TCCV Online - Thế là tôi lại về sau hơn ba mươi năm ăn học rồi xa quê. Tôi biết sự trở về của mình đang chất thêm lên hai tấm lưng còng của cha mẹ nỗi buồn vào tuổi chập chiều. Biết vậy nhưng không thể nào khác được, chỉ có về quê, sống hẳn ở cái miền truông đồi gió Lào với cát trắng đến tiếng nói cũng sẩy sàng nằng nặng sự nhọc nhằn thì tôi mới thấy mình được sống là mình. Và chỉ khi mình được sống đúng là mình thì mới mong làm được một điều gì đó nên tấm nên món cho mình và cho đời. Bốn mươi tuổi, phó giáo sư tiến sĩ và những tặng thưởng đó đây trong các cuộc thi, giờ nhìn lại chỉ giống như đồ đi mượn, chỉ là thứ trang sức rủng rẻng trước đám đông. Xa quê tôi như người bước hụt. Tôi phải trở về, dù cho cuộc trở về có lắm nhọc nhằn, nặng suy tư và quá nhiều trăn trở. Không biết hơn một trăm năm về trước, sự trở về quê ở ẩn của ông cụ nội tôi có mang nhiều suy tư và đằm đo đắn như tôi bây giờ? Chắc sẽ có suy tư trăn trở nhưng không đến nỗi nặng nề như thời nay, vì hình như các cụ xưa ở ẩn cũng có bạn có phường. Có điều lạ là không biết bắt đầu từ ai và từ thời nào mà cái miền đất eo thon, mỏng như cái cật nứa quanh năm bão dập lũ dồn quê tôi lại chính là nơi “đất đẹp” cho biết bao người tìm về ở ẩn. Cũng có người lý giải vì điều kiện địa lý, khí hậu đó hợp với người có khí phách, người quân tử cương cường. Nhưng cũng có người nói cho dù lui về ở ẩn nhưng những người ấy vẫn không nguôi thương nước, thương dân nên chọn vùng đất quê tôi không đến nỗi gần triều đình để bị phân tâm về những điều quốc sự, nhưng cũng không quá xa để khi cần là có mặt ngay giúp nước, giúp dân. Khi đất nước thanh bình thì vui thú điền viên, khi quốc gia lâm sự thì ra tay giúp giập. Ngày đó ở ẩn là một điều bình thường, còn ngày nay hình như là điều dị thường trong mắt người đời. Chính vì thế nên khi biết tôi có ý về quê ở hẳn, cha rầu rầu:
- Anh nói thật đấy hả? Ừ thì bốn mươi tuổi, công thành, danh toại rồi lấy vợ cũng được. Nhưng có cần phải về cái đất này không? Đất mình là đất học. Đúng! Nhưng tại sao lại là đất học anh biết không? Vì nó nghèo quá, nó khắc nghiệt quá nên phải học để đỗ đạt, học để mà đi. Giờ anh đã học được rồi, đã đi khỏi rồi lại quay về… thật tôi không thể hiểu nổi anh. Anh muốn về thì đợi tôi xuống đất đã rồi hãy về, tôi không chịu được nhục.
- Thì có ai ở cái làng này phải chết nhục đâu mà ông nghiệt với con nó thế? - Mẹ tôi góp lời - Gần xuống lỗ cả rồi mà ông vẫn không quên được người ta à? Sao ông cứ bắt con phải gánh cái ẩn ức của mình?
- Biết gì… đàn bà tóc dài nghĩ ngắn.
