Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 15/04/2026 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Người miền Tây

Đ

ường quốc lộ từ cửa khẩu biên giới xuôi về đồng bằng đã khuất sau mấy lườn đồi. Tiếng xe cộ vắng bặt. Không khí ban mai ở đây tĩnh mịt. Dãi sương mù còn lãng đãng trên những ngọn đồi sân bay Tà Cơn.

Cu Nhon vác súng lách qua vạt cỏ lau rậm rạp. Lá cỏ sắc cứa vào da cổ, những hạt sương bắn tung tóe ướt đẫm hai bờ vai. Cu Nhon chẳng để ý để những vết xước rát da, cứ lầm lũi bước. Mắt vô hồn. Môi mím chặt.

Từ ngày biên giới mở rộng việc giao lưu, Cu Nhon ít ở bản làng. Anh lên hẳn miệt nguồn làm nghê khuân vác thuê. Tuy được tổ chức vào dân quân bản hẳn hoi, nhưng ít khi Cu Nhon ở nhà làm nương, làm vườn. Đồng tiền kiếm được dễ dàng trên cửa khẩu đã khiến Cu Nhon xa bản.

Thế nhưng, lần này Cu Nhon phải trở về. Mối thù dòng họ thúc giục Cu Nhon phải trở về. Quê hương giải phóng đã hơn mười lăm năm mà mối thù nhà chưa trả được, anh cảm thấy mắc tội với ông bà. Chính trên mảnh đất này, hai người chú ruột của Cu Nhon bị kẻ thù sát hại. Họ cùng ba người nữa bị bọn lính Trường Sơn-thuộc quận Hướng Hóa trói chặt khuỷu tay, và cùng bị đẩy xuống vực. Ngày ấy Cu Nhon còn bé, nhưng anh không thể quên những gương mặt đẫm máu của người thân, trên đoạn đường đi đến chổ chết cứ rắn đanh lại, bước chân đĩnh đạc như không hề biết run sợ là gì.

Người chết về trong giấc ngủ, đòi trả thù, nhưng ngày này qua năm khác, kẻ thù cứ trơ trơ ra đó, lòng Cu Nhon đau lắm.Kẻ thù mà ngày đêm Cu Nhon nguyền rủa chính là người chủ vườn hồ tiêu mà anh đang bước vào, người chủ của cả khoảng vườn cà phê rộng hơn một mẫu tây, tiếp nối với vườn hồ tiêu. Người ta gọi hắn là chủ trang trại, nhưng Cu Nhon coi hắn là con rắn độc cần trừ bỏ. Ngày quê hương được giải phóng, kẻ thù của Cu Nhon đi cải tạo ba năm ở trại Bình Điền. Sau khi được thả ra, hắn trở về vùng đất Khe Sanh. Hắn về bản được mấy ngày là bắt đầu vào công việc vỡ đất hoang, trĩa bắp. Trong khi mọi người qua cơn lửa đạn kéo nhau đi thu lượm vỏ đạn đồng, đồ nhôm phế liệu, kiếm tiền dễ như chơi thì hắn lăn trần ra cày cuốc. Mỗi lần gặp hắn đi qua, Cu Nhon chỉ cười mỉm. Đáng đời mày, tên quận phó, cho mày cứ bới đất qua ngày như con gà mổ giun. Rồi đời mày cũng sẽ chết rục vì đói vì sốt rét. Cu Nhon nghĩ thế đã thấy hả dạ. Ý nghĩ trả thù của năm ấy cứ nhạt nhòa. Thế rồi, mọi thứ phế liệu của chiến tranh cũng dần dà bị thu gom sạch. Người ta kéo nhau đi làm trầm, đi đào vàng, nhiều khi sang tận bên Lào, riêng Cu Nhon kết bạn cùng một đám trai trẻ kéo lên biên giới thồ hàng thuê. Cu Nhon tưởng rằng đã quên được kẻ thù. Thế nhưng, mỗi lần về bản, anh ta không khỏi ngạc nhiên. Tên quận phó A Nhai hồi trước vẫn bám đất rừng, mở mang lối làm ăn theo kiểu kinh tế mới như tên gọi phong trào lúc bấy giờ. Cu Nhon tưởng hắn và cả gia đình hắn sẽ chết rục vì đói, vì bệnh, nhưng số hắn vẫn sống dai.

