|
N |
guyễn Cư Trinh thức suốt đêm làm biểu tấu dâng lên chúa Nguyễn Phước Hoạt, trong tấu có đoạn viết:
“Dân là gốc của nước, gốc không vững thì nước không yên. Lúc yên bình không lấy ân nghĩa mà thu phục lòng dân, đến khi có việc làm sao mà nhờ cậy? Trộm nghĩ thói tệ chất chứa trong đời đã lâu, nếu cứ theo lối thường, giữ phép cũ không chịu thùy nghi đổi mới, không lập phép tắc kỷ cương thì một đạo cũng không trị được, huống chi một bước. Nay những tệ nạn làm khổ dân và các quan địa phương nhũng nhiễu là nuôi lính, chăm voi, nộp tiền án phí. Lính thì quốc gia đã chu cấp lương bổng, song các quan, mượn cớ quân Trịnh thường đến, phải có quân địa phương để phòng lúc bất ngờ, chờ quân nhà chúa đến, xách nhiễu gạo tiền, bổ đầu từng nhà mà thu. Giàu còn có tiền, nghèo lấy đâu mà chịu? Lại có nơi phải nộp voi cho chúa, thợ săn không công đã đành, người không săn voi cũng phải nộp gạo, nộp thóc thay suất phải phục dịch, voi bắt về nuôi hàng tháng mới tạm là thuần thục, triều đình đã cho, quan lại lờ đi lại gõ vào đầu dân chúng; lại đến tiền án phí, co giãn khôn lường, vô chừng mực. Đó là bởi quan coi hình án ở triều đình không chỉ rõ mức đóng, mặc dưới trấn, phủ muốn thu bao nhiêu thì thu.. điều tệ hại thật khôn kể xiết”.
Nguyễn Cư Trinh còn tâu xin định lại việc thu thuế lệ và tô ruộng, nên giao cho phủ huyện, dùng để cho quan coi thuế từ triều hàng năm xuống tự thu gây phiền nhiễu.
Tờ tấu dâng lên, chúa Nguyễn cũng muốn thực thi, song lại có kẻ dèm pha bảo:
- Anh em Nguyễn Cư Trinh cậy có chức, học vấn; được chúa tin yêu, nay vạch điều nọ, can điều kia, lòng tự phụ đã nhen nhóm. Điển chương pháp độ của chúa do Nguyễn Đăng Thịnh bày ra, còn văn thư từ lệnh đều do Cư Trịnh soạn thảo, chúa quý người có học mà trọng dụng, xem có vẻ lớn. Vả lại phép tắc tiên chúa đã ban, vừa lên đã sửa, liệu có nên không?
Chúa Nguyễn nghe can liền thôi. Nguyễn Cư Trinh bèn nhất quyết xin từ chức. Chúa triệu về phủ dụ. Cận thần có kẻ lại xúi giục chúa:
- Nguyễn Cư Trinh chỉ vẻ mồm, nay có giặc ở Đá Vách ở Quảng Ngãi luôn cậy hiểm địa quấy rối, để lâu không lợi khi có quân Trịnh kéo tới. Sau lưng không yên thì mặt nước thế giặc lớn, đôi đằng tương hỗ, hẳn bất lợi, nên cử Cư Trinh về đó, xem có làm nên trò trống gì không?
Chúa Nguyễn nghe theo, cho Nguyễn Cư Trinh làm tuần phủ Quảng Ngãi,...
Nguyễn Cư Trinh đến nhiệm sở, làm như chưa tính gì đến việc đánh giặc Đá Vách, mà thay đổi những việc quan lại trước những nhiễu dân chúng. Cứ mười ngày lại xuống một huyện, xem xét công việc, nhất là xem các việc xử án, duy trì sự công minh liêm khiết. Được một năm, dân tình rất ca ngợi, thuận theo.
Cư Trinh chọn lấy hai nghìn lính giỏi, đưa lên vùng núi tập luyện rất kỹ, rồi tính chuyện đánh giặc Đá Vách.
Có viên lý lục bàn chùn:
- Giặc Đá Vách cậy địa thế hiểm trở làm căn cứ, các triều trước còn không dẹp nổi huống chi bây giờ. Theo tôi cứ tăng thêm tuần tra ở các chợ lân cận. Thế nào chúng cũng xuống cướp bóc, ta đem quân đến tỉa dần, dọa chúng là chính, hẳn cũng bớt hơn trước.
Nguyễn Cư Trinh nói:
- Rừng là nơi kiếm sống của dải đất hẹp này, giặc chặn giữ mất, dân lúc nào cũng nơm nớp, phải phá tan sào huyệt của chúng thôi.
