Tôi sinh ra ở một làng quê nghèo miền Trung, một năm có sáu tháng gió Lào thổi ào ào như bão khan, sáu tháng còn lại mưa dầm dề thối đất thối đai. Học xong cấp ba, tôi làm đơn tình nguyện vào bộ đội. Lý do đầu tiên, nhà nghèo cơm độn áo vá quanh năm, muốn đi lính để được ăn cơm, mặc áo Chính phủ. Thế thôi!
Bọ tôi là lính đánh Mỹ. Hết chiến tranh, có thẻ thương binh bậc 2/4, ông trở về quê làm ruộng, lấy vợ, đúc ra một lũ con bốn đứa đặt tên Việt Nam Hòa Bình. Tôi con trai đầu mang tên Việt. Thằng em kề tôi là Nam còn hai đứa em gái tiếp theo đương nhiên là Hòa và Bình rồi. Tôi hỏi bọ:
- Tại răng bọ đặt tên tụi con như khẩu hiệu vậy?
Bọ cười, mái tóc hoa râm rung rung:
- Tau và mạ bây đã qua chiến tranh nên biết hòa bình quý giá lắm. Việt Nam Hòa Bình, ai mà nỏ thích như rứa!
Trước hôm tôi lên đường nhập ngũ, ông bảo mạ đi chợ mua mấy lạng thịt heo về làm mâm cơm tiễn con lên đường. Thịt ít, người đông, mạ tôi kho kiểu vừa nước vừa cái, mằn mặn cay cay cho cả nhà ăn. Nồi cơm hôm đó, hình như phần khoai bằm độn vào không nhiều như mọi bữa. Cơm cõng khoai chứ không phải khoai cõng cơm. Bát mạ xới cho tôi, cơm cũng nhiều hơn. Tôi san cơm sang cho con Bình, mạ nói:
- Đừng rứa! Con chịu cực, chịu khổ bấy lâu ni rồi, nay ăn nhiều nhiều một chút cho bọ mạ vui.
- Mạ tề, con vô bộ đội, cơm ăn ba bữa, lo chi đói. Không khéo, chỉ vài tháng lại mập ú cho coi.
Bọ tiễn tôi lên Huyện tập trung. Khi chia tay, tôi thấy mắt ông hoe hoe đỏ:
- Con đi, nhớ giữ gìn nhé! Bọ có cái này cho con.
Ông trao cho tôi chiếc mũ tai bèo, kỷ vật chiến trường mà bọ tôi rất quý bấy lâu nay. Chiếc mũ có màu xanh lá cây đã bạc ông treo phía trên giường nằm cùng chiếc bi đông móp méo. Tôi nhớ, phía trong vành mũ có dòng chữ viết bằng mực màu xanh đen: Làng Mai, những ngày ác liệt…
* * *
Trong số bạn bè nhập ngũ lần ấy, tôi là đứa trở thành sĩ quan sớm nhất. Vào lính, hai năm được kết nạp Đảng, năm thứ ba đi học Trường Quân chính của Binh đoàn, sau mười hai tháng đã mang quân hàm thiếu úy. Bạn bè, khi gặp tôi vẫn hay đùa “Thằng thiếu úy ranh con”.
“Thằng thiếu úy ranh con” hôm nay nhận nhiệm vụ về Huyện Cam liên hệ địa điểm cho đơn vị dã ngoại. Huyện giới thiệu về làng Mai, thuộc vùng chiến khu Con Cù nổi tiếng trong hai thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của tỉnh Q. “Xã anh hùng đó nghe, dân thương bộ đội lắm em à!”, Chủ tịch huyện, vốn là một giáo viên dạy văn sử cấp hai hồ hởi nói với tôi như thế.
