Vừa bước chân về đến đầu làng, Minh đã nghe tin sét đánh, vợ ở nhà sinh con đã được ba tuổi. Minh nghĩ lần về phép gần nhất của anh cách nay đã sáu năm, nhất định không phải giọt máu của mình. Vậy con ai? Ở chiến trường tịt mù thông tin, chuyện như thế mà nay anh mới hay. Chưa dừng lại đó. Đau đớn hơn là dân làng cho hay đứa bé ấy dị dạng với cái đầu trọc lóc, to tướng, đôi chân bé tí, không đứng được, suốt ngày lê lết trên nền nhà.
Minh rất đau khổ, phần vì vợ ngoại tình trong lúc mình đang chiến đấu ngoài chiến trường, phần vì đứa con lại không ra giống người, đó là một gánh nặng. Có thể chấp nhận được không? Không. Ngàn lần không. Minh nắm chặt hai tay đấm vào ngực. Tính anh vốn nóng nảy, quyết đoán, dễ nổi khùng với những gì bất bình.
Từ ngày về nhà, Minh ôm chiếu nằm co một mình trên bộ ván kê ở phòng ngoài mặc cho vợ anh khóc lóc, quỳ lết dưới chân anh mà van vỉ tha thiết. Anh vẫn lạnh lùng, có lúc muốn tống cho một đạp ngã ngửa ra đất.
- Con thằng nào? Tôi hỏi cô, con thằng chó nào ở cái làng này – Rồi anh cười mỉa mai – Cái làng này trông mặt mũi thằng nào cũng sạch sẽ sao lại có cái giống quỷ sứ trên trời rơi xuống là lý làm sao?
- …
- Sao cô im như thóc thế? Phải nói đi chứ. Hay gió thổi khiến cô có mang?
- Em lạy anh trăm mớ lạy. Thương em thì tha cho em, bằng không giết em đi!
- Giết à? Cô định dọa tôi có phải không? Đã đĩ còn lắm lời! Tôi hỏi cho ra lẽ để tôi đối mặt hỏi tội thằng chó nào đã phỉnh phờ cô, thằng chó nào đã phá hoại hạnh phúc của tôi, một người lính sống chết nơi bom rơi đạn nổ. Sao số tôi thế này! – Anh xé áo, trỏ tay vào vết sẹo giữa ngực – Cô có thấy vết sẹo này không? Mảnh bom giặc Mỹ chém vào đó.
Minh thở dài tự nhủ: “Tưởng đâu từ nay được sống yên bình. Ai ngờ giờ lại còn phải chịu một nhát chém ghê tởm hơn, nhát chém của kẻ giấu mặt. Mà đây mới là vết thương suốt đời rỉ máu, suốt đời hành hạ, bóp nghẹt trái tim tôi”.
Minh vốn không biết uống rượu mà nay anh đâm ra hư đốn. Anh kiếm đâu chai rượu, nốc một nghỉn, nôn thốc nôn tháo ra sân, rồi nằm vật ra đất giẫy giụa khiến mẹ anh sợ hãi chạy sang cầu cứu hàng xóm. Người ta xát vôi sống vào gan bàn chân, đắp khăn ướt lên mặt Minh rồi để anh lên giường. Tỉnh dậy, anh lại lăn xuống nền nhà, đập tay đập chân tứ tung, mồm lảm nhảm chửi nhà vô phúc múc phải con vợ rửng mỡ trong khi chồng vắng nhà…
Cúc ôm con ra ngõ, đi vật vờ trong bóng tối nhập nhoạng, gió thổi lồng lộng tung bụi mù trên con đường ngoằn ngoèo, tre pheo nghiêng ngả. Thằng bé oặt oẹo trên tay mẹ. Cúc nghĩ không thể giấu diếm mãi sự thật với Minh và mọi người. Đã ba năm nay, mẹ chồng, bà con lối xóm và cả cha mẹ cô vẫn không biết tung tích vấn đề. Họ nghi ngờ người này người kia là bố thằng bé nhưng đều không có cơ sở. Sự thật việc này ngoài Cúc không ai biết.