- Ừ tôi thì chỉ nghĩ được có thế thôi, tôi nông dân chân đất mắt toét, người ta tiểu thư lá ngọc…
- Bà có im đi không thì bảo…
Tôi để lại cho cha mẹ một cuộc cãi nhau như hàng trăm cuộc trước đây để đi vào Trại. Trại, cứ mỗi lần đến tôi lại thấy thân thuộc, thanh thản lạ thường dù từ trước đến nay chưa một lần tôi sống ở Trại. Tôi chỉ biết về Trại qua ký ức cha truyền sang trong những ngày lang thang theo cha dọc những cánh rừng ướp đầy hương hoa dù dẻ để đi tìm củ mài củ chụp trong mùa đói. Cha kể về Trại để muốn tôi không lặp lại đời ông, đời cha phải vào trại ở. Cũng chính vì mang tiếng là dân làng Trại nên cha đành phải mang trong mình mối hận tình. Gia đình người ấy bảo cha mang trong mình máu gàn dở, máu ẩn giật của đời cố, đời ông để lại, ai lấy cha thì sẽ khổ suốt đời vì cái máu gàn dở cố hữu đó đằng nào rồi cũng ẩn cư, cũng không được nhìn quầng sáng thành phố.
Người làng tôi da trắng mắt nâu hiền như đất và ít lời như núi. Con gái làng tôi tóc dài quấn thành búi kê lên vai gánh củi qua truông đùi thuôn chắc thẳng, ngực căng eo nhỏ như chét tay hỏi có yêu không chỉ cười mắt ướt.
Tốt nghiệp phổ thông thấy cảnh nhà mình neo người với rậm rực đực cái nhất là những đêm trăng sáng căng nhưng nhức tức như đóng mủ tôi tính lấy một gái làng như thế làm vợ, mới hở lời đã bị cha cản:
- Chưa nên con ạ, khi nhu cầu càng cao thì yêu cầu về chất lượng càng thấp. Con hãy lập danh trước đã, có danh thì mọi thứ sẽ tự khắc đến với mình.
- Nhưng tình yêu thì chỉ có một mà cha?
- Ngày xưa cha cũng như con, cứ nghĩ rằng không lấy được người mình yêu thì lấy bất kỳ ai mà chẳng thế. Nhưng rồi thời gian đã dạy cho cha là không phải thế. Bất hạnh của con người là cái khó sửa thì lại quyết nhanh quá, còn những cái dễ bỏ đôi khi lại mãi đắn đo mất thời gian. Chuyện vợ chồng là chuyện trăm năm, có những người đàn bà chỉ để yêu mà không thể lấy làm vợ được con ạ. Trai ham sắc mà, cô nào đẹp thì trai mê, ừ thì đẹp mê đã đành nhưng lấy làm vợ, sống với nhau trọn đời lại là chuyện khác. Làm thằng đàn ông “đầu trên đi trước thì hay/ đầu dưới đi trước ăn mày tứ phương” con ạ.
Nghe lời cha, mà không nghe cũng không được, tôi bỏ mộng chạy theo cái sướng trời đày để lao đầu vào học.
*
Suốt những năm đại học đã ngủ với vài chục gái đĩ thập thành nhưng tôi vẫn chăm chắm mong sớm tốt nghiệp để về quê với Quỳnh, với chân đó, mắt đó, ngực đó và cái eo chỉ bằng một cái chét tay đó vẫn nhốt cái khao khát bản năng, không nghe lời ngon ngọt của bao đại gia làng muốn truyền vận may vào người nàng qua con đường “sinh hoạt”. Quỳnh vẫn đợi vẫn chờ tôi. Rồi cũng đến ngày tôi về dạy học ở trường huyện, ngỏ lời tính cưới Quỳnh thì một lần nữa cha cản. Chán, lang thang tôi lại vào làng Trại. Nói là làng nhưng giờ chẳng còn người, chỉ có sim mua lúp xúp chin chít chen chân với quýt, ổi, mận đào lâu không có hơi người trơ dáng gầy khô khỏng. Không hẹn mà gặp, tôi và Quỳnh ôm nhau khóc ròng trong bụi cây hoa dù dẻ vàng cánh kiến. Buồn mụ mị mò mẫm đòi tẩn, Quỳnh cho, tính lấy, rồi lại đắn đo giữa thèm và thương. Sợ đang thương lấy rồi thành thường mất thiêng nên đành đậy điệm lại bảo Quỳnh giữ cho người có phúc có phần hơn. Quỳnh không nói gì vì không còn gì để mà nói nữa. Làm thằng đàn ông đến tẩn mà còn sợ thì còn làm được trò trống gì trên đời này nữa. Chắc Quỳnh ngao ngán nghĩ về tôi như vậy. Đậy điệm xong áo xống, vấn tóc lót vai gánh củi trèo truông ra về Quỳnh để tôi chỏng chơ, bơ phờ ngổn ngang ở lại Trại. Cho đến bây giờ tôi vẫn không thể lý giải được là ngày đó sao tôi lại như thế để rồi sau Quỳnh hình như trên thế gian chẳng còn cô gái nào thượng đế để dành riêng cho tôi nữa. Chẳng lẽ phải đợi đến tuổi của cha tôi mới biết được là nên yêu một người và nên lấy một người khác làm vợ thì mới hạnh phúc sao? Liệu cha và mẹ tôi có hạnh phúc? Chán, ừ thì học, tôi biết mình cũng chả thông minh giỏi giang gì, có nhiều bằng cấp chẳng qua là không còn có việc gì để làm ngoài việc học mà thôi.