Cái tên làng Mai gợi nhắc ngay tới dòng chữ viết trên chiếc mũ tai bèo của bọ tôi. Làng Mai, những ngày ác liệt. Hôm nhập ngũ, tôi chưa kịp hỏi bọ mình làng Mai này thuộc xã, huyện, tỉnh nào. Làng Mai, ừ biêt đâu đấy nhỉ, mình sẽ được trở lại nơi bọ từng có mặt trong những năm tháng chiến tranh vô cùng khốc liệt. Nơi mà nhiều đồng chí của ông đã ngã xuống khi còn rất trẻ. Một phần máu, mồ hôi của ông cũng đã thấm xuống mảnh đất đó. Nhưng mà, trên đất nước này chắc cũng có không ít làng thôn mang tên là Mai. Cái tên dễ thương, hiền lành như thế mà! Làng Mai của bọ chắc gì đã ở đây, nơi trung đội của con sắp đến đó dã ngoại, bọ hỉ?
* * *
Vượt qua đèo Vắt quanh co, đơn vị chúng tôi tập kết tại làng Mai đúng thời gian quy định. Chiều cuối hạ, bầu trời xanh ngắt không một gợn mây. Làng thật yên bình với những vườn tiêu, vườn chuối xanh tươi, với những lối mòn được gọi là kiệt chạy giữa hai bờ chè tàu được xén gọn. Tiếng mõ trâu lóc cóc, lóc cóc mờ tỏ, gần xa trong gió chiều hôi hổi. Tôi ngửi được mùi mít chín thơm lừng bay ra từ vườn nhà ai đó.
Bộ đội được chia ra từng tổ nhỏ ở với dân. Chỉ huy trung đội được bố trí ở nhà mạ Xuân. Mạ đang đứng đợi chúng tôi ở trước cổng:
- Trời nắng dữ các con hỉ! Đi đường chắc là mệt lắm. Các con vô nhà nghỉ ngơi, uống nước. Nước chè xanh mạ vừa mới nấu, đứa mô uống quen thì uống đậm, đứa mô chưa quen thì pha nhạt mà uống. Nước trong mạ để một bên đó. Chuối nhà, mạ cũng để sẵn đó rồi, các con ăn cho vui hỉ.
- Dạ, mạ cứ để các con tự nhiên. Sống với nhân dân tỉnh miềng mấy năm rồi nên bọn con cũng quen với nước chè xanh rồi mạ ạ. Tôi cầm tay mạ nói.
- Ừ, bộ đội với dân mà, có ai xa lạ mô mà khách sáo. Dân làng mạ hết đón bộ đội đánh Tây, đến đón bộ đội đánh Mỹ. Có người đánh giặc xong, ở lại làng Mai lấy vợ đó các con nờ.
Trung đội phó Hiến chỉ vào tôi cười nói:
- Mạ ơi, anh Việt đây chưa có gì cả. Mạ xem có cô nào ở làng Mai làm mối cho anh ấy với ạ!
Mạ Xuân nhìn vào tôi, ánh mắt chợt thoáng lên điều gì đấy:
- Con, răng mạ thấy hơi quen quen? Rứa đã đến đây khi mô chưa?
Tôi ngạc nhiên:
- Lần trước khi đi tiền trạm con mới đến một lần nhưng chỉ làm việc với bác Phương trưởng thôn nửa giờ thôi! Đây là lần đầu tiên con gặp mạ.
Mạ cười xuề xòa:
- Ừ, chắc mạ nhầm. Tuổi ni, nhầm lẫn là chuyện thường con nờ. Mà thôi, mấy con uống nước, ăn chuối đi, mạ vô bếp nấu cơm. Chiều ni thứ bảy, bố con Huyền với hắn về.
- Bố và em làm việc ở đâu vậy mạ? Hiến hỏi.
- Ông nớ làm việc ở Trường Cán bộ nông nghiệp huyện, còn con Huyền đang học Sư phạm dưới thị xã.
Nghe mạ nói thế, Hiến nhay nháy mắt với tôi. Cái thằng quỷ sứ, chưa chi đã có “âm mưu tươi sáng” rồi. Lính tráng phải biết thân phận lính tráng, đừng tưởng bở nhé, ông bạn!
* * *
Giống, rất giống anh nớ! Cái dáng gầy gầy, cao cao. Cái trán rộng, hơi dô và đôi lông mày rậm.
