|
M |
ột thân người nằm sóng soài trên vũng bùn, giữa con đường làng lầy lội dưới cơn mưa sùi sụt tháng mười. Mấy người ngồi trên xe ngựa từ chợ Đầm về, chép miệng:
- Bà Hai lại say rồi!
Xe chầm chậm lách qua lề đường đi quãng xa, dừng lại trước cổng ngôi nhà cổ, lợp ngói âm dương, hàng cột gỗ đồ sộ, thấp, trước có sân rộng nằm sâu giữa vườn. Một người gọi với vào:
- Son ơi!
- Dạ!
- Má say nằm dưới kia, xuống đưa má về con.
- Dạ, Con cảm ơn dì.
Giọng cô gái trong trẻo, dịu hiền, buồn buồn. Ai cũng thương cảm cảnh nhà bà Hai, con Son.
Bà Hai là con gái một của ông bá hộ Mai Tư, được mẹ cưng chiều, nuôi dạy rất nghiêm cẩn. Thời con gái bà giỏi giang, đẹp nổi tiếng hàng tổng. Những nhà giàu có, những nhà có chức quyền dưới thị xã, ở huyện khác, tỉnh khác nhờ người mai mối, mong có được con dâu giỏi giang, đức hạnh. Thuyền có nhiều bến đậu. Song, gái chỉ lấy một chồng. Để buồn cho những chàng trai đang thầm yêu...
Chồng bà Hai là chàng trai có học, cao ráo, khỏe mạnh, mắt sáng, dáng đi đẹp, nhưng nước da hơi đen. Ông là viên chức trẻ của nhà ga xe lửa Nha Trang, biết kính người trên, lịch sự với người dưới. Nhỏ Khánh Trang con gái đầu lòng của họ ra đời được một năm, thì ông bị địch bắt đi tù. Hèn gì tử tế, hiền lành, thiên thu tại ngoại. Năm năm chờ chồng, một mình nuôi con, sau ngày ông ra tù, bà Hai có thêm thằng Chung, mặt mày sáng láng, dáng vóc giống cha, da trắng đẹp như mẹ. Nó là hòn ngọc quý của cả họ.
Rồi chính ông là Chủ tịch xã đầu tiên, trong năm này đứa con gái út ra đời, đặt tên là Son. Bà Hai được coi là người mẫu mực khắp trên làng, xóm dưới, đoan trang, tháo vát, cùng chồng lo toan việc họ, việc làng. Xây dựng các đoàn thể, lo bình dân học vụ... Khánh Trang được bầu làm đội trưởng nữ thanh niên, thằng Chung đội trưởng đội thiếu niên. Có lẽ chúng là những đứa trẻ có học rất hiếm hoi của làng, sống nền nếp, lễ phép, nên được tin cậy. Dù bận nuôi con nhỏ, song lúc nào bà cũng tất bật, vận động phụ nữ lo toan chu đáo cơm nước, đón tiếp các đơn vị Nam tiến, đại đội Bắc - Bắc khi họ tạm dừng chân nghỉ lại tại đình làng Phú Nông, trên chặng đường đi tiếp vào phía Nam. Lạc quyên lúa gạo, tiền bạc, tiếp tế cho mặt trận Nha Trang. Đón liệt sĩ, chăm sóc thương binh dưới mặt trận chuyển lên...
Vậy mà, bây giờ bà thường say mèm, khi thì ngã bổ nhào nằm dài bên bờ rào, lúc lăn ra giữa đường bất kể đường khô, hay lầy lội. Khi còn xiêu vẹo, sấp ngửa trên đường thì bà gọi tên tổng thống Ngô Đình Diệm trả con lại cho bà! Diệm chết, Thiệu lên thay. Bà lại gọi tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đòi trả con...
Son bấm mười đầu ngón chân trên con đường đất pha sét, trơn như đỗ mỡ, nhọc nhằn cõng má đi từng bước, nước mắt lặng thầm rơi trong mưa. Son nấu nước nóng lau người, thay quần áo khô, kéo mền đắp cho má. Xuống bếp nhóm lửa, đặt nồi nấu cháo đậu xanh, rồi đi tắm qua quýt, giặt hai bộ quần áo bê bết bùn của má và của mình. Cháo chín nhừ, nêm chút muối, giá có được vài thìa đường để má ăn ngon miệng, Son khéo léo bón từng thìa cháo nóng. Được gần lưng bát cháo nóng bà tỉnh, tay vuốt nhẹ mái tóc dài đen mượt chưa khô, bàn tay dừng lại giữa mái tóc ngang tấm lưng thon thả, bà hơi ghì nhẹ như muốn ôm con gái vào lòng. Thương con một mình cun cút đi làm nuôi mẹ, nước mắt lã chã rơi.
- Sao má khóc?
- Má thương con, má làm khổ con.
Một lúc sau. Bà lại hỏi:
- Có đứa nào về liên lạc chưa con?
- Chưa má à!
- Có tin tức gì thằng Hiệp không con?
Nghe má nhắc tới người yêu, Son rớm nước mắt.
- Không, má!
Bà Hai thở dài:
- Chúng nó bỏ đi ra Bắc hết rồi! Hay không tin nhà mình nữa!?
Không khí nặng buồn đè trên hai trái tim một già, một trẻ, trong ngôi nhà cổ lặng ngắt.
Thực ra bà Hai không nát rượu. Bà buồn, uống vài ly nhỏ khi bụng đói, rượu quật bà. Bà quỵ vì rượu, làng xóm thương cảm với bà, vì phải chịu nhiều nỗi đau quá lớn.
***
Tháng ba thanh minh, năm một nghìn chín trăm bốn sáu, bọn phòng nhì bắt được chồng bà. Ông chỉ kịp dặn:
- Lần này tôi đi chắc không về, mình nhớ ngày hôm nay làm giỗ cho tôi. Gắng nuôi dạy con nên người. Tôi thương mình rồi còn khổ nhiều.
Cùng bị bắt, bị thủ tiêu tại lỗ nước Bãi Dương với chồng bà, còn có cậu em họ Nguyễn Tre, lý trưởng làng Lư Cấm.
Bạn của chồng, lý trưởng làng Phú Vinh Lê Tùng thoát được, lên chiến khu làm Chủ tịch huyện Vĩnh Xương, móc Khánh Trang thoát ly luôn. Rồi ông bị giặc phục kích, hy sinh tại Đồng Chay ba năm sau đó. Cũng năm bốn chín này , Nguyễn Từ Chủ tịch xã Vĩnh Phú, con rể bà, bị úp cơ quan chết trên Bàn Lỗ Tây* hòn Chín Khúc. Ba tháng sau Khánh Trang bị bắt, bị đòn tra chết trong tù mới hai mươi tuổi đời, mang theo cái thai đầu bốn tháng tuổi. Cố nén thương đau dồn dập, lòng bà như có lửa. Bà lại lặng lẽ thu xếp cho thằng Chung lên chiến khu với các anh, các chị, mới tuổi mười bốn. Chiều hôm đó bà xuống Nha Trang ngủ, trốn chạy giờ chia tay với con, trước khi nó bí mật đến điểm hẹn.
Các anh nó khen:
- Thằng nhỏ đánh giặc gan lắm má!
Bà mừng, nhưng cánh cánh mãi trong lòng nỗi lo... Hằng đêm bà lắng nghe tiếng súng, đếm từng giờ theo bước chân con và các anh, các chị của nó. Là đàn bà, song bà rất quen với tiếng súng trận mạc. Tiếng nổ lớn đầu tiên của bộ đội ta công đồn, đánh cầu. Súng máy nổ dài, tiểu liên, súng trường sôi rộ lên, hai phát pháo hiệu đỏ như máu vọt lên trời đêm, giặc báo hiệu thu quân, là biết bên ta bị phục kích. Nghe nhiều quá thành quen. Đêm nào nghe tiếng súng nổ giòn, đanh, chát chúa, là bà mừng, biết bên ta vô sự. Đêm nào trong mớ tiếng nổ ồn ào, hỗn độn mà có lẫn tiếng nổ trầm đục, sống lưng bà lạnh, ngực nhói đau, chong mắt chờ sáng đi thăm dò tin tức, để biết đứa nào đã ngã xuống, nhờ bà con chôn cất. Bà âm thầm lau nước mắt, trở về, cắm thêm lên bàn thờ một nén nhang, xót thương chúng nó còn trẻ quá! Bà nhớ mặt, biết rõ nhiều đứa, con ai, ở làng nào quanh vùng, đứa nào tận Quảng Nam, tận ngoài Bắc... Bởi vì bà là mẹ chiến sĩ, là nơi liên lạc, bí mật đi về của những người con kháng chiến.