Mấy ngày nay, bụng Cu Nhon như lửa đốt. Hình ảnh kẻ thù nay đang sống nhởn nhơ cứ hiện lên như trêu ngươi. Ý định trả thù của anh ta được nung nấu từ lâu. Không phải trong số bạn bè của anh, không có người biết. Nhiều người khuyên can Cu Ngon ai có tội có nợ đã có chính phủ phán xử, giết người là phạm pháp. Đã hai lầm Cu Nhon vác súng về bản định trừ khử kẻ thù, nhưng cả hai lần đều không thành vì gặp dân quân đi tuần đêm, họ phát hiện ra sự xuất hiện bất thường của Cu Nhon. Lần này thì anh nắm chắc mọi việc xong xuôi. Tay chủ trang trại này thường đi thăm vườn buổi sáng sớm, trước khi người làm thuê đến nhận việc.

Cu Nhon đoán không sai. Vừa tới vườn tiêu, bước sang vườn cà phê rậm rạp, anh ta đã nhác thấy bóng A Nhai đi giữa vườn. Cùng đi, có một người Kinh có lẽ là cán bộ bảo vệ cây trồng. Cu Nhon nép mình sau một tán lá cà phê sum suê, quan sát kĩ mọi động tĩnh của kẻ thù. Cái dáng người cao lớn kia không lẫn vào đâu được. Ở một khoảng cách không xa,Cu Nhon còn nhận ra hai bắp tay lực lưỡng của hắn. Anh chăm chú nhìn vòng ngực nở nang của hắn. Cái kẻ cả một đời ăn trên ngồi trốc mà có được một thân hình vạm vỡ như A Nhai, kể là sự lạ. Mục tiêu này không thể bắn trật. Cu Nhon lên đạn, nâng súng, nhẹ nhàng tì vào vai. Hai bóng người đi sát nhau, vừa đi vừa nhìn vào những chùm cà phê đỏ ối, trĩu cành. Cu Nhon rê mũi súng, chỉ chờ lúc hai bóng người tách ra là bóp cò. Anh đã tính trước, hạ xong kẻ thù của dòng tộc, chỉ cần anh phóng ngang vườn cà phê, lĩnh được vào rừng là mọi chuyên êm xuôi.

Mũi súng của Cu Nhon đã bắt được mục tiêu, chững lại. Cu Nhon nheo mắt, thoáng nhớ lại rất nhanh hình ảnh của hai ông chú bị giết để dồn nén nghị lực vào phát súng sắp nổ. Bỗng, Cu Nhon thấy lành lạnh ở bắp chân như có con rắn trườn qua. Anh nhổm dậy, quay phắt lại. Đầu anh gần nhưn chạm sát vào một khuôn mặt già nua, nhăn nheo, sạm nắng.

- Ơ! Ông Roi!

- Tau đây- Ông già lên tiếng, giọng cố ghìm lại.

- Sao ông biết tui ở đây?

Ông Roi không trả lời, lặng lẽ kéo tay Cu Nhon đứng dậy. Cánh tay ông cứng như kìm sắt. Cu Nhon đành phải làm theo ý ông, không thể nào khác. Ông Roi cầm lấy khẩu súng từ tay Cu Nhon. Ông tháo đạn, mắt nhìn chằm chằm vào mắt anh chàng trai trẻ chưa đến ba mươi lăm tuổi. Ông bảo :

- Giết người là không tốt. Đi theo tau.

Ông kéo Cu Nhon luồn qua vườn cà phê, đi vào rừng. Cu Nhon cự.

- Việc tui, tui làm, can cớ chi ông cản tui?

- Về mà trình bày với xã đội. Không nhùng nhằng ở đây.

Cả hai người vào bản, đến ngay ngôi nhà sàn của xã đội trưởng. Ông Roi hú một tiếng, chờ cho chủ nhà ló ra ngoài cửa, vội nói :

- Việc anh giao cho, tui đến kịp thời. Này, giao Cu Nhon cho anh !