Giọng nói cũng rứa. Cũng nằng nặng như giọng quê miềng. Nghe quen lắm!
Cái lần cùng núp dưới hầm bí mật trốn giặc càn, miềng với anh nớ cứ đụng đậy vô nhau. Ngại quá, nhưng không tránh được, cái hầm nhỏ như lỗ mũi, biết tránh chỗ mô. Thôi, thì đụng. Đụng một chút mà không mần chi cũng được; anh nớ là bộ đội giải phóng, miềng là du kích, cùng đảng viên, cố giữ cho nhau. Nói rứa thôi, thời nớ, có ưng nhau cũng phải nhịn, chứ để xảy ra chuyện chi à, chỉ có cách chui xuống đất để sống. Nghĩ thì nghĩ rứa mà nó khó khăn làm răng, cơ cực làm răng, hở trời. Hơi thở anh nớ cứ phả qua miềng, nóng hổi. Hình như là anh nớ có nhìn miềng, nhìn hơi lâu lâu thì phải. Miềng e ngại cúi mặt xuống. Hình như anh nớ có cầm tay miềng, miềng như chạm phải than, rút ngay ra liền. Anh cầm tiếp, miềng như đụng phải lửa rút tay ra ngay. Anh quay mặt đi chỗ khác, không thèm nhìn miềng nữa. “Tức người ta rồi à? Đã nói chi với người ta mô mà đòi cầm tay”. “Nói làm chi nữa, bên nhau, vô sống ra chết như rứa mà còn chưa hiểu người ta à? Xuân ơi, anh thương em, thương từ lần gặp đầu tiên nờ!” Miềng nghe câu đó, đúng không? Nghe rồi, miềng run run nói lại câu ni: “Ngoài nớ thiếu chi gái đẹp mà anh thương em, con gái làng Mai vừa xấu vừa vụng”. “Anh thương em thực lòng mà, mai anh báo cáo tổ chức, thưa chuyện với cha, mạ em về chuyện của hai đứa miềng em hỉ”. “Chưa được. Chiến tranh, biết sống chết ra răng mà đòi cưới hỏi. Thương nhau là được rồi anh nờ”. Tại răng, lúc nớ miềng lại cương quyết đến rứa không biết…
* * *
Cuối chiều, bác Lộc chồng mạ Xuân về. Tuổi chắc cũng cỡ bọ tôi nhưng trông ông khỏe mạnh, da dẻ hồng hào hơn nhiều. Tôi chạy ra sân chào, và luôn tay dắt chiếc xe đạp Thống Nhất cũ kỹ vào nhà cất cho ông. Ông vui vẻ:
- Vui hỉ, lâu lắm rồi, hôm ni mới có bộ đội về làng.
- Chúng con đi dã ngoại kết hợp giúp dân làm đường, vét mương bố ạ. Tôi nhanh nhảu trả lời.
- Quân với dân thời mô cũng như cá với nước rứa cả. Trong chiến tranh, nếu không có dân làm răng bộ đội miềng bám trụ được. Dân làng Mai của bác đây thời còn giặc cũng hết lòng che chở bộ đội miềng đó các con nờ. Tui nói rứa, có đúng không mạ mi hè?
Mạ Xuân đang lúi húi xào nấu gì trong bếp nói vọng ra:
- Ông nói cái chi mà nỏ đúng. Ông nớ cũng là bộ đội thời chống Mỹ đó các con nờ. Mà nì, răng trời sắp tối rồi mà con Huyền chưa về hè?
- Chắc nó đi cùng mấy đứa bạn nên nhởn nhơ hái sim, hái móc trên đèo. Nó lớn rồi, lo chi rứa.
Chừng nửa giờ sau thì Huyền về. Tôi và Hiến đều sững sờ trước vẻ đẹp thuần mộc, dịu dàng của cô gái có dáng người thanh mảnh, khuôn mặt trái xoan, đôi mắt lay láy, tóc tết đuôi sam đang dắt xe đạp vào sân. Chiếc xe đạp Hồng Hà còn mới, chắc là quà bố mẹ tặng cho cô con gái rượu đang là sinh viên năm cuối Trường sư phạm tỉnh đây. Tôi thầm nghĩ trong bụng. Huyền nhỏ nhẹ chào cha, chào chúng tôi rồi xuống bếp với mạ Xuân.