*
Càng học lên cao tôi càng xa quê hương. Nhận bằng tiến sỹ được vài tháng tôi chuyển về cơ quan mới ở thủ đô, điều đó làm mẹ buồn nhưng cha thì vui ra mặt. Cha muốn tôi là sự nối dài của cha để làm được những điều cha muốn làm mà không thể làm được. Ngày tôi về nhận công tác ở thủ đô dù đang ốm nhưng cha vẫn gượng dậy vượt gần nửa nghìn cây số ra thăm. Sau khi chắp tay đằng sau đi tham quan một vòng, cha gật gù nói:
- Cũng đáng cái công học con ạ. Đủ đầy lý thuyết rồi, bây giờ thì thực hành đi thôi.
- Con đang sợ khó sống ở đây. Miền Trung nói là làm. Miền Nam nói vậy mà không phải vậy. Miền Bắc nói một đường làm một nẻo.
- Vậy nên miền Trung mới khổ, mới nghèo hơn miền Bắc và miền Nam. Ra đây rồi anh cũng nhanh quen thôi, học thật thà mới khó chứ lươn lẹo thì học nhanh lắm. Cũng như sự sướng khổ ở đời vậy, làm quen với cái sướng thì nhanh mà làm quen với cái khổ thì cần phải có quá trình. Khổ khó chịu, sướng mau quen là thế.
Nhưng có lẽ cha đã nhận định sai. Cơ quan mới khác xa những gì tôi đã tưởng tượng trước đây. Bây giờ thì tôi đã biết được mặt trước của tấm chắn cống. Để cho ra được một dòng nước sạch, thì mọi rều rác đều tập trung ở trước tấm chắn cống, trong đám rều rác đó có cái thấp hèn chen chân với sự cao cả, cái thật thà dung dị, chất phác chen chân cùng cái giả dối, kiểu cách. Cơ quan tôi đã tồn tại gần một thế kỷ, rều rác đọng lại quá nhiều.
Thấy tôi không ăn nhập, cứ lạc lõng trong cơ quan, người thông cảm thì bảo: “Đúng là dân miền rừng, thật thà chất phác quá”. Người trực ngôn ác ý thì nói: “Học quá hóa hâm. Tự trọng với xấu hổ quái gì, thiếu cha gì thằng vẫn được gói mang về, không phải làm mà còn nói không biết ngượng, nói như bố tướng người ta ấy, có sao đâu”. Mấy cháu nhỏ thế hệ sau thì nhìn tôi với ánh mắt rất chi là… triết học nói: “Tức hạ phá thượng, bốn mươi tuổi, chưa vợ nên phải lao vào làm việc cho quên thôi, không cách này thì cách khác, phải tìm đường mà giải phóng thôi”.