Nói xong đi thẳng. Xã đội trưởng là một người quá bốn mươi tuổi, tóc cắt ngắn, mình chắn lẳn. Thoạt nhìn, dễ nhầm Cu Nhon là anh em ruột với ông ta. Ông nắm tay Cu Nhon dắt anh lên sàn. Chai rượu, ấm chè đã sẵn. Ông nói :

- Thoáng bóng Cu Nhon mang súng về bản, mình đoán có chuyện nên mới nhờ ông Roi dõi theo. Quả nhiên đúng. Vậy ra bao nhiêu lời khuyên giải của cán bộ, của người già người trẻ Cu Nhon bỏ ngoài tai hết.Cu Nhon nhất mực gây tội ác để đi tù chắc?

Cu Nhon dẫy nẫy :

- Nhưng mà thù sâu, oán nặng, tui phải xử hắn.

- Giao súng cho mi để mi bảo vệ bản làng. Không phải để cho mi làm bậy.

- Đi đòi nợ máu, nợ đầu, sao bảo là làm bậy?

- A Nhai đã từng có tội với dân, nhưng đã chịu cải tạo thành người lao động, lại có đầy đủ quyền công dân, không thể coi ông ta như kẻ thù. Đầu óc mi tối lắm, Cu Nhon à!

Cu Nhon bỗng nhiên nằm vật xuống sàn, hai tay giăng ngang, nói giọng tức tưởi :

- Anh là bà con cùng dòng họ mà nói vậy, thì tui trả súng cho anh đó. Đừng coi tui là dân quân nữa.

Xã đội trưởng vẫn giữ nguyên vẻ điềm đạm :

- Nói thù Mỹ ngụy thì ở bản ta không có ai thù sâu như A chuôi Mờng. Mi cứ đến gặp A chuôi rồi sau đó mi muốn bắn giết ai, tùy ý. Đi đi, được chưa?

Nghe nhắc đến tên A chuôi Mờng, Cu Nhon sực tỉnh, ngồi dậy ngay ngắn, hỏi xã đội trưởng:

- À, mà mấy mùa lúa nay, tui không thấy A chuôi Mờng ở trong bản. A chuôi Mờng thoát chết cái lần hai ông chú tui bị giết. Tui phải đi gặp mới được.

- Chịu khó lên Nguồn Rào mà hỏi.

A chuôi Mờng có mớ tóc bạc, hai hàng lông mày cũng bạc. A chuôi nằm dài trên võng. Từ những ngày bị giặc tra tấn dã man vì tội đi làm Việt Cộng. A chuôi chuyên nằm võng. Cả bản coi A chuôi là già làng. Lời nói của A chuôi có sức mạnh thuyết phục mọi người. Vừa thoáng thấy Cu Nhon lấp ló ở cửa nhà sàn, A chuôi lên tiếng :

- Lại thằng Cu Nhon phải không? Mi còn đòi giết A Nhai nữa hay thôi?

- A chuôi đoán cái bụng tui giỏi quá.Cán bộ biểu tui đến gặp A chuôi cũng vì chuyện đó thôi.

A chuôi nắm tay Cu Nhon, kéo anh ngồi xuống mép võng, nói chậm rãi:

- Nghe nói mi lên biên giới tiếp tay cho bọn buôn lậu, già buồn lắm. Trở về bản, lo làm ăn đi. Gắng mà vỡ đám ruộng, nuôi con bò, theo bà con mà sống. Mi thù A Nhai quá dai, bây giờ hãy mở mắt ra mà làm theo A Nhai.

Cu nhon giật nẫy người :

- Tui mà phải học hắn.

- Chớ sao! Hắn trở về với hai bàn tay không. Vậy mà hắn chịu khó lầm lũi làm ra ngô, ra sắn. Hắn biết cách trồng cỏ nuôi bò lai Xinh, bây giờ không có đến dăm chục con trong chuồng ư? Đảng bảo mở mang kinh tế, hắn làm theo, mở vườn hồ tiêu, vườn cà phê, biến vùng đồi hoang thành trang trại. Hắn tôn trọng pháp luật, nghe lời cán bộ. nghe lời già làng, mi không thấy ư?

Cu Nhon nắm lấy tay A chuôi :

- Tui đến đây không phải vì việc đó. Tui đến để nghe chuyện của A chuôi cùng hai ông chú tui ngày trước. Cán bộ nói A chuôi có thù với giặc nặng hơn mọi người, tại sao A chuôi lại khen A Nhai?