Phải nói, bác Lộc là người cởi mở vui tính. Tối ấy, sau khi cơm nước xong, ông trò chuyện thoải mái với chúng tôi. Ông kể cho tôi và Hiến nghe khá tỉ mỉ về mảnh đất này. Từ vùng đồng bằng của huyện Cam lên thung lũng Con Cù này phải vượt qua đèo Vắt dài chừng mười cây số. Gọi là đèo Vắt vì trước đây khúc đường đèo chênh vênh, quanh co, len lỏi giữa những triền núi cây cối rậm rạp, mùa mưa sên vắt bò ra lúc nha lúc nhúc. Qua đây, người ta phải vừa đi vừa dùng một que củi để gạt vắt bám hàng chục con vào chân tay mình. Ngán nhất là vắt từ trên cây bắn vào đầu, chúng lẫn trong tóc, hút máu người cứ êm như ru. Khi về nhà, gội đầu thấy máu nhuộm đỏ lòm trong chậu, cùng mấy con vắt đen xám béo múp nổi lềnh phềnh trên mặt nước. Vắt hút máu nhưng không gây chết người chứ qua đèo Vắt mà gặp phải ông ba mươi thì ôi thôi rồi. Cọp! Nó có thể xuất hiện bất cứ lúc nào trên đèo. Khối vằn vện ấy đi đến đâu phả mùi khen khét ra đến đấy. Lúc ấy, lũ muông thú, chim chóc bé nhỏ yếu ớt cứ nhốn nháo, chộn rộn cả lên. Người ta ai có việc qua đèo Vắt đều phải cầm hai thanh cật nứa, vừa bước thấp, bước cao vừa cọ vào nhau để tạo ra âm thanh kèn kẹt cho ông ba mươi hãi. Thế mà, vẫn không tránh khỏi tai họa. Có hai vợ chồng mới cưới về xuôi thăm họ hàng dắt nhau qua đèo. Một con cọp dữ núp bên đường lao vút ra, vồ anh chồng. Anh chồng ngã sấp mặt xuống đất không kêu được tiếng nào. Cô vợ sợ quá chết ngất luôn. Con cọp đến hít hít mấy cái nhưng không làm gì cả, nó dùng miệng ngoạm vào thân anh chồng tha chạy vô rừng. Mấy phút sau có tốp thợ rừng đi qua mang cô gái về làng cấp cứu. Cô gái ấy sau đó điên dại, chỉ nhìn thấy con mèo đi qua cũng khiếp sợ rú lên.
Thung lũng này hiểm trở cách biệt với bên ngoài nên nó đã được một ông vua yêu nước thời Nguyễn lập kinh đô dự phòng để chống giặc ngoại xâm. Di tích kinh đô kháng chiến ấy đến bây giờ không còn gì nữa, lũy cao hào sâu, nhà lính, nhà kho, lớp trong lớp ngoài đều thành phế tích cả, chỉ còn sót lại vài đoạn thành đắp bằng đất đỏ, mấy bụi tre già thân bạc thếch. Đây cũng là chiến khu Cách mạng thời kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ. Dân thung lũng Con Cù trước đây rất nghèo khổ, nghèo lắm. Đàn ông, con trai thì quanh năm quần cụt, bốn mùa áo nâu nhưng rất yêu nước. Thời Cần Vương đã góp công, góp của giúp vị Vua trẻ tuổi ái quốc xây kinh đô kháng chiến, thời chiến tranh đánh Pháp - Mỹ là căn cứ địa vững chắc của tỉnh Q.
Đây là vùng đất đỏ, ruộng lúa ít thôi, chủ yếu vườn tược. Nhà nào cũng có vườn trồng tiêu, trồng chè, trồng chuối, mít. Lại có những đồi sắn bạt ngàn. Mấy năm gần đây, dân được Nhà nước cho vay vốn trồng cao su, trồng bạch đàn, keo vừa để phủ xanh đồi trọc vừa làm nguyên liệu cho ngành sản xuất giấy. Đời sống của dân khấm khá hơn chút đỉnh.