Liền cất quân đi đánh. Cư Trinh lại tự đặt ra bài Sãi Vãi, những đêm trú quân, cho người diễn, để thúc giục lòng quyết trừ giặc của tướng sĩ. Lại tự tay viết thư phủ dục, bắn vào núi, khuyên giặc nên theo về với chúa Nguyễn.
Giặc vẫn không nghe.
Ông cho quân bí mật theo đường núi, vào tận sào huyệt, đánh bật chúng, đuổi khỏi thung lũng, rồi chiếm giữ, cho đặt đồn trại cứu ứng nhau, cử tướng giỏi ở lại trấn thủ, canh phòng rất cẩn mật. Lại cho lính làm ruộng, trồng ngô, làm ra vẻ sẽ ở lại lâu dài. Bọn giặc Đá Vách sợ, liền đem quân dinh đầu hàng. Từ đấy Cư Trinh được chúa rất yêu và tin dùng.
***
Nguyễn Cư Trinh lại được cử ra giữ đất biên trấn, rồi về trấn thủ Gia Định.
Đất Gia Định thời ấy rộng mênh mông, sông rạch rất nhiều, chợ bên sông buôn bán rất tấp nập. Công việc rất bộn bề. Mọi việc phủ dụ đất mới mở, chúa Nguyễn giao cả cho Cư Trinh. Dựa vào các rừng đước và sông rạch, các toán cướp nhỏ, thường giả làm dân miệt sông nước, hoặc những thuyền buôn, chợ hợp cứ xớn xác không yên, quan quân không làm sao dẹp nổi.
Nguyễn Cư Trinh vi hành, giả làm chủ buôn đến một vài buổi chợ, thấy chúng không phải là những đám cướp lớn, thường chỉ đi một vài thuyền, trà trộn vào đám thuyền buôn, bất ngờ nhảy sang những thuyền lớn, dí dao vào tống tiền rồi nhảy về thuyền mình, chèo vội đi, lẩn khuất sau những rặng bần, rặng đước mà chuồn mất..
Nguyễn Cư Trinh về nghĩ suốt một đêm. Bữa sau, cứ mỗi chợ bên sông đưa xuống một cơ lính, trang bị đầy đủ vũ khí, lại chọn những người lính giỏi bơi lội, đặt một trạm bên trong chợ. Các thuyền buôn hay đem sản vật lên chợ bán, đều phải ghé vào, ghi tên chủ thuyền. Lại sai những người giỏi khắc, chữ đẹp, khắc chữ nổi, chữ viết trắng, tên chủ thuyền ở đầu mũi thuyền. Những thuyền chịu theo quy định đều được ghi vào sổ để tiện theo dõi. Bọn cướp chợ đành chịu không làm gì nổi.
Nguyễn Cư Trinh lại đem quân đuổi người Chân Lạp, khi họ mang quân đến chiếm đất đai.
Mùa Xuân năm Ất Hợi (1755), chúa Nguyễn sai Thống suất Nguyễn Thiện Chính và Nguyễn Cư Trinh làm tham mưu tiến quân đánh Chân Lạp thu được nhiều đất đai... Dinh quân đóng ở Ngưu Chử (Bến Nghé). Doanh trại do Cư Trinh sai lập rất quy cũ, đúng với binh pháp. Hàng ngày ông cho luyện binh rất gắt, rồi tập trận đánh bộ, đánh thủy. Thiện Chính cũng nắm một đạo quân lớn thì không động tĩnh gì. Cư Trinh giục Thiện Chính cho quân tập luyện, phối hợp, Thiện Chính cười mà bảo:
- Quân của ta tập nhiều rồi, binh pháp đã thuần thục, tập làm gì nữa.
Rồi kéo quân xuống đóng ở Mỹ Tho, sau khi đánh thắng người Chân Lạp, phủ dụ người Côn Man. Dân Côn Man theo rất đông. Thiện Chính sợ ảnh hưởng đến việc hành quân, liền để họ ở lại phía sau, đem quân đi trước. Không ngờ đến đất Tà Ân bị quân Chân Lạp tập kích, tách quân của Chính và vây đám người Côn Man. Chúng đã bắt đầu tàn sát. Cư Trinh được tin liền đem quân bản độ đến, đánh tan thuyền Chân Lạp, cứu được 5000 dân Côn Man, khiến Thiện Chính cũng thoát nguy.
Cư Trinh phá vây, đón Thiện Chính, điềm nhiên, ôn tồn khuyên nên chỉnh đốn thêm quân thủy. Thiện Chính ngượng, đành nói:
- Nếu tôi nghe ông luyện quân thật kỹ, thật giỏi thì đâu đếm nông nỗi này.
Nguyễn Cư Trinh đưa dân lên Côn Man và đóng ở núi Bà Đen.