Vậy mà khi cục cưng của bà bị thương nặng trong một trận hạ đồn tại làng, chúng nó dấu biệt. Bà điếng người, bán tín, bán nghi khi nghe tin dữ, do Trần Lung viên xếp đồn báo lại:
- Sao ông biết?
- Tôi bị bắt, mấy ông bảo tôi khiêng chú nhỏ con bà. Máu me đầy người, mà gan lì, không rên la, ánh mắt tin nhanh, trắng trẻo, giống bà lắm mà. Thú thực, đi suốt ngày trên núi, mệt quá tôi muốn kiệt sức, lại sợ tới nơi mấy ông sẽ xử bắn, nên bỏ võng lủi vào rừng, tìm đường về đây. Xin bà nhắn giùm, tha cho tôi. Tôi không đi lính nữa.
Thằng nhỏ bị thương thật. Anh Tụy quê Vạn Giã tổ trưởng đặc công nhét quả thủ pháo một ký đã bật chốt vào lỗ châu mai, không ngờ bên trong đã bịt lưới thép. Anh nép mình vào lô cốt, cắn răng, tay giữ chặt, thủ pháo nổ. Anh kịp hét:
- Lỗ châu mai có lưới thép. Tao gãy tay rồi!
Nó kêu:
- Để em băng cho.
Song, Tụy vấp giây kẽm gai ngã sấp, trái thủ pháo dự bị đã rút chốt an toàn trên tay trái văng ra, bép, tóe lửa xanh. Anh Tụy thảng thốt:
- Chết rồi! Nằm xuống.
Anh trườn tới đè lên. Nó kịp nghĩ mình chết nát nửa người rồi. Như một bức tường to, dày tống cực mạnh vào người, nó gục xuống, thân hình te tua, mềm nhũn như xác cá mắm nêm. Một tháng nằm điều trị ở trạm xá Đồng Bò, nó lại có mặt ở đơn vị, lại tham gia các trận đánh.
Còn nhỏ mà gan quá. Càng nghĩ bà càng thương con đứt ruột.
***
Má say, khuyên nhủ hoài không được, Son buồn lắm, luôn khóc một mình, nhưng không dám trách. Vì thương má quá.
Ngày theo má lên Đại Điền tiễn anh Chung ra Bắc. Anh Bảo:
- Má và bà con ráng chờ. Bọn con sẽ đem xe tăng, đại bác về. Bọn nó không chịu nhả miền Nam ra đâu.
Các anh đi rồi, bọn giặc trở mặt thật. Qua nhiều đợt tố cộng, hai má con bị bắt đứng cạnh nhau, ôm lấy tấm bảng có chữ: Gia đình loại A, để chúng chụp hình, đóng khung treo trước nhà. Viên cảnh sát trưởng người xứ khác, thường bất chợt đến thăm, nó tỏ ra lịch sự, lễ phép, lúc vào hẳn trong nhà, lúc đứng trước sân, lúc ra sau vườn, ân cần thăm hỏi, nhưng mắt kín đáo quan sát, tìm kiếm dấu hiệu khả nghi. Những ngày buồn, đen tối, ngóng trông, anh Hiệp bạn của anh Chung bí mật tìm về liên lạc với má, lúc đó Son mới mười tuổi. Anh Hiệp ngồi nói chuyện với má, Son nhảy tót lên, ôm cổ, nép cái thân hình nhỏ bé, gầy guộc vào lòng anh. Sung sướng ấm áp lạ. Nhỏ nhưng biết việc làm hệ trọng của má, của anh Hiệp, Son phải canh chừng dân vệ, cảnh sát, bọn bình định áo đen, xuống Chợ Mới tới mấy nhà quen nhắn những điều má dặn. Đêm đêm anh Hiệp cùng các anh đàng mình thoắt đến, thoắt đi. Vài ba đêm không thấy ai về thì má bồn chồn lo lắng. Còn Son thì nhớ. Nhớ anh Hiệp. Không biết mặt cha, anh Chung thoát ly khi Son còn nhỏ xíu. Lớn lên, quanh quẩn bên má, chỉ có hơi đàn bà. Son náo nức bởi một cái gì rất mới lạ mà không ý thức được...