- Tại sao ư? Vậy thì để già này kể cho mi nghe chuyện cũ ngày Mĩ-ngụy còn đè đầu cưỡi cổ dân ta. Chuyện hơi dài đấy, mi có chịu khó nghe hết không?

- Tui xin được nghe.

Chuyện của hai ông chú bị Mĩ-Diệm sát hại. Cu Nhon nghe không khác những gì đã được biết từ những ngày ấu thơ.Chỉ có chuyện A chuôi bị bắt, bị tra tấn, lần này Cu Nhon mới tỏ đầu đuôi, ngỡ như mới toanh.

A chuôi vừa kể vừa nhìn ngược lên mái sàn nhà, giọng nói thều thào, kkhi thoảng khi trầm như cất từ một cõi xa vời vợi nào đó.Có lúc đôi mắt của A chuôi nhắm tít lại như đang giấc ngủ trưa hè.

Trong phòng làm việc của bọn tề ngụy ấp chiến lược được biến thành phòng tra tấn dã chiến. Tên thiếu tá ngụy mặc quần áo rằn ri hất hàm hỏi A chuông ngồi dưới đất, tay bị trói chặt”

- Ông già khai đi. Ai xui ông viết tên ông Hồ Chí Minh bỏ vào thùng phiếu năm bầu tổng thống?

- Tự tui nghĩ, tui làm, không ai xui tui hết.

- Ông đừng có chối, chính ông đã lên Tà Rụt dẫn đường cho 7 sĩ quan quốc gia đi vào Thừa-Thiên. Giữa đường, ông hợp với dân Pa Cô giết sạch. Nói đi, tên Việt Cộng nào sai khiến ông?

A chuôi vẫn một giọng trầm trầm, chắc nịch “

- Người Vân Kiều và người Pa Cô là một, việc chi phải có người sai bảo. Ông biết đó, người Vân Kiều bầy tui mang họ Hồ.

Tên thiếu tá nổi khùng:

- A! Ông quyết chết thì ta cho ông thỏa chí !

Hắn đứng phắt dậy, gọi giật giọng”

- Trung sĩ Môn đâu!

Từ ngoài cửa, một tên trung sĩ cảnh sát dã chiến, mặc quần áo rằn ri chạy xô vào. Theo chân hắn một tên lính mặt đen lễ mễ khiêng một chiếc hòm đựng toàn ống nhôm tròn. Trong nháy mắt, những bàn tay giết người lành nghề lắp xog một chiếc thang bằng ống kim loại,có đinh vít, bu loong gắn chặt những mối nối. A chuôi chưa kịp nghĩ ra đó là cái trò gì thì đã bị chúng xóc nách, lột áo, đần ngửa lên chiếc thang, 2 tay và 2 chân bị khóa chặt luôn vào đó bằng những chiếc ngoàm cũng bằng nhôm. Hai tên ác ôn nhấc cả thang lẫn người tới sát góc tường trong cùng, gác hai đầu thang lên hai chiếc ghế. Xong, chúng ra khỏi phòng một lúc, khi trở vào nghe tiếng bước chân rất nặng. A chuôi nằm ngửa, không biết được chúng đang khiêng gì.

Tên thiếu ta kéo ghế ngồi sát đàng đầu A chuôi, mắt nhìn lạnh lùng.

Không hề động đậy, A chuôi ngước mắt nhìn chằm chằm vào mặt hắn. Bỗng dưng nghe nóng rát dưới lưng như phải bỏng.A chuôi bất giác ưỡn người lên nhưng những chiêc vòng khóa đã giữ chặt thân thể của A chuôi vào mặt thang.” Lửa! Lũ hắn định giết ta bằng lửa!”. A chuôi định thần lập tức. Hai tai của A chuôi đầy ắp tiếng ù ù của chiếc quạt máy quay tay. Thì ra tiếng con diều đói gió lúc nãy là do mấy thằng này làm ra.Lũ mày lấy lửa thui tau để bắt tau mở miệng, đừng hòng! Lũ mày chưa biết người Thượng, đáng mặt dân Vân Kiều, lội nước không trôi, lửa đốt không cháy. Cứ giết tau đi, đừng hòng uốn được cái lưỡi của tau! A chuôi cố ghìm mình lại, không để cho cái lưng, cái đùi giẫy lung tung. Mồ hôi trán vã ra, mồ hôi ngực vã ra, nhưng đôi mắt của A chuôi cứ nhìn trừng trừng, trên lòng trắng hiện lên những hằn máu chất chứa căm giận.

Lò lửa cháy phừng phừng. Qua hơi nóng run rẩ, A chuôi nhìn thấy hình những con cọp vằn trên áo mấy tên lính, giống y những con cọp mà cánh nỏ của A chuôi đã phóng mũi tên thuốc độc bắn chết dạo trước. A chuôi đưa lưỡi liếm mép, không còn nghe mằn mặn nữa. Đầu lưỡi chạm vào đôi môi bỗng thấy bỏng rát khi đụng phải những vết nẻ.

Tên thiếu tá chồm cả hai tay xuống mặt ghế, đầu tóc rũ xuống, đôi môi hung ác rên lên vì tức giận trước sự im lặng dễ sợ của già làng Vân Kiều

Hắn rít lên:

- Nói đi! Tên Việt Cộng nằm vùng trốn ở đâu? Ở nhà nào?

A chuôi đã quyết định không trả lời tên giết người câu nào. Trong đầu óc nửa tỉnh nửa mê, lửa giận còn nóng hơn lửa than. Lòng căm thù bốc hẳn lên trời. Tau giết lũ hắn đó. Can cớ chi lũ hắn xông vô ấp Tân Hiệp, đâm chém một lượt chín mươi hai mạng người? Có lẽ giết hết lũ bay đi, dân Kinh, dân Thượng mới hả dạ như con nai gặp đợt giành non. Ý nghĩ của A chuôi cũng lững lờ trôi đi như dòng sông lặng lẽ.

Một đời ta, chân ngoài rừng, tay trong nhà, có cái khổ mô.cái sướng mô chưa từng trải qua? Thằng Tây ngày trước bắt người Vân Kiều chết đứng như cây lách, chết rạp như cỏ gianh. Ai có khổ mới quý cuộc đời thênh thang ngày Việt Minh. Tiếng tăm cụ Hồ bay qua chín đầu đèo, bay qua mười con nước. Người Thượng, người Kinh cùng một mặt trời,sống với nhau như gió với rừng già, trăm hòn đá nặng đè lên lưng trút đi cùng một lúc, quả héo khô nhúng nước lại tươi.Có thiếu cơm đào củ sắn, có thiếu muối đốt có gianh ăn cũng sướng cái miệng. Lũ Mĩ Diệm ác hơn con cọp dữ, ác gấp trăm lần thằng Tây. Lũ bây không biết rằng người Vân Kiều đã ngửng lưng rồi thì không cúi xuống nữa. Ta chỉ hận chết mà chưa được thấy cái đất nước ông bà sạch bóng quân Mỹ-Diệm, chết mà chưa được thấy mặt cụ Hồ.

Trong đôi mắt A chuôi như có dòng sông múa lượn, ngọn nước đổ xuống vực thẳm, tung bọt trắng xóa. Những bọt nước bay lơ lửng lên tận trời cao, biến thành những vì sao lấp lánh.

A chuôi sắp sửa đi vào cơn mê bỗng nghe tiếng vó ngựa vang ngoài cổng nhà hội đồng. Quận phó Khe Sanh là A Nhai bước vào nhà việc.Tên thiếu tá ác ôn lúng túng đứng dậy, lập nghiêm chào. A Nhai nói ngay :

- Đối với người dân tộc, quý vị tổ chức “ tố cộng” y như dưới đồng bằng. e không xuôi. Tui thấy quý vị đã quá tay.

Tên thiếu tá cố chống chế :

- Thưa ông quận phó, luật 10-59 có tư vị ai. Không thẳng tay, làm sao ai trị nổi.

- Ngài thẳng tay tức là dứt khoát đẩy người ta theo Việt Cộng. Người Vân Kiều tuy sợ máu, nhưng một khi đã đổ máu thì chỉ có máu mới rửa được hận thù. Đáng tội chết, ngài xử chết, việc chi phải hành hạ người ra dữ rứa?

- Tui có dùng biện pháp mạnh tay cũng chỉ đem lại lợi ích cho quốc gia, Tui có quyền.

