 lúc 16:18

Ngày 28/5/2025, Tạp chí Cửa Việt tổ chức lễ kỷ niệm 35 năm tạp chí ra số đầu tiên và gặp mặt cộng tác viên năm 2025. Tại buổi lễ, Phó Tổng biên tập phụ trách Hồ Thanh Thọ đã có bài phát biểu khai mạc...

Vùng trời hoa sim

26/06/2025 lúc 23:29

Những triền sim tím đồi xaBềnh bồng nâng gót mùa qua lặng thầm

Hương xưa; Nắng sớm

26/06/2025 lúc 23:27

Hương xưa… Ta về tìm lại hương xưa

Tạp chí số cũ
Câu chuyện du lịch
tư tưởng Hồ Chí Minh

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

16/04

25° - 27°

Mưa

17/04

24° - 26°

Mưa

18/04

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground