|
H |
oàng sực tỉnh. Mặt trời như một khối lửa khổng lồ. Chói chang, gay gắt. Anh đã dầm trong nuớc mặn ba ngày. Da chợt bong ra từng mảng. Hoàng hình dung khuôn mặt mình héo quắt, dúm dó như một quả táo khô. Cổ họng rát, môi nứt nẻ, tóc dính bệt có thể dứt ra từng mảng được. Nhắm nghiền mắt lại rồi từ từ mở mắt ra. Trời vẫn hanh khô. Chiếc can đựng nước ngọt bồng bềnh bên cạnh. Lựa lúc sóng êm anh dốc ngược, chỉ còn một ít sóng sánh ở đáy can. Dòng nước ngọt thấm dần da thịt anh nở ra, tươi ra. Đầu óc anh nhẹ nhõm, con mắt nhìn không nhức nhối như trước. Cái chân bị chuột rút tê dại giờ như có máu truyền xuống đã duỗi duỗi. Hai cánh tay nặng như khúc gỗ, các khớp bắt đầu long ra. Một nỗi cô đơn trống rỗng. Bây giờ là buổi sáng. Lại một ngày nữa. Anh buông mình theo ven nước chảy…
Hoàng còn nhớ như in cái đêm trước lúc cho tàu nhổ neo đi Quảng Ninh “ăn than” . Anh là thuyền trưởng. Tàu anh chuyên chở quặng Êrnênhít khai thác ở Hà Tĩnh ra Quảng Ninh xuất khẩu sang Nhật. Thứ “cát đen” này đã gây sóng gió cho bao người đi tìm “vận đỏ”. Chiều, Hoàng cho tàu nhổ neo ngay tại mũi Gò. Anh xua đám thủy thủ lên bờ. Anh biết đám thủy thủ của anh là những “con đực” đang thời kỳ động tình. Anh dặn “Không được người nào phạm luật biển”. Trước lúc nhổ neo các thủy thủ phải giữ mình trong sạch. Hình như biển quá cô đơn mà tính nết thất thường như một người đàn bà quá thì. Đám thủy thủ nở nang mày mặt, lên làng. Họ sà vào quán hàng nào đó mà chủ quán là một cô gái đẹp để tán tỉnh, là “món nhắm” làm trôi đi hàng két bia. Ở một tàu nọ đã nuôi hẳn một cô gái như món hàng sống. Ngày, cô gái ấy nhặt rau, nấu cơm. Đêm, thành đồ chơi cho đám thủy thủ. Bọn họ chuyền cô như chuyền một quả bóng tròn căng, đến lúc xẹp xuống mới mon men trả về buồng ngủ cho thuyền trưởng. Nhưng rồi chiếc tàu ấy bị đắm, đó là sự nổi giận của thần biển chăng? Hoàng nhày xuống một chiếc đò ngang sang bên núi với Thủy. Thủy chờ anh ở một phiến đá cạnh cái khe nước Hao Hao. Người làng bảo rằng: Cái khe này do một thầy địa lý người Tàu tìm ra đặt tên là khe “Hảo Hảo” sau này mọi người gọi là khe “Hao Hao” cho thuận tiện. Ông thầy này còn phán: Nhìn thấy dãy núi Nam Giới như một chiếc ghe lật sấp. Dân ở đây chỉ có thể sống được bằng nghề đánh cá biển chứ không thể giàu lên được bằng nghề buôn đường biển. Không biết điều đó có linh nghiệm không chứ làng của Hoàng xưa nay có cả dòng họ chuyên sống bằng nghề buôn nước mắm rong ruổi khắp đó đây. Cái máu lãng tử đã thấm vào anh từ lúc nào. Cha anh vốn là một tài công nổi tiếng. Tên ông đã được đặt cho một con tàu mà dân cửa Bạn, lạch Quèn gọi là tàu ông “Đại Dương”. Đại là tên anh đầu. Dương là tên ông. Hoàng mồ côi mẹ từ nhỏ. Đói sữa, anh khóc. Anh Đại cầm bát đi xin sữa làng bên đến trưa vẫn chưa về. Cha anh lúng túng. Ông bèn lấy bình đựng sữa có núm vú cao su hứng vào vòi nước khe “Hao Hao” và cho anh bú. Bỗng nhiên Hoàng nín bặt. Dòng nước ngọt thấm vào cơ thể anh như một dòng sữa. Nhưng cũng lạ là hễ thay nước khe Hao Hao bằng nước khe khác hay giếng nước trên làng là anh lại khóc. Cứ thế Hoàng lớn lên bằng cá gỏi, rượu đẻn và nước khe Hao Hao. Anh mơ ước trở thành một tài công như cha anh. Bài học đầu tiên ông dạy anh là bơi. Ông quẳng anh xuống nước. Bản năng tự vệ khiến hai tay, hai chân anh đập nước vẫy vùng. Nước biển bắn lên xót cả mắt. Người anh nặng dần và chìm. Ông cầm lấy tóc anh lôi lên mặt nước dốc ngược cho nước trong mồm chảy ra, bụng xẹp lại, tiếp tục quẳng xuống biển. Anh trở thành một con rái cá. Rồi ông dạy anh tập lặn. Những ngày đông rét buốt nước biển kéo màng bồ hóng ông cho anh uống cạn bát nước mắm màu cánh dán và cùng lặn với anh xuống đáy biển; đến lúc máu mang tai rỉ ướt, mắt như bị nén trồi ra ông mới thả cho anh lên mặt nước. Ông đa tình. Dân biển hình như ai cũng đa tình. Xuôi ngược đó đây, mỗi lần ghé đậu, lúc ra đi bao giờ cũng có một cô gái khóc đỏ mắt vì ông. Nhớ hồi tàu ông đi vào một cái lạch lạ. Hoàng thấy ông trao tay lái cho mình và bước về phía mũi tàu. Dáng đi lảo đảo, hai vai run lên. Ông khóc, thì ra cửa lạch này có một con tàu bạn ông bị đắm. Đêm, ông cho con tàu neo lại. Bó hương trong tay ông rực cháy như một đốm mắt nhìn nhức nhối lả tả rơi vào biển, cùng với hoa, muối và gạo. Nửa đêm tỉnh dậy, Hoàng thấy ông đăm đăm ngồi nói chuyện với ai đó trong hơi gió. Anh giật mình thoáng nghe có tiếng người vọng lại u u mơ màng và tiếng cột buồm kêu trèo trẹo mặc dầu sóng lặng biển êm.
Mặt trời lên càng nóng. Hoàng vập mặt xuống nước, gáy anh như có một đàn ong châm vào. Tai bắt đầu ù, mắt hoa lên choáng váng. Đã ba ngày chưa có gì vào bụng ngoài chút nước ngọt. Bỗng anh nhận ra mấy đọt tre nhô lên mặt nước. Dân biển trồng rào bằng tre. Cây tre được bó xung quanh bằng những bó muống cho cá đến ẩn và nối với một tảng đá to. Anh tìm thấy một mảng lưới mắc vào chân rào. Hoàng khéo léo gỡ ra và giăng bẫy. Quả nhiên có hai chú cá chuồn lao thẳng vào lưới. Anh cắn bập vào thân cá. Một vị tanh nồng xộc lên. Bụng anh lỏng bỏng ói ra một ít nước vàng lộn ruột. Cơ thể anh tỉnh dần. Bải hoải. Anh muốn buông lỏng tay khỏi phao. Thế là khỏe. Chết ở cây rào này không lo mất xác lại được làm ma chay chu đáo. Bỗng nhiên nỗi nhớ Thủy và giọt máu anh để lại bỗng cồn cào, quay quắt. Không thể để Thủy ở góa được. Thủy còn trẻ và đứa con, đứa con, đứa con…