Cách nay ba năm, nghe tin bố ốm nặng, Cúc đã xin phép mẹ chồng về làng Đò nuôi bố. Ông cụ nằm liệt giường đã tuần hơn, người gầy gò, không nuốt nổi thìa cháo. Mới đầu cô cũng định chỉ về nhà xem ra sao thôi, không ngờ tình hình buộc chân Cúc lại khá lâu, cũng may độ ấy rỗi mùa màng nên cô yên tâm ở nhà nuôi bố. Được độ dăm hôm thì có một đơn vị bộ đội từ chiến trường ra đóng quân tại làng Đò. Đó là một đơn vị tập hợp những bệnh binh, thương binh nhẹ, những chiến sĩ được chuyển ra Bắc. Người ốm yếu, kẻ xanh xao, gầy guộc, tóc bù xù được chia ở trong các nhà dân. Nhà Cúc có hai người ở, trong đó có một anh nghe nói là y tá. Thật may, thế là gặp dịp. Thời chiến tranh đi lại khó khăn, nhà xa bệnh viện huyện, không có trạm xá xã, không có thuốc men, anh y tá đã xắn tay giúp đỡ. Ngày ngày anh chăm sóc ông cụ chủ nhà, anh chẩn đoán bệnh, đo huyết áp, chích thuốc… Không có anh thì số phận bố Cúc rất nguy nan. Cúc luôn bên bố phụ giúp anh mỗi lần anh sai nhủ. Từ đó giữa hai người âm thầm nảy sinh tình cảm.
Một đêm mùa thu, ngoài trời mưa rả rích, đã khuya bên giường người bệnh, Cúc đang ngồi với bố thì anh y tá đến. Hai người thì thầm chuyện trò một lúc rồi Cúc xách đèn xuống bếp sắc thuốc cho ông cụ. Anh y tá đi theo. Anh nắm hai bàn tay Cúc trong lúc cả người Cúc run lên nóng bừng. Họ dìu nhau đến bên đống rơm, rồi chìm vào trong mùi hăng hắc của rơm rạ, trong ánh sáng hiu hắt của ngọn lửa bếp.
Cúc ở lại chăm bố mười hôm nữa thì ông cụ có da có thịt, đi lại được. Đó cũng là lúc đơn vị bộ đội chia tay bà con lên đường tiếp tục ra miền ngoài. Cúc không biết quê anh y tá ở đâu, đã vợ con gì chưa, cô chỉ linh cảm thấy hình như trong cô có một giọt máu.
Cúc đã im lìm giấu kín mọi chuyện ba năm nay, nhưng giờ không thể che đậy được nữa. Một đêm, lúc Minh đang thao thức bên nhà ngoài, Cúc đã quỳ bên chân anh, nức nở kể không sót chi tiết nào.
- Ra thế! – Minh ngồi dậy trên giường, im lặng một lúc rồi cất giọng trầm trầm – Giờ cô tính sao? Cô không rõ tôi định nói gì phải không? Là tôi hỏi cô, cô định liệu thế nào về thằng nhỏ. Tôi không muốn nó có mặt trong ngôi nhà này. Nó không là con tôi. Hãy xem ai nuôi được, thì cho họ đi.
Nghe đến đó, Cúc thấy bàng hoàng cả người. Quả tình Cúc không lường trước sự thể ra nông nỗi này. Cô khóc nghẹn, đầu đập xuống mạn giường, không biết trả lời sao nữa. Nhét tà áo vào miệng để ngăn tiếng nức nở bật ra rồi Cúc đứng dậy đi vào buồng. Thằng bé đang ngủ, cái đầu tròn như quả bóng láng lẫy nghiêng sang một bên. Từ cổ họng phát ra tiếng khò khè. Cúc đã quen với cảnh ấy nhưng sao lúc này cô thấy thương xót con đến thế. Cô nghiêng mình nằm xuống bên con, ôm chặt lấy nó, như sợ ai đến cướp mất.