Sau lần cứu thoát anh Hiệp trong gang tấc, Son thành đội viên tin cậy của tổ vũ trang tuyên truyền, do Hiệp chỉ huy.
Khoảng chín giờ tối hôm đó, bà con trên Xuân Lạc kéo nhau xuống xóm nhà thờ xem truyền hình về, không đi vào cổng chính, viên cảnh sát trưởng và một vệ sĩ mang súng, băng qua rào chỗ góc vườn. Son đon đả:
- Má ơi! ông cảnh sát trưởng tới thăm nè!
Nó chạy ra nắm tay viên vệ sĩ, người làng:
- Cậu Bảy, sao đưa ông cảnh sát trưởng đi ngõ này? Chó cắn ổng sao?
Con vàng xồ ra chồm lên sủa dữ dội. Con chó cũng lạ lắm, không ai dạy, mà nó biết ghét lính quốc gia. Còn anh Hiệp về thì nó khẽ vẫy đuôi, ư ử... Khi bọn chúng vào nhà, anh Hiệp đã lách cửa sau đi mất tiêu từ lúc nào rồi.
Từng ngày, từng đêm với giặc. Vậy mà, theo tháng, theo năm, tính tình, da dẻ, sắc diện của Son thay đổi rất nhanh, trắng trẻo, nở nang, tự tin. Mỗi lần đi về, nắm bàn tay mềm, Hiệp thấy bồi hồi và bối rối trước ánh mắt như có nước, như có lửa của Son nhìn mình...
Thế rồi tình hình ngày càng xấu đi. Đội du kích vũ trang thoát ly, bị trung đoàn lính Đại Hàn bao vây, hy sinh hết. Các nẻo đường từ chiến khu về, bị đánh chặn gay gắt, chúng dò la, rà xét từng nhà, sẩm tối gài mìn đạp, mìn clay-mo, trên những lối mòn nghi ngờ. Con Vàng vướng mìn ngay bờ rào vườn sau, bị thương nặng la ăng ẳng, thấy chủ luýnh quýnh chạy ra nó cố lết tới vẫy vẫy đuôi, rồi giật giật mấy cái nằm im. Son ấm ức khóc, lấy cuốc đào hố chôn con chó yêu quý gần bụi tre, đắp cho nó một nấm mồ nho nhỏ: - Vàng nằm đây canh chừng cho anh Hiệp nghe!
Mấy ngày sau bà Hai lại bị bắt giam ở Khám lớn. Tổ chức rút Hiệp đi. Hai người chỉ kịp nói lời yêu và hẹn chờ nhau...
Bà Hai vừa ra tù, viên cảnh sát trưởng đến chia buồn, đưa tấm ảnh thằng con trai của bà bị bắn chết. Nó bảo con bà đang chỉ huy đánh nhau với quân lực Cộng hòa trên Đồng Găng. Trước đó nó đã cho dân làng mỗi người xem một tí. Nhìn người nằm nghiêng bên bụi cây cỏ cạnh gò đất, lưng trần, mặc quần ka ki, chân co chân duỗi, da trắng, đầu húi cua trong tấm ảnh. Ai cũng bảo hơi mập, nhưng giống thằng Chung. Sấm sét cùng dòng thác lũ tràn bờ, con đê nén đau thương vỡ òa... bà ngất lịm. Lúc tỉnh lại bà rên rĩ khẽ gọi: Con ơi!... Chung ơi! Rồi ngất. Chết đi, sống lại không biết bao nhiêu lần...