…Đêm đó Thủy mặc bộ áo lụa đen mỏng như nước dính vào thân hình nõn nà. Da Thủy trắng, tóc Thủy dài và giọng hát dân ca của Thủy thủ thỉ tuyệt vời. Hoàng có thể bỏ ra hàng giờ nghe Thủy hát. Ngày nhỏ anh chỉ được nghe trộm lời ru của hàng xóm. Thủy kể rằng: Bố mẹ của Thủy từ lâu đã gắn bó với cái khe nước Hao Hao này. Dòng nước trong vắt chảy ra từ những nhủ đá như ngọn nến trời nhỏ giọt. Bố Thủy bắc một cái máng nước bằng những ống bương to, già đục rỗng để dẫn dòng nước từ ngực núi ra tới mực nước sau ba, bốn sải tay cho thuyền của dân đi biển vào lấy nước. Họ trả công cho ông bằng cá hoặc mực có khi là những con đẻn bụng phồng trứng để ông nhắm rượu. Ngày ngày Thủy lên tận mạch nguồn nhặt hết cây cối, lá rụng xuống. Bố Thủy bảo: không được để dòng nước tạp uế dễ sinh ra bệnh sốt rét, ỉa chảy. Dân biển cứ thế uống nước lạnh hăng hái. Nhất là đám say rượu chỉ cần uống vào bát nước khe Hao Hao là tỉnh lại liền. Thủy đón Hoàng lên phiến đá, phút chốc cô biến mất. Anh nhìn quanh chỉ thấy một dải sáng trắng của khe nước lấp lánh ánh bạc dưới trăng. Đâu đây thoảng mùi sim chín. Những quả sim chín căng mọng, béo ụ, trĩu nặng. Một khóm sim động đậy. Khuôn mặt Thủy ngời ngời ánh lên nụ cười. Thủy dụi mãi mái tóc hương sả vào ngực Hoàng. Đêm nay hình như cô có điều gì thấp thỏm; thỉnh thoảng Thủy lại thở dài. Trăng lên cao, Hoàng uống cạn ánh trăng trong mắt Thủy; Thủy hít hà vị mồ hôi nồng mặn ở cơ thể cường tráng của Hoàng. Giật mình Hoàng nhìn xuống, cả người Thủy như được nhuộm bằng ánh trăng. Bộ áo quần lụa vắt lên cành sim vít võng la đà. Hoàng hổn hển, râm ran. Còn Thủy thì níu kéo. Đột nhiên anh quay mặt đi. Ngày mai tàu đã nhổ neo. Anh không thể, không thể. Thủy tuột khỏi vòng tay anh và bưng mặt khóc. Đôi vai trần rung lên. Cả vạt sim rung lên, rung lên. Ánh trăng run rẩy vỡ ra. Sóng biển vỗ vào vách đá bỗng lưng chừng tụt xuống khe hẻm chỉ còn nghe rì rào tiếng nước chảy và hình như có một dòng nước nóng nào đó sôi lên sủi tăm trong cơ thể anh đòi được thoát ra. Nước chảy xuống chân anh làm cho mười đầu ngón chân một cảm giác kì lạ như muốn nâng anh lên, như muốn kéo quất anh xuống. Hai tay buông thõng. Nắm lá sim anh đã vò nát. Hoàng đưa lên miệng và nhai. Một vị đắng tê tê đầu lưỡi. Bất giác như một kẻ không hồn , anh quờ quạng ôm ngang lưng Thủy. Thủy nấc lên thổn thức. Cô cảm thấy một điều gì đó không ổn trong chuyến đi sắp tới của Hoàng. Mấy ngày nay khí trời thay đổi. Mây vần vũ rồi tan nhanh. Lá sim đã trở màu. Khe nước Hao Hao của cô không còn chảy đều như trước. Hình như trong đáy ngầm của núi có một cuộc vận động địa chất nào đó. Đêm, Thủy ngủ giật mình toàn mộng mị quái đản. Bệnh đau khớp của bố Thủy bắt đầu có triệu chứng khác. Mùa bão sắp đến! Bằng một sức mạnh bản năng, Thủy cương quyết giật lấy cái quần bò còn lấm lem dầu mỡ của Hoàng. Anh hụt hẫng. Ngày mai, con tàu, đám thủy thủ “chuyện ấy” tất cả đều quay cuồng. Trong mờ ảo, gió mơn man, da thịt Thủy tỏa hương, cặp môi ướt dính của cô lướt nhẹ trên ngực anh và xuống, xuống nữa. Chút phản kháng của anh cuối cùng đã bất lực, anh bồng bềnh như trôi. Những cành sim và đá sỏi cứa vào lưng đau nhức. Một ham muốn tột độ bùng ra. Nước thủy triều dâng lên. Cơn vần vũ, mây, trời, sóng, nước; ánh trăng nhoè đi. Anh chìm dần, chìm dần vào đáy của hoan lạc.