Ngoài trời trăng sáng vằng vặc. Ánh trăng soi vào tận kẽ ngách sát giường nằm hai mẹ con. Cúc nhìn cái thứ ánh sáng lặng lẽ ấy, cảm giác lạnh lùng, rờn rợn chạy khắp cơ thể, chợt nghĩ như có một ai đó đang rọi một luồng sáng vào tâm hồn, cật vấn mình, muốn moi móc trong lòng mình những uẩn khúc. Cho thằng cu đi ư? Ai chịu nhận nuôi một đứa trẻ tật nguyền, nhất là vào thời buổi khó khăn này? Không! Anh có thể đuổi tôi ra khỏi nhà, nhưng tôi không thể từ bỏ giọt máu của tôi. Anh đâu biết những gian truân đến với tôi suốt ba năm nay. Anh đâu hay đêm tôi sinh nó, bom Mỹ nổ ngoài bờ sông, còn tôi thì rặn đẻ đến ngộp thở, đến đứt hơi, quằn quại tưởng trời đất sắp sập. Anh không thể biết lúc nó ra đời chỉ là một mớ thịt bùng nhùng, đỏ hỏn khiến có người bạo mồm bảo đó là ma quỷ, hãy tống đi nhưng tôi kiên quyết giữ lại. Tôi đã ôm lấy con tôi trong cái nhìn ái ngại của mọi người. Giờ tôi quen rồi, tôi không thể thiếu nó, không bao giờ tôi rời nó nửa bước. Với mọi người, với anh, nó có thể là nỗi sợ hãi, là gánh nặng nhưng tôi thì không bởi máu tôi chảy trong trái tim của nó.
Thấy con trai hờ hững với vợ, bà mẹ Minh rất rầu lòng. Những mong con về để kiếm đứa cháu. Chồng bà là liệt sĩ chống Pháp. Bà có ba mặt con, hai gái một trai, Minh là nguồn hi vọng duy nhất của bà. Năm nay bà đã bảy mươi, ở cái tuổi ấy không mong gì hơn con cháu đầy đàn, chí ít cũng phải có đứa cháu đích tôn chống gậy. Bà nghĩ Cúc nó có tội đó, nhưng phải bỏ qua đi, giận hờn phỏng được ích chi, chỉ thiệt thân. Đã mấy lần bà tâm sự với Minh, rằng chín bỏ làm mười, sông có khúc, người có lúc, Cúc nó lỡ dại, nhưng nó đảm đang việc nhà, ăn ở khôn ngoan, rồi nó sẽ đẻ những đứa con kháu khỉnh cho coi, đừng ruồng rẫy nó tội nghiệp.
- Con không giáp mặt được với đứa phản bội. Con đi chiến đấu sống chết ngoài chiến trường còn nó thì ở nhà rửng mỡ, nằm với trai. Biết nó chung chạ với những đứa nào, biết nó đã thề bồi với người ta ra sao, những lúc ấy nó đâu có nghĩ tới chồng nữa. Mẹ hiểu không.
- Mẹ hiểu – Bà cụ nhả miếng trầu ra cầm trong lòng bàn tay khô khan – Mẹ hiểu con lắm, thương con lắm. Nhưng con nghĩ coi bây giờ ai nuôi thằng nhỏ. Nó đã sống trong ngôi nhà này quen thuộc rồi. Mới đầu mẹ cũng bực lắm, nhưng rồi quen thôi. Với lại cứ nhìn cung cách con Cúc, thì nó không rời thằng nhỏ được đâu. Nó luôn mồm một cục cưng, hai cục ngọc của mẹ, nó hôn hít cù nách khiến thằng nhỏ bật cười với cái miệng méo xẹo rồi hai mẹ con ôm nhau lăn ra giường hát hò…
Minh vẫn sắt thép một bề, đêm đêm vẫn nằm ở giường ngoài, mặc dù cả anh và Cúc luôn canh thao thức. Đến bữa cơm, anh ngồi quay mặt đi, và vội vài bát rồi đứng dậy, vớ cái tăm ngậm hoài trong miệng. Tình thế căng như dây đàn, không có cách giải quyết. Chính Minh cũng tự hỏi đưa thằng bé đi đâu. Nhưng anh không muốn nhìn thấy nó, anh không làm quen được với hoàn cảnh. Anh muốn đứa trẻ nào sinh ra trong nhà này cũng đều bình thường.