Ngày tháng tang tóc nặng nề trôi. Bà khắc khoải đợi chờ thằng Hiệp, chờ đợi đàng mình, càng chờ đợi, càng rơi vào cảnh lẻ loi, cô đơn trong ngày đêm dày sâu thẳm. Sao chúng nó lặng lẽ bỏ bà mà đi!?
Mỏi mòn... Buồn... Bà uống rượu...
Khi chưa ngã bổ nhào, bà Hai nghêu ngao hát, bà con lànb xóm nghe hoài cũng thuộc theo: "Trời mưa ướt lá từ bi, ướt em, em chịu, ướt khẩu súng Mi** em buồn. Trời mưa ướt lá bông hường, ướt anh, anh chịu, ướt khẩu súng trường anh thương, "tiền tao, rượu tao, tao có cướp của ai đâu, mà bảo má con Son cứ say dài dài...", "Cơm ai mình sống, giống ai mình nên? Con tôi chết, nhưng nó chết vinh hơn sống nhục! Phải không ông cảnh sát trưởng?". Bà con ái ngại. Xã trưởng, cảnh sát trưởng nghe kiểu hát của bà gai gai, không dám chường mặt khi thấy bà từ xa. Nhưng chúng mừng thầm, thần tượng, linh hồn làng này suy sụp rồi. Ai còn dám theo Việt cộng?
***
Gặp Hiệp tại điểm hẹn, Son khóc, tưởng như chưa bao giờ được khóc, nước mắt tủi hờn, nhớ nhung, đau khổ tuôn trào. Hiệp ngồi như hóa đá bên cạnh người yêu, nỗi khổ của em không có gì đong, đếm được.
- Về lần này, rồi anh có bỏ đi nữa không?
Hỏi mà không dấu được sự dỗi hờn.
- Để đối phó với tình hình hiện nay, bọn anh phải bám trụ lại trong này.
Đến lượt Son lo lắng:
- Làm sao ở được hở anh?
- Đào hầm bí mật em ạ! Bọn anh bàn kỹ rồi. Đào hầm bí mật ngay nhà mình.
Im lặng... Son suy nghĩ lung lắm. Một lát sau:
- Nhưng bây giờ má khác rồi. Sợ không tỉnh táo khi say xỉn. Dễ lộ lắm.
- Em xuống Cửa Bé nói với chị Lòng lên mời má xuống dưới chơi, cho má khuây khỏa, chị Lòng quý má lắm, chắc được. Chỉ cần vắng má một tuần là mình xong hầm. Gỗ, nắp hầm đã có cơ sở lo sẵn. Cách đào, cách dấu đất mới, bọn anh tính kỹ rồi.
Khấp khởi mừng, rối bời lo, lặng lẽ làm những việc Hiệp dặn, Son đưa được má xuống Cửa Bé đúng ngày hẹn.
Hầm làm xong thì trời đổ mưa, nước thấm vào xâm xấp đáy hầm, muỗi, cóc, rết, các thứ côn trùng nhiều quá. Cứ sau mười hai giờ đêm, Son kín đáo xách sô xuống hầm vét nước, vét bùn, dọn dẹp. Cắn răng, tim đập thình thịch trước mấy con cóc, con rết...Mệt mỏi vì thiếu ngủ, vì căng thẳng, gáy, tai, mắt lúc nào cũng là mắt là tai, Song, Son phải tỉ mỉ từng việc, không được phép sơ suất, để lộ dấu vết. Vừa phun thuốc trừ muỗi, diệt côn trùng xong, sáng ra nhận tin báo, đêm anh Hiệp, anh Mười Công sẽ về. Chết rồi, theo kế hoạch thì ba ngày nữa kia mà. Nhưng bên ấy có dấu hiệu bị lộ, nên phải chuyển gấp về bên này. Lòng không yên khi hai anh xuống hầm còn nồng nặc mùi thuốc, nửa đêm mở hé nắp hầm làm ám hiệu, dưới hầm im ắng như tờ, Son bủn rủn tay chân. Trời ơi! Ngộ độc chết hết rồi! Son chui xuống, hai anh nôn mửa nhầy nhụa, nằm lịm, gấp gáp thở. Hoảng hốt, cô xốc nách kéo từng người đến cửa hầm, tựa lưng, dùng vai, đầu, đẩy, đội từng người lên, lôi vào nhà dưới, đặt nằm trên chiếc chiếu trải vội dưới đất, pha nước đường nóng, nặn chanh cho mỗi người uống một ly, cởi hết quần áo ướt, lau mặt, lau khô người, lấy đại hai bộ quần áo của mình và của má ra thay. Kịp hít thở không khí trong lành, cả hai dần hồi sức. Son lại xuống dọn hầm, lau khô tấm ván nằm, lấy mùng quơ khắp mọi ngóc ngách, quạt bớt hơi độc. Rồi lên ngồi gác cho hai anh ngủ gần tới sáng, mới xuống lại. Hú vía.