…Bồng bềnh bỗng nhiên Hoàng mở mắt. Đêm xuống thật chậm. Hoàng hôn. Buồn. Cả ngày chống chọi với cái nắng lửa và những lèn nước chảy bất ngờ cùng những đàn cá rỉa quanh người làm anh quên đi và thấy ngày trôi nhanh. Nhưng khi hoàng hôn buông xuống thì thật dễ sợ. Lúc này anh thấy mình nhỏ bé biết bao trước đại dương rộng lớn. Anh khóc, nước mắt nhòe với nước biển. Hoàng thoảng thốt kêu lên. Mẹ ơi! Con chết mất. Anh không còn sợ khát, sợ đói nữa! Mảnh lưới anh vớ được bất ngờ trở thành cái bẫy săn cá chuồn. Chỉ cần màn đêm ập xuống, anh nằm ngửa trên phao dăng lưới lên thế nào cũng có chú cá chuồn dính. Nhưng một khoảng trống vỡ vụn ra trong cơ thể anh ngày càng lớn. Lỗ hỏng đó không gì lấp đo được. Hoàng gọi tên Thủy, gọi để nghe tiếng người, gọi để biết mình còn sống. Hoàng hôn dai dẳng hụt dần, hụt dần niềm hi vọng trong anh. Bóng tối phủ xuống, rồi những cơn mộng mị, chập chờn, rồi nỗi lo cá mập. Ban ngày Hoàng bơi đứng, đêm xuống anh mệt nhoài nằm trên vở phao ngời lóe lên ánh nước lân tinh dễ thành một thứ mồi ngon đánh động cho lũ cá mập. Có một lần Hoàng gặp cá mập. Nhưng anh rất may đó là loại cá mập hoa, chúng chỉ lờn vờn, lượn quanh, hít hít rồi lảng ra xa. Đầu Hoàng va nhẹ vào chiếc hộp xốp trắng. Anh mở ra trong đó có cái đài cát sét nhỏ lắp pin điện tử và băng dân ca do Thủy hát. Chiếc đài vẫn khô, anh ấn nút và chỉnh sóng. Một giọng hát trong vắt: “Anh ơi! Khoan vội bực mình. Em xin kể lại để anh nghe tỏ tường”. Và cái điệp khúc láy lại: “Giận thì giận mà thương thì thương” đã nạp cho Hoàng một nguồn năng lượng mới khi năng lượng của đôi pin cạn dần, cạn dần. Giọng Thủy nhỏ lại, thủ thỉ, rấm rứt. Hoàng nhắm mắt lại để cho âm thanh ấy còn vọng mãi, ngân mãi trong tâm trí. Một con sóng lớn bất thần phủ lên người anh hất chiếc đài ra xa. Anh chỉ còn nghe vọng lại hai tiếng “thương” của Thủy rồi tất cả chìm dần trong sóng biển… Tàu Hoàng nhổ neo đúng giờ chính ngọ sau khi các thùng đã đựng đầy nước khe Hao Hao. Trước khi chia tay, Thủy dúi cho Hoàng băng nhạc dân ca Thủy hát và can nước ngọt lấy từ đầu nguồn. Tàu ra khỏi cửa lạch. Hoàng bần thần cả người. Đám thủy thủ bắt tay vào công việc. Chỉ có Hoàng như đánh mất một cái gì đó. Anh cáu kỉnh lánh mặt với anh em trên tàu. Đến bữa, Hoàng ăn qua loa sau đó giao lại cho thuyền phó rồi lê bước về phòng mình mở đài nghe Thủy hát. Một đêm trôi qua. Sáng mai dậy, mắt Hoàng hõm sâu, miệng đắng ngắt. Ốm chăng? Không. Bao con mắt tò mò nhìn Hoàng như bóc ra từng mảng thịt. Cái mặc cảm tội lỗi cứ hành hạ anh, dày vò anh. Đến chiều thứ hai, mọi thao tác của Hoàng trở nên chậm chạp. Con tàu cũng bải hoải như anh. Sóng va mạnh vào thân tàu nghiêng ngả. Bóng thủy thủ trở nên lầm lì, không khí trên tàu như vón cục lại. Nặng nề. Sinh mạng của từng ấy mạng người và hàng trăm tấn quặng Emenhip đang nằm trong tay Hoàng. Đêm đó mệt quá anh ngủ gục trên vô lăng. Giấc ngủ xua đi bao ám ảnh cho anh nhẹ nhõm hơn. Đám thủy thủ sau khi thi nhau ném xuống biển hàng chục vỏ chai bia Vạn Lực giờ cũng đã gối lên nhau ngủ trong căn phòng chật hẹp. Máy đẩy chạy rì rì. Hoàng mơ thấy mình hóa thành một con cá bơn to đang đang ngậm cát lừ lừ tiến vào bờ đắp mũi gò. Và Thủy, hóa mình thành một con sứa giương ô lộng lẫy che nắng cho Hoàng. Nắng, nắng, nắng. Mặt nước nóng rẫy lên như đun sôi con sứa tan ra từng mảng. Nóng quá, Thủy ơi! Hoàng kêu