A Nhai cắt ngang:

- Ngài nói đến quyền, thì tui cũng xin nói đến quyền. Trước hết, sắc luật thành lập Bộ sắc tộc và ty Thượng vụ có nói đến quyền hạn của các cơ quan công lực này đối với những vụ án liên quan đến người dân tộc. Vậy mà việc ngài làm, ty Thượng vụ không biết. Tui là đặc ủy viên sắc tộc Tây phần cũng không được tham chiếu ý kiến. Ngài nghĩ răng?

Tên thiếu tá tím mặt, không nói thêm được câu nào.

A Nhai vẫn chưa buông tha:

- Việc mấy người Vân Kiều bị bắt ở bản Cheng, quý vị đã đi chệch phương sách phát triển dân tộc của các ngài cố vấn. Ngài bảo tui báo cáo ngõ mô cho êm?

Tên thiếu tá xuống giọng:

- Tùy ngài định liệu việc này.

- Ý tui là vậy: Việc lập ấp chiến lược, đã có chủ trương của tòa hành chính tỉnh, quý vị cứ mần.Còn những người Vân Kiều bị bắt, ngài giao cho tui. Ngài không thể hiểu người dân tộc bằng tui mô!

Lần ấy A chuôi thoát chết, nhưng mang tật đển bây giờ.

A chuôi ngừng kể, nói với Cu Nhon :

- Già thuật lại cho mi nghe chuyện cũ, không phải để khen A Nhai đâu. Hắn đi theo Mỹ là có tội với đất nước, với ông bà.Tội của hắn đã có chính phú định đoạt. Già chỉ nhắc mi một điều là trong người hắn còn có dòng máu Vân Kiều. Hắn còn nghĩ đến dân tộc Vân Kiều nên mới quay lại bản làng ta. Chuyện thù oán là của cả đất nước.Ta đánh Mý- ngụy giành lại được đất nước là trả xong mối thù lớn rồi. Nay vận nước đổi khác, mi phải biết nghĩ, biết làm cho phải phép chớ! Mi cứ buộc mình vào thù oán riêng tư thì bao giờ mới sáng mắt ra.

Cu Nhon đưa cả hai bàn tay nắm lấy cánh tay ông già, nói :

- Tui hiểu rồi, tui xin nghe theo lời A chuôi.

- Được, mi là dân quân được phát súng. Kẻ xấu, kẻ ác còn rình rập khắp nơi dọc miền biên giới này. Súng của mi chỉ được dùng để bảo vệ dân bản.

- Tui nhớ lời A chuôi từ nay không làm bậy nữa!

Cu Nhon thấy ông già nhắm nghiền mắt, tưởng ông ngủ, vội giơ tay đưa võng nhẹ nhàng. Không ngờ, A chuôi như choàng tỉnh, vẫy Cu Nhon lại, ngồi sát bên ông, hai người gần như chạm mặt nhau. Ông già thủ thỉ lời tâm sự:

- Kể chuyện đi theo con đường cách mạng thì mi cũng đã đeo đuổi được vài chục năm. Nhiều người đi trước mi đã tham gia được bốn, năm chục năm. Bẻ que mà tính phải được hàng bó. Kể cũng khá. Vậy mà nhiều người vẫn chưa nắm được cách làm ăn mới ở thời buổi mới do cách mạng chỉ bảo. Lắm kẻ còn đánh bạc, uống rượu, có kẻ còn trộm cắp.Như mi đây cũng chỉ biết gùi hàng thuê. Già cứ ngẫm mãi điều này : A Nhai mới được trở lại làm người dân thường có mười lăm năm nhưng đã hăng hái theo cách làm ăn ở thời buổi mới. Mi có xứng với cha ông, với chính mi không? Mi cứ suy nghĩ lời già nói hôm nay rồi sửa lại cách làm ăn đi. Người già nói thẳng những điều mình đã ngẫm nghĩ hàng tháng, hàng năm, đừng giận nhé!

                                              ***

Từ sau ngày lên Nguồn Rào gặp già làng trở về, cuộc sống của Cu Nhon thay đổi hẳn. Anh bỏ nghề khuân vác thuê trên cừa khẩu biên giới. Xã cho anh nhận khoán một khoảnh rừng. Anh không trồng lúa nương như mọi nhà, mà chuyên gieo đỗ, trúng mấy mùa liền. Một hôm A chuôi Roi là trưởng bản đến nhà anh rất sớm, A chuôi nói :

- Đất rừng nhà mi khá rộng, thả bò được đó.