*
Từ núi rừng ra, chưa vợ con, không nhà cửa riêng nên tôi dùng phòng làm việc làm phòng ở và đương nhiên là ngủ trên bàn. Cứ mỗi buổi chiều tan tầm, đứng trên ban công tầng thượng nhìn mọi người lục tục ra về và đàn chim ri rinh rích kể chuyện với nhau trong tán nhãn tùm tòa, lòng tôi lại dâng lên một cảm giác lâng lâng khó tả và ở nơi đầu đao cong vút của ngôi nhà cổ kế bên, có một “ngôi nhà” nho nhỏ của gia đình sóc nâu với cô vợ đỏm dáng nhưng hơi cục tính thỉnh thoảng lại khìn khịt mắng mỏ chồng con. Và xa phía sông Hồng hình như ai đó đang đốt bãi, lay lắt những sợi khói chiều. Không còn trẻ hay quá già để mà khóc mỗi khi nhớ quê, nhưng tuổi bốn mươi cho phép tôi bắt đầu có những toan tính được mất của đời người, nhất là mỗi lần đi vui đám cưới và đi buồn đám ma về. Một mình trống rỗng trong ngôi nhà cổ thấy hoang hoải đến tận cùng. Bức ảnh phóng to ngày nhận bằng tiến sĩ để trên tủ sách nhìn lại tôi như để trêu ngươi. Phải thay đổi, đã đi hết nửa đời người rồi còn gì? Và điều quan trọng là tôi nhận thấy hình như ở đây họ không cần đến sự có mặt của mình. Hay nói đúng hơn sự hiện diện của tôi có cũng được mà không có cũng được. Không phải đến tuổi bốn mươi tôi mới nghĩ đến những điều đó, nhưng trước đây dù có nghĩ đến thì lại ngụy biện rằng mình còn trẻ, tuổi đời còn mênh mông, vài ba năm nữa mới thực hiện cũng chưa muộn. Thực chất là tôi không đủ can đảm để phá bỏ những thứ mà từ lâu, gia đình và xã hội đã coi như chuẩn mực, là lẽ phải bất biến, ai muốn làm khác, muốn tìm tòi, sáng tạo, muốn có một đường đi khác thì bị cho là không bình thường, lập dị thậm chí là bị bệnh thần kinh. Tôi muốn vượt thoát ra khỏi tâm lý đám đông, bầy đàn, muốn chạy ngược chiều từ thành thị về nông thôn. Vâng đâu phải sự ngược chiều nào cũng là phản trắc.
Tôi sẽ đi tìm thiên đường của chính mình và thiên đường đó không ở đâu khác chính là làng Trại dù từ lâu tôi sợ những chuyến về quê, tôi sợ ánh mắt thắc thỏm của mẹ nhìn mình, sợ cái cung kính của người làng dành cho một ông phó giáo sư tiến sĩ, sợ gặp bạn cũ đứa buồn lánh mặt, đứa ngậm ngùi thương nuối thời học sinh, nhưng cũng có đứa học làm sang bỏ bạn và còn nhiều đứa nghèo từng bữa sắn thay cơm. Và tôi sợ những lần tránh đường đằng xa của Quỳnh. Đến bây giờ thì tôi mới thấm câu nói được đúc kết cả một đời của thầy giáo già đã dạy tôi: “Em muốn trở thành trí thức thì em phải chấp nhận sự cô đơn. Trí thức thì không được sống bầy đàn…”. Cả đời không sợ một điều gì thì cũng không được nhưng một đời mà điều gì cũng sợ thì cũng là cuộc đời bỏ đi. Dù thực hiện ý tưởng trong sợ hãi còn hơn ngồi sợ hãi mà không thực hiện. Và rồi nhân trận lụt lịch sử ập đến thủ đô tôi đã làm một phép thử. Lần đó gần một tuần thủ đô ngập nước, một số cơ quan, công sở nghỉ làm. Sống giữa thủ đô mà tôi chơ vơ như giữa đảo hoang. Trước đây cô đơn giữa biển người dù gì vẫn dễ chịu hơn giờ cô đơn giữa biển nước. Quanh quẩn một mình, thỉnh thoảng tôi lại liếc nhìn chiếc điện thoại di động đã câm nín gần tuần nay nằm nhẫn nhịn trên bàn, tôi thầm mong nó đổ chuông một lần, dù chỉ là cuộc gọi nhầm số của một người không quen biết nào đó. Tôi thèm được nghe tiếng người. Đã bao lần tôi tính cầm điện thoại lên gọi cho bất kỳ ai đó nhưng chẳng có lý do gì, chẳng lẽ lại hỏi những câu đơn điệu là khỏe không, ăn cơm chưa, vợ con thế nào?... Cũng đã có lúc tôi muốn vùng dậy, lội nước tìm đến nhà một người nào đó nhưng rồi lại thôi. Giờ đó chắc họ đang bận bịu với con, với việc nhà, việc cửa. Lạ thế đấy, con người luôn khao khát cuộc sống tự do nhưng lại lo cô đơn.