* * *
Huyền rất ít nói. Và, có vẻ như cũng ngại tiếp xúc với chúng tôi. Đến Hiến, dạng thanh niên mồm mép tép nhảy cũng trở nên bị đơ trước người đẹp. Tôi vốn rụt rè, vụng về khi tiếp xúc với các cô gái trẻ thì lại càng lúng túng hơn. Nói tóm lại, tôi chỉ tập trung công tác dân vận khéo vào phụ huynh của Huyền thôi còn với người đẹp thì cơm ai nấy ăn, việc ai nấy làm. Vả lại, mới gặp nhau, biết tâm tính người ta ra sao mà mình dính vào.
Lưng lửng sáng chủ nhật, một thanh niên trạc tuổi tôi, khá đẹp trai, quần bò áo phông phóng chiếc xe máy 67 vào sân nhà Huyền. Lúc này, ông Lộc bà Xuân đã đi ăn giỗ bên xóm khác. Người đẹp đang phơi áo quần trước sân. Tôi và Hiến ngồi lập kế hoạch làm đường giúp dân vào tuần sau.
- Huyền à! Cha, mạ đi đâu em? Người thanh niên buông một câu hỏi thay cho lời chào.
Nhìn vào thấy chúng tôi, nhưng hắn không thèm chào một tiếng. Tôi thấy mặt Hiến ửng đỏ lên, chàng trung đội phó nói nhỏ vào tai tôi: “Để em cho thằng này một bài học về sự lễ độ”. Tôi lừ mắt: “Thôi đi, kệ hắn! Còn nhớ 12 điều kỷ luật dân vận không đấy?” Chúng tôi lại tiếp tục công việc nhưng hình như tâm trí tôi không còn tập trung được như lúc nãy nữa. Mọi động tĩnh giữa Huyền với hắn không thoát khỏi sự để ý của tôi.
Huyền không mời hắn vào nhà. Tiếng người đẹp:
- Em đã nói rồi, khi nào em mời, anh mới được phép lên nhà mà?
Hắn cười nịnh:
- À, vì anh nhớ em quá! Vả lại, sáng nay anh muốn chở em đi đến suối Tiên Nữ chơi.
- Em là chi của anh mà anh phải nhớ. Em bận việc, không đi được mô. Anh thích thì cứ đi một mình hỉ.
Hắn van nài:
- Huyền, có việc chi mà em quan trọng rứa hè. Đi chơi một chút rồi về thôi mà. Anh ở dưới thị xã lên đây, em chiếu cố cho anh chút đi.
Người đẹp:
- Anh lên được thì anh về được. Hay, anh muốn đi đâu thì tùy anh, anh Sinh ạ. Em bận việc rồi, không đi đâu cả.
Chẳng biết khoái trá cái nỗi gì mà Hiến cứ lấy chân đá đá vào chân tôi. “Chà, không ngờ người đẹp lại rắn rỏi, cương quyết thế”, Hiến thì thào. Tôi, dù cũng có cái gì đó khoai khoái trong bụng nhưng cố làm ra vẻ đàn anh, nói nhỏ với chàng Bê phó của mình: “Chuyện người ta, đừng chú ý, đừng can thiệp vào”. Hiến cười cười, tếu táo nói thầm: “Báo cáo Bê trưởng, rõ!”
Biết cò cưa cũng không nhằm nhò gì, Sinh quay xe, không chào ai một câu, lùi lũi ra về. Đợi anh chàng thất tình dắt xe ra khỏi ngõ, Hiến nói với ra sân:
- Em kiên quyết như Bê trưởng của anh vậy, Huyền ạ!
Người đẹp tủm tỉm cười.