Cu nhon rót rượu mời người già, trả lời giọng ngao ngán :

- Nuôi bò phải có vốn bạc triệu. Lấy tiền đâu ra, hở A chuôi?

Đôi mắt ông già nheo lại đủ lọt qua ánh nhìn lấp lánh:

- Cán bộ đã có lời trao đổi với chủ trại A Nhai rồi. Ông ta hứa sẽ giúp Cu Nhon một con bò lai Xinh.Lúc nào bò đẻ ra bê con mới phải giã lại. Ổn không?

Cu Nhon giãy nảy lên:

- Ấy chớ! Của ai thì khỏi nói, còn của A Nhai thì tui xin từ.

Giọng ông già trở nên ranh mãnh, có pha chút chế giễu:

- Của kẻ thù nên mới từ chối, phải không?

- Không, không phải thế, tự tui lo được.

Lần ấy, Cu Nhon khước từ lời gợi ý của già bản là có lý do. Xã có quỹ xóa đói giảm nghèo lại có quỹ trồng cây gây rừng, những người như Cu Nhon, có bố là liệt sỹ thời chống Pháp, hai chú là liệt sỹ thời chống Mỹ, được chiếu cố là lẽ thường. Vả lại trong sâu thẳm lòng mình,Cu Nhon còn cay câu nói của A chuôi Mờng “ Mi có xứng với cha ông mi, với chính mi hay không? “. A Nhai có cách làm ăn của A Nhai thì Cu Nhon cũng có cách làm ăn của mình, chẳng chịu kém. Những ngày thường đi lên đi xuống cửa khẩu, Cu Nhon để ý thấy đồng bào Triệu Phong và Gio Linh lên lập nghiệp ở vùng kinh tế mới, nhiều nhà đào ao thả cả rất trúng. Vậy là anh thuê thợ máy gạt, máy xúc thường đi qua nhà giúp anh đào hai cái ao to kề con suối chảy qua chân rừng.Anh quyết tâm nuôi cá. Cu Nhon nhắm ra cách làm ăn của A Nhai có hai điểm mấu chốt. Một là chọn giống cây, giống con sinh lợi nhất; hai là chịu khó học hỏi cán bộ kỹ thuật nông nghiệp, lâm nghiệp, cán bộ bảo vệ cây, con theo từng ngành. Đôi lúc Cu Nhon tự nhủ thầm : “ Quãng đời khuân vác thuê chẳng ra gì nhưng cũng giúp mình mở rộng tầm mắt, mở rộng sự giao tiếp”. Anh đã tính nuôi giống cá gì để đủ sức cạnh tranh với mặt hàng cá biển ở dưới xuôi lên. Vì vậy anh chọn giống cá trê phi, ca chim trắng, có loại phải đặt mua từ ngoài bắc.Chỉ sau mấy vụ cá, Cu Nhon gây được vốn. Thấy khắp nơi người ta phát triển nuôi cá ao, anh chuyển sang nuôi và bán cá giống. Lại trúng tiếp. Bấy giờ anh mới tính chuyện lấy ngắn nuôi dài. Cu Nhon dọn mấy héc ta đất rừng trồng bạch đàn. Không phải giống bạch đàn thường gặp dưới thị xã Đông Hà hay ở Ba Lòng. Bạch đàn cao sản giống Úc hẳn hoi, loại cây trưởng thành nhanh, cây to và thẳng.Anh cán bộ lâm nghiệp, người đã giúp Cu Nhon đi lùng mua cây giống bạch đàn cao sản đã phải thốt lên khi thấy vườn cây đã bén rễ:

- Của chìm hàng mấy trăm triệu gửi ngoài rừng là vườn cây này đây!

Dẫu biết rằng tài sản của mình chỉ bằng một ngón tay của A Nhai, nhưng trong bụng Cu Nhon hả hê lắm. Anh đã đi đúng hướng. Bốn đứa con anh đều được tiếp tục đến trường.Thằng Nhìn, mười lăm tuổi, sắp lên cấp ba. Con Then, mười ba tuổi đang học cấp hai.Còn hai cậu con trai đang theo cấp một. Anh chia việc cho các con ngoài giờ học. Đứa nào cũng thạo một công việc chăn nuôi hay trồng trọt. Một hôm, cái Then đi học về muộn, kể lại với mẹ:

- Mẹ ơi, trách chi đàn bò nhà ông A Nhai béo tốt thế. Ông ấy giành một bãi đất để trồng cỏ lùng, giống cỏ cao ngang vai con đây này. Chẳng phải giống cỏ hoang như ngoài bờ nương đâu.