*
Tôi vào làng Trại đúng mùa hoa chạc chìu tim tím nở, và ký ức cũ tràn về khi ngang qua bụi hoa dù dẻ vàng cánh kiến, mùi hương dù dẻ luôn ướp đầy trên tóc Quỳnh mỗi lần tôi trốn mặt vào đó. Cũng có người gọi dù dẻ là hoa móng rồng, nhưng mỗi lần ngồi bên nhau tôi thường đùa đó là hoa móng Quỳnh bởi chính nó với năm cánh xinh xinh như năm ngón tay thon nhỏ của em đã tặng cho tôi một vết xước đầu đời. Phải chăng rồi tôi cũng như cha mình, chẳng thể nào nguôi ngoai cho được mỗi khi chạm vào cảnh cũ cho dù ông đã truyền cho tôi cái triết lý nên yêu một người và đi lấy một người khác. Giờ đây Quỳnh đã xa, nghe đâu cuộc sống của Quỳnh cũng không được hạnh phúc cho lắm. Chồng Quỳnh trước dạy cùng tôi ở trường huyện rồi tôi chuyển lên trường tỉnh, chuyển ngành ra thủ đô, họ đã lấy nhau. Con gái Quỳnh giờ đã lớn bằng Quỳnh của cái ngày chúng tôi yêu nhau. Hai mươi năm rồi còn gì, đủ để một đứa trẻ trở thành người lớn. Hai mươi năm đủ làm cho mọi thứ cũ đi nhưng tình cảm của Quỳnh trong tôi thì vẫn thế, cứ âm ỉ cháy và bùng lên mỗi mùa hoa dù dẻ nở. Quỳnh không hạnh phúc chắc cũng vì điều ấy. Quê tôi hoa dù dẻ thật nhiều.
*
Hơn hai mươi năm tôi lại trở về Trại, tôi sẽ ở lại đây dù có phải chịu cảnh cô đơn. Dù gì cô đơn trên chính quê hương mình vẫn còn dễ chịu hơn là cô đơn trên đất khách.
Tôi về cha buồn không muốn nói hút thuốc lào và uống rượu nhiều hơn. Cha không thể tin được rằng cái máu gàn, máu ẩn dật của dòng họ Nguyễn vẫn còn và giờ đã đến thời bùng phát. Cha không thể tin thời này mà vẫn còn có văn hóa từ chức, văn hóa ở ẩn. Cha không thể tin được rằng sau hơn ba mươi năm ăn học, tôi lại trở về con số không, thậm chí là về âm khi tôi nhất quyết sẽ vào Trại ở. Tôi đang đi ngược với dòng người nườm nượp đổ xô ra thành phố để kiếm cái ăn. Làng bây giờ đã rỗng ruột, đám ma nhiều hơn đám cưới, ngày hội rộn ràng sân đình cũng chỉ có người già ngắm nhau rồi người già chôn nhau mỗi khi trong làng có người tạ thế.