Ngày ngủ đêm đi, gần sáng trở về xuống hầm. Khổ nhất là ba tháng mùa mưa lụt, Hiệp và Mười Công phải ngâm mình trong nước cả ngày, hầm nhiều nước không khí ít đi, oi nồng ngột ngạt tưởng tắt thở. Gay nhất, là những ngày anh Hiệp bị sốt ác tính, khi nóng như hòn than, khi lạnh run tưởng như rung cả hầm, không ăn uống gì được, cứ nằm thiêm thiếp. Mười Công bảo:
- Anh khỏe, nằm chung một hầm, đè hết hơi của Hiệp, sợ nó không qua khỏi. Anh sẽ chuyển đi, em xuống nằm coi chừng nó. Một trai, một gái hơi trong hầm nhẹ đi, dễ chịu hơn. Cứ giữ liên lạc với anh theo đường giây.
Thương người yêu quá, không thể chối từ, Son lén má xuống hầm, nhiều lúc phải nằm đè lên người, ôm chặt Hiệp khi anh lạnh run bần bật. Theo hướng dẫn của một cơ sở là bác sĩ bệnh viện Nha Trang, Son học cách tiêm thuốc ký ninh Cinquante vào hai bên mông, cho uống thuốc bổ, sữa nóng, một mình loay hoay không dám nhờ cậy ai, bụng nghĩ dại rủi mũi kim trúng gân, bại cái chân chắc mình nuôi ảnh suốt đời!
Đang mơ màng, sau cơn sốt Hiệp nghe thoang thoảng đâu đây mùi hương dịu nhẹ, mùi hương quyến rũ quen thuộc,ai nằm cạnh mình mà da thịt mềm mại, êm mát...Lạ? Không phải da thịt, mùi mồ hôi của Mười Công. Anh mở mắt, cố chống tay ngồi dậy, trong ánh sáng lờ mờ, Hiệp nhận ra Son đang ngủ say, vồng ngực phập phòng, gương mặt như vầng trăng, sáng trong, thánh thiện. Trời ơi! Em tôi! Em mệt quá đây mà... Những giọt nước mắt nóng bỏng vô tình rơi xuống má Son. Son thức giấc, ánh mắt đen nhánh long lanh như có nước...
Mỗi lần viên cảnh sát trưởng tới, bà Hai rót rượu bảo:
- Tôi buồn, ông vui, rượu là bạn của người vui, bạn của người buồn, mời ông!
Viên cảnh sát trưởng không thể từ chối và không có gan ngồi lâu chịu trận. Sau khi hắn về bà ra vườn hái ớt, đuổi lũ chim quành quạch, chào mào đang ăn phá mấy buồng chuối chín bói, những trái mảng cầu ở góc nhà. Một hôm bà hỏi Son:
- Con không chờ được thằng Hiệp hay sao, mà tằng tịu với thằng nào, lén lút vào nhà này?
- Trời ơi má! Con có quen ai đâu.
- Sao chỗ chôn con Vàng có dấu?
- Tim Son giật thót, chống chế yếu ớt:
- Chắc dân vệ đấy má.
- Dân vệ đi, thì cỏ, cành rào vẹt nhiều kia. Con đừng giấu má!