Hôm bà Hậu, mẹ đẻ Cúc từ làng Đò sang thăm. Bà đã biết sự việc, và chuyến đi của bà cũng có mục đích ngoài việc thăm con thăm cháu. Ở nhà ông bà Hậu đã bàn bạc kĩ, lần này bà sẽ đưa thằng nhỏ về bên ngoại chăm nuôi. Nhà còn hai ông bà già, gắng nuôi cháu, dù sao nó cũng là máu mủ của mình. Vợ chồng bà còn sống ngày nào thì còn nuôi cháu ngày đó. Bà ôm thằng nhỏ vào lòng hôn hít khắp nơi, bà sờ hai cẳng chân lạnh lẽo, bé tí của nó trong lúc con gái bà thút thít khóc.
- Cháu bà về với bà nghe, về cùng ông ngoại, bà ngoại. Ông bà đủ cơm cho cháu ăn chứ không để cháu đói đâu – Rồi quay sang Cúc, bà nói – Con chuẩn bị áo quần khăn gói đi để mẹ đưa cháu về bên ngoại.
- Con đi với mẹ.
Ba bà cháu ra đi, Cúc ôm con còn bà Hậu xách lỉnh kỉnh áo quần. Bà cụ mẹ Minh chảy nước mũi nước mắt, lật đật chạy theo vấp ngã dúi dụi gọi với theo:
- Cháu ơi là cháu ơi! Cháu của bà ơi! Cháu ăn no mau lớn nhá. Rồi bà … sang thăm. Bà không để cháu nhớ bà đâu.
Minh nói giọng gắt:
- Thôi mẹ ơi! Ngã toạc gối rồi kìa. Vào nhà đi.
* * *
Cúc mang thai. Người sung sướng nhất làng có lẽ là Minh. Anh hát ư ử trong họng những bài hát quen thuộc, miệng luôn cười vui. Đêm đêm anh đặt tay lên bụng vợ, theo dõi và cảm nhận được cái thai lớn lên dần dần. Anh sung sướng ôm lấy Cúc và nói nếu con trai, sẽ đặt tên Thành, tên một người bạn thân đã đỡ đạn cho anh và hi sinh tại mặt trận. Nếu con gái sẽ đặt tên Thùy Linh, theo anh đó là cái tên rất đẹp. Nhưng niềm vui ngắn chẳng tày gang. Mới tám tháng, không vấp ngã, sang chấn, Cúc đau bụng quằn quại rồi cho ra một đứa bé không nhận ra trai hay gái, không chân tay, bèo nhèo một cục, không một tiếng khóc! Nó chỉ sống được hai ngày. Minh choáng váng, như người mất hồn, không hiểu cơn cớ làm sao. Cúc như vậy là đã hai lần đẻ ra quái thai.
Minh đi xem, thầy phán do ngôi mộ bố anh để trên gò, người và trâu bò giẫm lên nên không yên. Phải xây bao xung quanh, rào chắn không cho ai đụng vào nữa mới ổn. Đúng là mộ bố anh nằm trên một gò đất giữa đồng, có lối đi mòn sát bên. Minh làm theo lời thầy, xây tường bao cẩn thận, từ đó không ai bước qua được nữa. Nhưng số phận vẫn không buông tha đôi vợ chồng. Sáu năm trời liên tiếp, Cúc sinh nở ba lần nữa nhưng không lần nào thành công. Thảy đều sinh ra dị nhân, và không lần nào nuôi được. Đứa lâu nhất vài năm, có lần chỉ là cục máu.
Minh đau đớn vô cùng. Anh không hiểu vì sao lại đến nông nỗi ấy. Anh đâu có hay chính là do mình. Bảy năm ở chiến trường ác liệt, đã nhiều lần anh đi qua những cánh rừng mênh mông trơ trụi, không còn lấy một chiếc lá, ở đó có những vũng nước trong vắt anh và đồng đội đã uống no nê. Anh đâu hay trong máu mình đã ngấm chất độc màu da cam do quân đội Mỹ thả xuống. Và cả anh bạn quân y năm nào từ chiến trường về nghỉ chân ở làng Đò cũng cùng chung số phận.