Sợ mẹ buồn, cha giận nên dù Trại ở gần, tôi cũng ít về nhà. Không phương tiện liên lạc, không điện thắp sáng, tôi đang trở về với những ngày xưa ông bà tôi đã từng sống ở Trại. Rồi đến một ngày do chủ quan, ngấm cái lạnh của cơn mưa đầu mùa, tôi bị sốt, trong cơn mê man, tôi thấy ông bà, can, cố mình về ngồi bên giường lặng yên ngắm tôi không nói, nhưng nét mặt thì tươi vui. Có lẽ họ nhớ về những ngày xưa, nhớ ngày ông cố, ông can, ông cốc đã cáo quan, bìu ríu vợ con về đây cuốc đất trồng cây. Tôi thấy ánh mắt buồn của cha và cái nhìn khắc khoải của mẹ. Tôi thấy mấy người trong cơ quan cũ tìm về, ông giám đốc mặt rầu rầu nói:
- Anh nghỉ hưu rồi chú ạ, anh có lỗi với chú và có lỗi với cơ quan, năm đó anh kiên quyết không cơ cấu chú vào cấp ủy vì anh sợ, chú vào số phiếu sẽ áp đảo... Chú chậm một nhịp không sao, còn anh thì… Giờ tỉnh táo nhìn lại thấy mình ở thêm cũng không để làm gì mà cơ quan lại mất chú…
- Anh lại quá đề cao mình rồi. Lỗi của anh không đủ để tôi quyết định về quê đâu. Tôi không biết và tôi cũng không nhớ những chuyện vặt vãnh đó. Tôi về vì tôi thấy ở đây tôi mới được sống là tôi, tôi không mất bóng mình.
- Cốt lõi là ở chỗ đó chú ạ, làm người mà mất bóng thì khác gì đã chết, có nhiều người chết lâu rồi mà vẫn còn sống sừng sững, nhưng cũng có không ít người đang sống đó mà như đã chết lâu rồi.
Ông giám đốc đang nói dở câu chuyện thì Quỳnh vào, nét mặt buồn buồn nhưng dáng người, mái tóc và đặc biệt là đôi mắt vẫn thăm thẳm sâu xanh như xưa. Quỳnh đến, ướp vào không gian nưng nức mùi hương hoa dù dẻ. Nhẹ nhàng em đến bên tôi hoa vàng cầm trên tay. Tay em mát như thạch chườm lên trán tôi và tay kia phe phẩy đóa hoa thành chiếc quạt thơm. Tôi từ từ ngồi dậy ôm em vào lòng rồi cứ thế, tôi bồng em lướt đi trên những vạt đồi trải đầy hoa dù dẻ vàng cánh kiến. Quỳnh hỏi:
- Về đây anh thấy buồn không?
- Không. Ở thủ đô anh không thấy vui thì về đây anh cũng chả thấy buồn.
- Về đây anh thấy có khổ không?
- Không. Ở thủ đô anh không thấy sướng nên về đây anh cũng không thấy khổ(*).
- Thế về đây anh có thấy vui không?
- Có, được được gặp em thì ở đâu anh cũng vui.
- Thế là ở thủ đô anh cũng… có vui…
- Không phải thế.
- Phải.
- Không phải.
- Phải.
Tôi ngắt tiếng em bằng một nụ hôn dài, em lả trên người tôi, bàn tay duỗi ra cho những chùm hoa dù dẻ rơi lả tả xuống chân. Tôi nhẹ nhàng lót lá em nằm.
Hoa vàng một đóa kề sát môi em.
Rừng khép lá bao điều lạ.
Họa mi về hót, trên tóc em dài.
Sương rụng trên vai, tôi vào cổ tích.
Hoa rơi phía trước.
Hoa đằm trong tim.
Một đời đi tìm, một đời lạc lối.
Một lời nói dối, suốt đời ăn năn.
Một người ra đi, bao người nhìn với.
Một người đang tới, bao kẻ hững hờ.
… … …
Tôi rùng mình… tỉnh giấc và không thể tin vào mắt mình, Quỳnh đã đến tự bao giờ và đang lặng lẽ ngồi bên. Thấy tôi tỉnh lại, Quỳnh không buồn cũng không vui, vẫn ngồi nguyên một tư thế. Thấy vậy tôi đã vờ nhắm mắt thì Quỳnh nói:
- Thôi đừng giả đò nữa ông tiến sĩ, dậy xông đi cho nó nhẹ người rồi ăn bát cháo hành giải cảm.
- Nhiều khi mình cũng muốn làm anh Chí.