lên. Tỉnh giấc, anh nhận ra chiếc la bàn trước mặt kim quay loạn xạ. Thì ra mũi tàu đã không chạy đúng hải trình mà chạy ra vùng biển quốc tế ở phao số không. Mấy tiếng đồng hồ trôi qua. Bản tin thời tiết năm giờ sáng báo động cơn bão đổ bộ vào đất liền. Có tin bão khẩn cấp vào lúc mười giờ đêm qua mà Hoàng không biết. Tàu anh đang đi vào hướng tâm bão. Anh giật chuông báo động. Đám thủy thủ chồm dậy ngơ ngác. Họ hoảng hốt. Phút chốc con tàu bốc lên không khí hoài nghi, vô vọng và bất lực. Với tốc độ này không thể về kịp đất liền trước khi bão đến. Hoàng quyết định cho mũi tàu quay về phía bờ. Thủy thủ chuẩn bị phao cấp cứu. Anh buộc bốn chiếc phao lại thành một chiếc thuyền nhỏ có cả can đựng nước ngọt và hộp xốp đựng chiếc đài cát sét. Gió mỗi lúc một mạnh dần. Mùi biển bốc lên tanh tưởi. Mùi chết chóc. Mùi rong biển thối. Hoàng bất lực xoay mạnh vô lăng rồi đánh trả lại. Con tàu như một kẻ say. Tiếng máy đẩy rú lên thật thê thảm như một con vật bị chọc tiết. Bỗng nhiên Hoàng phát hiện thấy một con tàu đánh cá treo cờ Trung Quốc đang chạy phía sau cùng chiều với tàu anh, tốc độ tàu đó lớn hơn. Anh vội cho hoa tiêu đánh tín hiệu cấp cứu, sóng sẽ đánh vỡ tan. Anh gọi đám thủy thủ vào buồng lái.
-Anh em! Hãy tha thứ cho tôi. Tôi là người có lỗi. Trước lúc nhổ neo tôi đã phạm “luật biển”. Tôi đã làm chuyện ấy. Tiếng xì xào nổi lên, những tia mắt đỏ quạnh vằn lên những tia máu, vòng ngực cuồn cuộn nắm tay gân guốc.
-Anh em! Bây giờ mọi người chuẩn bị rời tàu về nhà, gặp Thủy nhắn hộ tôi rằng:Cố nuôi lấy đứa con. Mai sau nó sẽ là một tài công, một tài công tài năng thật sự. Anh em! Hãy giúp mẹ con cô ấy, tội lắm!
Không khí trong khoang lái bỗng chìm xuống, đám thủy thủ lấy tay quẹt mắt và quay mặt đi.
- Anh em! Không còn thời gian nữa. Tất cả về mũi tàu. Loáng thoáng Hoàng nhận được một cái hôn chia tay vội vã lên má. Nhớ nhất là bộ râu của thằng Hùng sửa máy cọ mãi vào Hoàng. Nước mắt Hoàng nhòa sang mắt nó. Nóng hổi. Hoàng đánh vô lăng cho mũi tàu chạy sát va nhẹ vào mũi tàu đánh cá Trung Quốc. Không đầy mấy giây đám thủy thủ của anh đã chạy sang đó. Anh chỉ còn nhòe nhòe những cánh tay vẫy mãi vẫy mãi và mất hút.
…Lại một đêm đầy mộng mị trôi qua. Cơ thể Hoàng héo dần, héo dần. Bỗng nhiên người anh có một vật gì đó va vào, trơn nhẩy. Một con cá heo lạc bầy. Cuống quýt Hoàng ôm lấy cổ con cá. Miệng nó thở phì phì ngụp xuống, ngoi lên, dẻo như một diễn viên xiếc. Cá heo đưa anh lướt nhanh vào bờ. Quả nhiên ông trời có mắt thật. Thủy ơi. Anh kêu tên Thủy. Đôi mắt cá sóng sánh, the thé giọng lưỡi. Dân biển gọi loài cá này là cá ông. Dân đi biển mắc nạn nếu gặp cá ông thường được đưa vào bờ. Ở gần khe Hao Hao dưới chân dãy núi Nam Giới có một cái miếu thờ cá ông bị bão trôi dạt vào. Dân làng đóng quan tai làm đám ma to lắm. Khi gần đến bờ, sóng đổ xuống càng to. Nhất là sóng đất. Dân biển thường gọi là sóng thần. Nó ngầm chảy dưới đáy biển bỗng trào lên cuộn cả đất dâng cao hàng chục mét. Con cá heo dường như nhận thấy sự nguy hiểm đang chờ nó phía trước. Nó giương mắt nhìn anh giọng lưỡi lại the thé, hai lỗ mũi phì phì, cái đuôi vẫy mạnh và lặn ngụp xuống. Hoàng nhẹ bẫng chới với níu vào phao. Trước lúc giã từ con cá heo còn bơi quanh anh ba vòng rồi mới tung người lên cao và lặn ngụp bơi ra khơi. Thần chết đã sờ tận gáy. Người Hoàng héo khô kiệt nước. Mắt sưng húp. Môi vêu nứt nẻ.