* * *
Răng mà thằng Việt giống anh nớ rứa hè? Không khéo là con trai của anh nớ cũng nên. Thằng Việt nói với ông Lộc là hắn quê tỉnh ngoài. “Quê anh có núi, có biển, có đường 1 A chạy qua”, có lần anh nớ nói với miềng rứa. Phải duyên, phải số chắc miềng với anh đã thành… Thôi, đừng nghĩ bà láp nữa, tội ông Lộc. Mà, răng không muốn nghĩ nữa nhưng những kỉ niệm xưa vẫn hiện lên. Mấy năm chiến tranh, có lúc đói, hai đứa chia nhau một củ sắn nướng nhai nhỏm nhẻm mà vẫn thấy ngon. Có lần, đồng đội chết nhiều quá, miềng cứ gục mặt vào vai anh khóc nức nở. Anh lấy chiếc mũ tai bèo lau nước mắt cho miềng, an ủi: “Chiến tranh mà em. Sống chết bất thình lình làm răng biết được. Hôm nay, đang ngồi với em, biết mô đêm mai anh dính mìn, trúng đạn của địch là thành liệt sĩ ngay”. Miềng lấy tay bịt miệng anh ngay: “Trời ơi, răng anh nói tầm bậy rứa” rồi ngồi khóc rấm rứt, rấm rứt. Anh lại dỗ: “Người ta nói đùa thôi mà. Sống chết đều có số cả. Giày dép cũng còn có số huống chi con người”. Miềng đã bật cười trước câu nói đùa của anh.
Ít lâu sau, anh chuyển đơn vị, đi vào chiến trường sâu hơn, từ đó không hề nhận được tin tức gì cả. Càng chờ đợi, càng vô vọng. Như duyên trời định, khi ra Bắc an dưỡng miềng gặp ông Lộc và nên vợ nên chồng…
* * *
Đơn vị tôi hết làm đường lại giúp dân vét mương chống hạn. Dân làng Mai rất quý chúng tôi. Bọn trẻ con trong làng thuộc hết tên các anh bộ đội. Chiều nào, sau giờ làm việc bộ đội và thanh niên trong làng cũng chơi bóng chuyền với nhau. Tối, trung đội đọc báo, sinh hoạt, lũ trẻ xen vào ngồi giữa. Các cậu nhóc còn được binh nhất Khai, hạ sỹ Mật cắt tóc cho. Binh nhì Lương khéo tay, tranh thủ ngày nghỉ chủ nhật làm diều cho bọn trẻ nên chúng nó càng quấn quýt.
Trong những chuyến lên nhà thăm mạ, Huyền đã gần gũi thân mật với tôi và Hiến hơn. Chúng tôi trò chuyện với nhau thoải mái, bởi Huyền không còn rụt rè e ngại như lần đầu gặp gỡ. Nhưng, cũng chỉ vậy thôi. Không hề có tín hiệu gì phát ra từ người đẹp cả. Thú thực, vì Huyền đẹp, nên tôi không dám nghĩ gì khác ngoài tình cảm anh em bình thường dù rất thích. Chỉ có điều này khó hiểu, tôi loáng thoáng nhận ra trong ánh nhìn của mạ Huyền có cái gì đó khang khác. Đôi khi tôi cũng muốn hỏi mạ nhưng lại chần chừ không dám.
Đến đây, chắc có bạn sẽ hỏi tôi: “Dông dài quá thể. Thế thì trong chuyến dã ngoại ngọt ngào này anh có tán được mỹ nữ làng Mai không? Nếu được, chắc là lãng mạn, mùi mẫn lắm nhỉ?”