Bẵng đi mấy năm, Cúc lại mang thai, nhưng lần này cũng chẳng hơn gì lần trước. Mới bảy tháng thì Cúc rặn ra một cục máu với chùm tóc đen sì. Từ bấy, Cúc không còn sinh được nữa.
Sau một đợt khám nghiệm, người ta thông báo Minh bị nhiễm chất độc Dioxin. Ở bệnh viện ra, Minh choáng váng, xây xẩm mặt mày. Xòe hai bàn tay dưới nắng, Minh thấy mình không còn gì hết!
* * *
Sông sâu. Cầu cao. Gió lồng lộng. Những người qua cầu nhận ra có một gã tuổi chừng trung niên đang đứng sát thành cầu, đầu cúi xuống, hai tay ôm khư một vật gì to tướng và có vẻ nặng lắm. Tiến lại gần, người ta nhận ra kẻ nọ ôm trong tay một khối đá to, vuông vức. Người và xe lướt nhanh qua, chỉ một số hiếu kì dừng lại quan sát, theo dõi.
- Thằng cha định tự tử.
- Kìa! Hắn đang tìm cách trèo qua lan can cầu nhưng rất khó khăn vì hòn đá quá nặng.
- Làm sao ngăn hắn ta lại đi chứ không hắn chết mất!
Cố nhiên kẻ nọ không thể nghe thiên hạ nói gì, và nếu có nghe, hẳn hắn cũng để ngoài tai. Hắn cứ loay hoay trèo qua thành lan can. Hắn ngồi lên được thành lan can rồi nhưng hòn đá nặng trong tay đã không cho hắn vắt chân qua. Cố hết sức lực, hắn rướn người lên…
Một chiếc xe công vụ của cảnh sát giao thông trờ tới. Thói quen nghề nghiệp giúp người trên xe hiểu ngay có chuyện hệ trọng đang diễn ra trước mặt. Hai chiến sĩ cảnh sát nhanh chóng thắng xe máy, nhảy xuống vệ cầu, chạy ngay tới chỗ lan can cầu.
Hắn đứng dạng chân, hai tay ôm khối đá, mắt nhìn xuống dòng nước sâu thẳm. Hai anh cảnh sát tiến lại gần hắn với tư thế sẵn sàng túm lấy nếu hắn nhảy xuống. Kinh nghiệm công việc giúp họ không vội chụp lấy đối phương, chỉ dừng lại ở khoảng cách cần thiết. Họ bắt đầu thuyết phục hắn với giọng nhẹ nhàng. Một bàn tay đặt nhẹ lên vai kẻ cùng đường:
- Thả hòn đá xuống đi anh - Anh công an nói nhỏ - Ai lại làm thế. Chết dễ không mà. Sống mới khó. Đúng không nào? Hãy nghe tôi đi. Hãy tĩnh tâm trở lại mà về với người thân đang chờ.
Kẻ định chết nhổ toẹt một cái xuống đất, im lặng.
- Đời người chỉ sống có một lần thôi nên phải biết quý cuộc sống, dù khó khăn gian khổ, bất hạnh đến nhường nào cũng phải đứng thẳng dậy làm người. Trông anh cũng chưa phải đến mức… À, cũng chưa đến nỗi nào. Cũng lại đang còn trẻ lắm, quãng đường đời phía trước còn dài.
Kẻ định chết quay nhìn anh công an có lẽ cùng trạc tuổi mình rồi cất giọng khản đặc:
- Tôi còn chi nữa mà sống trên đời này!
- Ồ, anh ơi! Thiên hạ lắm kẻ khổ sở vô cùng. Mỗi người ở đời có một số phận, cái khổ, nỗi đau là khôn cùng nhưng ai cũng phải gắng vượt lên. Nghe tôi đi. Cứ nghe tôi một lần thử coi nào. Nếu đời có gì quá cay đắng thì biết vượt lên mới quả cảm, thế mới xứng đáng làm người chứ…
Thấy mười ngón tay kẻ định nhảy cầu run run vân vê hòn đá trước bụng, anh công an lại nhỏ nhẹ nói tiếp:
- Thả tõm hòn đá xuống sông đi. Một… hai… ba nào. Ném đi! Ném đi anh sẽ thấy rất nhẹ nhàng cho coi.