Phải sống! Lúc bấy giờ thấy mình thật khỏe; hình như đây là cái giãy chết cuối cùng.
Phải sống! Chân anh đạp mạnh hai tay nhoài người về phía trước, cũng may sóng đất thỉnh thoảng mới có. Anh cứ bơi lên được một quãng thì sóng đất hút anh ra nửa quãng. Cứ thế như một con sâu đất Hoàng quăng mình lên từng quãng ngắn, ngắn dần nhưng không trùng nhau cho đến khi chân đạp phải đất. Bò lên đến bờ cát Hoàng mới tỉnh.
…Nghe tin Hoàng bị nạn Thủy gói ghém đồ đạc ra tìm anh. Cô không quên mang theo lọ nước ngọt của khe Hao Hao lấy tận nguồn vào lúc tờ mờ sáng. Cô lần được tin tức về anh. Nghe nói anh đã dạt vào bờ và được bà con làng biển đưa đi bệnh viện. Lúc Thủy đến, Hoàng đã nguy cấp lắm. Nhìn anh nằm trên chiếc nệm ra, cô không kìm nổi nước mắt. Lẽ nào một chàng trai thủy thủ vạm vỡ như thế bây giờ giống như một đứa trẻ con nhỏ thó chỉ còn da bọc xương. Cái đầu trọc lóc giống như một ông già. Bác sĩ đang truyền dịch cho anh. Anh yếu lắm, mạch chìm dần, huyết áp giảm. Thủy bước lại gần anh. Hoàng vẫn mê man. Cô hỏi bác sĩ. Ông khẽ lắc đầu. Y học đã bó tay không còn cách gì cứu được anh ấy khỏi vòng tay tử thần. Bỗng nhiên Hoàng mấp máy môi: nước, nước, Hao…Hao. Bác sĩ nhìn anh ngơ ngác. Thủy hiểu ra. Cô lấy từ trong túi chiếc lọ đựng nước trong vắt. Bác sĩ ngăn lại. Cô nói: “Thế nào anh ấy cũng không sống được, cho cháu làm phúc cho anh ấy lần cuối cùng”. Bác sĩ lắc đầu: Tội nghiệp! Thủy khẽ lấy chiếc thìa bón cho anh từng giọt, từng giọt. Gương mặt của Hoàng bỗng sáng lên. Mí mắt khẽ chớp chớp. Từ đôi môi sưng vều anh thốt lên: Thủy! Anh ấy sống lại rồi, phải sống anh Hoàng ơi. Bác sĩ cúi xuống bên anh. Ông ngạc nhiên sửng sốt: Mạch nổi hẳn rõ, nhịp tim đập tuy còn yếu ớt, huyết áp bắt đầu tăng. Cậu ấy đã sống. Ông tháo cặp kính cận lau rồi bất giác thở dài.
Khi nghe kể lại câu chuyện này tôi về khe nước Hao Hao bốc lên từng nắm cát và soi dưới ánh mặt trời. Những tinh thể cát ánh ánh vẩy bạc như một thứ quặng quý. Tôi nếm cát. Một vị ngọt lan dần, lan dần vào cơ thể tôi. Vị ngọt này tôi chưa bao giờ được nếm, hay đã được nếm mà tôi đã quên. Không phải vị ngọt sắc hóa chất của đường, hay vị ngọt the của mía. Nó vừa ngọt lịm vừa mát, đánh thức trong tôi bao kí ức đã qua và khao khát với một niềm tin vô hình nào đó. Cả đồi sim dạt vào tôi như một lũ trẻ. Dưới chân núi cạnh khe Hao Hao có hai dáng người dìu nhau đi về phía cái tảng đá khuất sau hai tảng đá chông chênh mà thiên nhiên đã khéo tay tạo ra gọi là: Đá Ông, Đá Bà.
N.N.P.