Các bạn ạ, chuyện tình bộ đội không vội được đâu, cứ phải từ từ rồi khoai sẽ nhừ…
Tôi đã xa Huyền đúng ba năm, bằng thời gian hoàn thiện khóa học sĩ quan chính quy cấp đại đội. Trong ba năm ấy, chúng tôi không hề gửi cho nhau một dòng thư nào. Vì, thực ra tình cảm của chúng tôi chưa có gì cả. Tôi nghĩ, Huyền xinh đẹp dường vậy, chắc có muôn vàn chàng trai tài giỏi, tuấn tú tìm đến. Vả lại, mạ tôi cũng rất muốn tôi lấy vợ ở quê. Bà đã nhằm cho tôi cô Nguyệt cô Trăng gì đó, đang là giáo viên trung học cơ sở dạy ở quê. Về nghỉ hè, tôi nghe mạ nói thế, chỉ cười trừ: “Con còn trẻ mạ ơi! Khi mô con dắt về cho mạ một nàng dâu hết sẩy nhé. Đảm bảo mạ ưng ngay thôi…”
Học xong khóa hoàn thiện sĩ quan, tôi được phân công về đơn vị cũ. “Thằng thiếu úy ranh con” năm nào nay đã mang quân hàm trung úy với chức danh đại đội phó. Chủ nhật, vào đúng ngày đẹp trời, tôi đạp xe đi chợ Đông Hiếu mua ít quà gửi về cho gia đình. Tôi mua xong hàng, lấy xe đi ra thì bất chợt thấy phía bên kia đường có cô gái dắt một cháu gái chừng ba tuổi đi vào chợ. Cô gái, quen quá là quen. Khuôn mặt trái xoan. Tóc tết đuôi sam. Đúng rồi, Huyền, con mạ Xuân ở làng Mai. Cô gái đưa mắt về phía tôi, chợt hé nụ cười. Đôi lúm đồng tiền, trăm phần trăm là Huyền rồi. Tôi dừng xe, gọi với sang:
- Huyền, có phải em là Huyền ở làng Mai không?
Cô gái trả lời:
- Dạ, em là Huyền. Anh là Việt, đã từng đến dã ngoại ở làng em, đúng không?
Tôi dắt xe qua phía bên em, vừa đi vừa nói:
- Đúng rồi em nờ. Anh Việt đây. Thời kỳ dã ngoại anh và anh Hiến ở nhà em. Cha, mạ khỏe không em?
Huyền:
- Dạ, mạ em khỏe, cha em thì nghỉ hưu rồi. Cha, mạ em nhắc các anh hoài.
Đoảng thế không biết, đến lúc này tôi mới chú ý đến cháu bé đi với Huyền.
- Cháu này, con gái của Huyền à?
Đôi lúm đồng tiền ửng hồng:
- Dạ…
Cháu bé giật giật tay Huyền:
- Dì Huyền ơi, đi vô chợ thôi không muộn đó.
Tôi cười:
- À, thế nó không phải là…
Huyền:
- Dạ, con của bạn em anh ạ!
Tôi hỏi:
- Thế bây giờ em dạy ở đâu? Anh ấy làm gì…
Huyền:
- Em hiện tại dạy ở Phường 1 thị xã. Còn anh ấy… em… đang đi tìm…
Có một đoàn quân nhạc đang hòa tấu bản Tiến bước dưới quân kỳ trong tôi. Trời ơi, như vậy là nàng chưa có gì. Thời cơ, trăm năm có một đây rồi. Phải dũng cảm, dũng cảm lên thôi, Việt ơi!
Thấy tôi lặng đi, Huyền nói:
- Thế anh Việt có mấy cháu rồi?
Tôi vội nói luôn:
- Lính tráng vất vả, có ai thèm yêu đâu em.
Huyền:
- Anh cứ nói rứa, oan cho con gái bọn em…
Tôi chợt trở nên lúng túng:
- Bữa mô anh lên thăm làng Mai, em có đi cùng không?
Huyền:
- Anh lên nhé! Cha mạ em vui lắm đó!
* * *
Chuyện tình yêu, chuyện vợ chồng của chúng tôi còn muôn vàn điều để kể. Nhưng, tôi muốn để dành cho một cuốn tiểu thuyết, một cuốn tiểu thuyết duy nhất của đời mình sẽ viết khi về già. Con, cháu và có thể là chắt nữa của vợ chồng tôi sẽ đọc cuốn tiểu thuyết này để biết ba mẹ, ông bà, cố nó yêu nhau ra sao.
Tiểu thuyết ấy chắc chắn được mang tên Mỹ nữ làng Mai.
N.H.Q