Son sợ quá, kín đáo xóa dấu viết, bảo các anh thay đổi hướng đi về mà bụng lo lo.
Lần khác, bà bảo Son:
- Thằng Hai lâu nay chơi bời, cờ bạc dưới Nha Trang sao bây giờ đi bẫy cuốc, bẫy bìm bịp, quanh quẩn sau vườn, mấy hàng tre trong làng?
Son ngờ ngợ nhìn má, lòng băn khoăn, hay là má biết các anh đã về? Sau đó, lưới an ninh được triển khai. Hai bị bắt, thú nhận vì thua bạc thiếu nợ, nên nhận làm mật báo cho chi cảnh sát.
Bà Hai vẫn khi tỉnh, khi say, nghêu ngao hát: Trời mưa ướt lá... Gọi tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trả con cho bà.
***
Bọn lính bại trận Ban Mê Thuột, từ Phú Yên nháo nhác chạy về. Bọn cảnh sát, dân vệ rúm ró. Bất ngờ hai mẹ con viên cảnh sát trưởng tới nhà, bưng theo một cái khay có liễng trầu, chai rượu nhỏ, cái ly nhỏ. Hắn lễ phép rót rượu, khép nép đứng cạnh mẹ. Bà mẹ mời trầu bà Hai, sẽ sàng thưa:
- Con tôi lỡ dại mà có lỗi với cách mạng. Các quan tai to, mặt lớn, có xe, có máy bay tranh nhau chạy vào Sài Gòn, chạy sang Mỹ hết rồi. Tôm, tép thì bị bỏ lại. Lâu nay tôi vẫn răn đe nó, không được làm hại bà, làm hại con Son. Nay cháu nó có lời xin lỗi bà. Xin bà tha thứ cho cháu, có lời giúp với cách mạng. Tôi xin cắn cỏ, ngậm vành đội ơn bà!
Bà Hai nhai trầu, kéo vạt áo lên lau hai bên mép, chậm rãi nói:
- Ông bà mình dạy. Không phải một lần đạp cứt, một lần chặt chân. Tôi tin cách mạng cũng vậy thôi. Đánh kẻ chạy đi, không ai nỡ đánh người chạy lại. Đời còn dài; bà khuyên anh ấy tìm đường tốt mà đi, để hậu lại cho con cái!
Trung tá, đại tá về hưu các làng bên, xã trưởng cũng mang trầu rượu tới nhà. Cứ như bà Hai Việt cộng quan trọng nằm vùng...
Gần trưa ngày hai tháng tư, bà Hai tất tả về, gọi con cái:
- Son đâu con?
- Dạ. Con đây má.
- Bộ đội mình vào tới Nha Trang rồi! Lâu nay đứa nào ở dưới hầm bí mật, ngoài chuồng heo? Có phải thằng Hiệp không? Bọn nó đâu hết rồi?
Son vô cùng kinh ngạc, trân trân nhìn má.
- Trời phật ơi! Chẳng lẽ má... Dạ mấy ảnh đi thu vũ khí, tổ chức quân quản má à!
Vừa lúc Hiệp mang AK ùa vào:
- Anh Chung còn sống má ơi! Thư ảnh đây nè. Đoàn xe tăng của ảnh đang đi gấp vào Phan Rang...
Sững sờ trước cái tin vui quá đột ngột, bà Hai lặng đi, nước mắt sùi sụt, tới bàn thờ thắp ba nén nhang lầm rầm khấn vái rất lâu, nỗi lo trong lòng càng dâng lên gấp bội. Bởi... con bà còn đánh nhau… như trứng treo đầu đẳng...
Chừng ấy năm rồi, nhân ngày giỗ chạp, nhắc lại chuyện cũ, có người còn tưởng những năm ấy, bà Hai giả say...
Anh Hiệp con rể bà Hai xúc động thanh minh:
- Má say thật.
H.V.H
_____________________
* Nơi này trước có con tê giác, Pháp lên bắn chết lấy sừng
**Mitraillette - Súng tiểu liên, trong câu hò lơ thời chín năm.