Chúa Nguyễn thay Trương Phước Du làm Thống suất cùng Nguyễn Cư Trinh, quân Côn Man, đánh đuổi quân Chân Lạp, rồi tiến về Hà Tiên.
Mạc Thiên Tích liền ra đón. Cư Trinh thấy bạn thơ, giao việc cho phó tướng rồi đi chơi Hà Tiên mấy buổi cùng Mạc Thiên Tích. Tích đưa Cư Trinh về thăm cảnh đẹp ở Hà Tiên, rồi làm thơ ngâm vịnh, hai người thích nhất là bài “Thạch động Thôn Vân”. Bài của Mạc Thiên Tích như sau:
ĐỘNG ĐÁ HÚT MÂY (1)
Núi xanh kìa ngọn vút sông Ngân
Lòng động long lanh đá biếc ngần.
Mây khói ở đi không tự ý.
Vô tình cây cỏ cũng rung rinh
Gió sương từng trải, văn chương lạ
Năm tháng vần xoay, khí sắc lành
Tuyệt đích tinh hoa là đất ấy
Gió trời hút thở, thế chênh vênh.
Bài thơ của Nguyễn Cư Trinh, tài hoa chẳng kém:
ĐỘNG ĐÁ NUỐT MÂY
Chẻ đồi một núi thế chon con.
Nuốt gọn mây bay giữa đá hòn
Rắn duỗi, rồng co thu gọn cả.
Loan bay, phượng liệng giữa không trung.
Hồ lô lửa ẩm nên ươm khói
Nhà đá chăn bông phải đắp chồng
Cửa động vượt ra, năm về sáng
Hào quang sáng rực đọc non sông...
Ngồi bên bầu rượu túi thơ, không ai nghĩ Nguyễn Cư trinh là nhà thao lược!
***
Năm Ất Dậu 1765, Nguyễn Phúc Thuần lên ngôi, gọi Nguyễn Cư Trinh làm Lại bộ kiêm Tào Vận Sứ. Trương Phúc Loan chuyên quyền mấy chục năm. Loan giết cả Chưởng Văn, Chưởng Võ, nhưng Phúc Loan lấy quyền làm sai di chúc, lập Phúc Thuần... từ đó thu quyền về trong tay, lập bè cánh, lấn át cả chúa và triều đình...
Trương Phúc Loan muốn gì Phúc Thuần cũng cho, ban cho ăn lộc ở nguồn Sai, nguồn thu Bồn, nguồn Trà Đinh, Trà Vân, mỗi năm lợi tức thu về bốn năm vạn lượng bạc. Các nguồn thu từ bắt voi cho triều đình, đóng tàu ... vụ việc khác cũng tới ba, bốn vạn lạng. Châu báu, vàng bạc, ngọc quý, đồ cổ không biết bao nhiêu mà kể. Riêng dây xâu tiền kẽm, mỗi năm phải dùng tới một lượng mây khá lớn... Gặp mùa lũ lụt, ngập vào phủ, vườn Phấn Dương, rương hòm bị ngập nước, vàng bạc, gấm là phơi đầy chiếu mây, sáng cả một góc trời. Gia nhân ra chợ, mua rẻ hàng hóa, chẳng khác gì cướp giật chẳng ai dám kêu.
Trương Phúc Loan coi thường cả triều đình, trước còn lên chầu chúa, rồi vào phủ sau này, Loan ở nhà. Các quan có việc đều được gọi đến nhà riêng bàn việc triều chính, không một ai dám lên tiếng.
Nguyễn Cư Trinh, nhân một buổi chiều, xuất ban lậy chúa rồi chỉ vào mặt Trương Phúc Loan mắng rằng:
- Ông là quốc phó, coi Bộ hộ lại kiêm coi Tào vụ, có hiểu phép tắc triều đình không! Từ cổ chí kim, việc triều đình phải bàn ở Phủ, ở việc rồi tâu lên chúa thượng... Ông là gì, mà coi nhờn ngôi tôn, gọi người đến nhà để bàn việc triều chính. Tội nhờn vua, chuyên quyền ấy là tội gì? Thiên hạ làm loạn chính là từ ông đấy!
Nói đoạn tức run lên, tóc dựng ngược, mắt quắc lên rách cả mí.
Cả triều đình sợ liên lụy, không ai dám ngẩng mặt lên.
Chúa Thuần ngồi ngây ra một lúc rồi cho bãi chầu.
Trương Phúc Loan giận tím mặt mà không dám làm gì cả...
Từ đó, ông buồn, chỉ làm hết chức trách, rồi đóng cửa ở nhà, nằm đọc sách...Hai năm sau ông mất.
N.V.P