Kẻ định chết gục gặc cái đầu bù xù, xơ xác một lúc rồi bước ra sát mép thành cầu trong lúc hai anh công an đã nắm lấy hai vai y. Hắn nhất định nhảy ư? Không được. Phải giữ hắn lại.
Hòn đá rời khỏi tay kẻ định chết rơi ầm xuống dòng sông chảy xiết. Hắn quay người lại, gục đầu vào tay những chiến sĩ công an. Hắn khóc. Mới đầu còn khóc nho nhỏ, rồi bỗng òa lên nức nở. Hai chiến sĩ công an vỗ về:
- Được rồi. Có thế chứ. Thôi, ta vào trong lòng cầu đi. Chúng tôi sẽ đưa anh về nhà.
Một anh rút di động bấm số gọi, lúc sau, một chiếc xe thùng tới. Hai người dìu kẻ nọ lên xe về đồn.
Ở đồn cảnh sát mọi người hình như đang chờ hắn. Một viên thiếu tá trạc tuổi bốn lăm chỉ ghế cho hắn ngồi, rót cốc nước đem đặt trước mặt:
- Uống đi.
Viên thiếu tá kéo ghế ngồi đối diện, bắt đầu công việc. Hắn khai họ, tên, tuổi, hiện đang sống bằng nghề nông ở làng nọ.
- Trước có làm nghề gì nữa không?
- Đi bộ đội, chiến đấu ở chiến trường Tây Nguyên, bị thương, phục viên.
Viên thiếu tá gật đầu, nhìn thẳng vào hắn, giọng trở nên nhẹ nhàng:
- À, ra thế… Từng chiến đấu ở chiến trường trong chống Mỹ. Này đồng chí Minh. Thế cơ sự làm sao mà đến nông nỗi này? – Rồi anh cười, giọng xởi lởi – Tí nữa chúng tôi mất một người bạn chiến đấu. Vợ con làm sao? Cơ cảnh thế nào? Nói xem.
Minh uống cạn cốc nước, rủ rỉ kể hết mọi chuyện, rằng tôi đau lắm, tôi bị nhiễm chất độc da cam Dioxin, vợ sinh mấy lần đều trắng tay nên không thiết sống nữa.
Câu chuyện càng lúc càng trở nên cởi mở, thân thiết. Minh kể những trận đánh ác liệt, những kỉ niệm chiến đấu với vị trí một Trung đội trưởng bộ binh đối mặt với cái chết. Viên thiếu tá bước qua ôm vai Minh lắc lắc:
- Thắng thằng giặc, thế mà có lúc suýt gục ngã trước chính mình đó nghe. Thôi, ta uống với nhau li bia, rồi tôi cho xe đưa đồng chí về nhà. Nhất định tôi sẽ đến thăm đồng chí một dịp nào đó.
* * *
Từ đó, nhà Minh thỉnh thoảng lại có mấy anh cảnh sát giao thông ghé chơi. Họ chưa hết nhiệm vụ của mình. Thông cảm với hoàn cảnh Minh, họ khuyên vợ chồng anh nên kiếm một đứa con nuôi cho vui cửa nhà. Minh không nói gì, chỉ thỉnh thoảng gật đầu.
Cúc không có ý kiến gì, tất cả là nơi chồng. Trằn trọc mấy đêm liền, rồi Minh gọi Cúc ngồi dậy, nói:
- Tôi tính thế này. Ta không nuôi con nuôi.
- Ý anh thế nào?
- Mang thằng cu về nuôi.
Cúc ngạc nhiên:
- Thế thì hay quá. Cơ mà bà ngoại định cho cháu vào Trung tâm Bảo trợ nạn nhân chất độc da cam và trẻ em bất hạnh của tỉnh đó.
- Không! Con ta, ta nuôi.
Một tuần sau, vợ chồng Minh qua làng Đò bồng con về. Trên con đê làng, người ta thấy một người đàn ông bồng đứa con và người đàn bà theo sau với lỉnh kỉnh tay nải, túi xách.
Minh đặt tên thằng cu con là Thanh.
H.T.S