- Thì đang là Chí đó thôi, tự nhiên về làng ăn vạ.
- Ơ kìa, ăn vạ ai đâu.
- Lại không à, nó thấy anh về… nó… giáo viên mà cục súc, thỉnh thoảng lại tẩn em.
- Sắp làm ông làm bà rồi. Thì em đừng nhắc gì đến tôi trước mặt chồng. Thôi quên mà sống Quỳnh ạ. À sao Quỳnh biết tôi ốm mà vào?
- Sáng nào em chả đứng bờ đê nhìn vô Trại, sáng nay không thấy… chạy vào y như rằng ốm. Anh không thương ai thì cũng thương lấy bản thân mình chứ.
- Sao Quỳnh lại nói vậy? Chính vì thương mọi người, sống vì mọi người nên tôi đã quên sống cho mình, bây giờ tôi muốn làm lại từ đầu - Tôi nhìn sâu vào mắt Quỳnh nói câu đó.
Quỳnh trả lời tôi, giọng rầu rầu:
- Có còn gì nữa đâu mà từ đầu, mọi thứ đã muộn mằn hết cả rồi anh ạ. Sắp thành ông thành bà cả rồi - Quỳnh nhắc lại câu nói hồi nãy của tôi - Với lại anh về như thế này cũng không tốt đâu.
- Thì tôi biết đi đâu về đâu ngoài quê hương mình?
- Ừ thì đành thế. Anh về trái ý bác trai đã đành, giờ đây lớp thiếu niên nhi đồng nhìn gương anh chúng nó cũng nản học. Từ trước đến nay chúng nó đã xem anh như thần tượng. Anh về, thần tượng đã bị sụp đổ, chúng bảo học bao nhiêu cũng bằng thừa, học đến như anh mà vẫn về vườn làm trại…
Đúng là những điều Quỳnh nói tôi chưa kịp nghĩ đến, nhưng không lẽ đến quê hương mình tôi cũng không còn được phép quay về? Sao thời này ẩn cư khó thế.
Sau khi tôi xông xong và ăn bát cháo hành giải cảm Quỳnh ra về. Tôi tính cầm tay nhưng Quỳnh rụt lại và đứng lùi xa tôi một tầm với. Không ngăn được cảm xúc, tôi nhào lại ôm lấy Quỳnh và nói trong hơi thở hụt: “Chỉ như ngày xưa thôi”. Quỳnh đứng nguyên trong vòng tay tôi dần siết chặt. Khi người Quỳnh bắt đầu nóng lên cũng là lúc em gỡ vòng tay tôi ra và nói: “Muộn rồi anh để Quỳnh về… sắp thành ông thành bà cả rồi còn gì”. Tôi buông để Quỳnh về. Quỳnh đang đi ngược gió, tóc xõa mặc cho hương hoa dù dẻ quất ngược về phía tôi. Quỳnh đi được một lúc tôi mới chợt giật mình chạy theo cầm tay Quỳnh khẩn khoản nói:
- Tôi vẫn chỉ muốn ở lại đây. Nhờ Quỳnh về nói với mấy đứa thanh niên choai, những đứa đang học cấp ba và chuẩn bị thi đại học ấy, vào đây với tôi nhé.
- Con bé Quỳnh Anh nhà em năm nay vào lớp cuối cấp, nhờ anh… Học không đến nơi đến chốn như mẹ nó khổ cả đời.
Nói rồi Quỳnh tất tả xuống núi, tôi đứng nhìn theo hút bóng Quỳnh và chợt giật mình, trên bờ đê đầy gió, dáng Quỳnh nhỏ, chao về phía trước, đi như trốn chạy. Không, không phải Quỳnh trốn chạy tôi mà Quỳnh đang bị thời gian xô lệch. Cái đẹp ở lại với đàn bà làng tôi ngắn lắm, quanh năm lam lũ, trăm nỗi cực nhọc thồ lên vai, lên lưng, mới hơn ba mươi tuổi dáng đã ngả về chiều.
N.T.H
Theo: Đại biểu nhân dân
____________
(*) Ý trong câu của Nguyễn Công Trứ.