- Làm sao con tỏ tường chuyện nhà người ta thế?

- Mẹ quên rằng bạn Mai con ông A Nhai học cùng lớp với con ư ?

Cả nhà nghe xong câu chuyện cỏ giả liền cho qua, nhưng Cu Nhon chợt nảy ra ý nghĩ: “ Hàng trăm nhà dọc đường quốc lộ có nuôi trâu bò, làm gì có đất chăn thả? Họ thường phải mua có đó thôi!Ta phải trồng cỏ, bán được tiền đó”.Cu Nhon nghĩ ngay tới hàng loạt hố bom B52 đầy rẫy khắp vùng chiến trường ác liệt khi xưa, nay còn đó, chẳng ai lấp xuể. Anh nhớ tới một người bạn đã từng làm trong một trại chăn nuôi trâu của nhà nước,anh ta đã từng kể với anh về giống có Păng-gô-la, loại cỏ thân cao như bụi lau non, năng suất gấp hai giống cỏ lùng. Vậy là chẳng bao lâu, Cu Nhon lùng ra được giống cỏ Păng-gô-la về trồng kín bao nhiêu hố bom. Kỹ thuật chăm sóc nhờ cán bộ khuyến nông chỉ bảo. Đến lứa cắt, cỏ chẳng phải đem đi đâu bán. Tự người cần mua tìm đến. Một hôm có một tốp trai trẻ đẩy bốn xe ba gác đến trước cửa. Hỏi ra mới biết đó là người của trang trại A Nhai đến mua cỏ cho bò.

Khi mấy chiếc xe đã chất đầy cỏ, nhận tiền xong, Cu Nhon xoa tay bảo một cậu con trai:

- Em về nói lại với ông A Nhai, đàn bò của ông có tăng gấp đôi, qua đây vẫn đủ cỏ.

Thực ra trong lòng Cu Nhon đang cười thầm:”Lão ni không biết thẹn”.Y nói A Nhai đã nhận thua một điểm.

                                                    ***

Một buổi sáng trời âm u, Bí thư Huyện ủy Tử An đánh xe về bản Cheng, dừng ngay trước cửa nhà trưởng bản Roi. Vừa bước chân lên sàn, Tử An ngạc nhiên thấy già làng là A chuôi Mờng đã có mặt ở đó từ bao giờ. Chiếc võng của ông được móc vào hai đầu cột cứ đung đưa nhè nhẹ. Tử An lên tiếng, vẻ từ tốn:

- Kính chào già làng, kính chào trưởng bản!

Già Roi mời khách ngồi cạnh chiếc võng, phân bua:

- Trước đây tui có kiếm được một chiếc mật gấu, nhắn tin lên Nguồn Rào sẽ mang biếu A chuôi Mờng. Không ngờ, hôm nay cụ bảo con cháu cõng xuống thăm. Tui thật là mắc lỗi!

Bây giờ A chuôi Mờng mới nhúc nhích trên võng, ngắt lời ông Roi:

- Chẳng phải vậy mô, cán bộ à. Tui về bản để coi lâu ngày có gì mới không. Nghe nói cháu Cu Nhon làm ăn nên chuyện, tui đến đây để dò ý già bản đây có đưa hắn vô diện sản xuất giỏi không. Có vậy thôi.

Bí thư Huyện ủy xoa tay đáp:

- Cảm ơn A chuôi đã quan tâm tới phong trào địa phương. Thưa già, so với tám trang trại đã có từ trước trong huyện ta thì cơ ngơi của Cu Nhon cũng đáng xếp hạng. Hôm nay tui xuống bản Chưng cũng muốn bàn với già Roi về chuyện chọn điển hình sản xuất. Có khi bản ta chấm được hai người.

Cả ba người vừa nhắc đến tên A Nhai, thì A Nhai xuất hiện thật. Ông ta đi chiếc xe Mô kích đỏ chói. Cầm tập tài liệu trên tay, ông lên sàn chào mọi người. A Nhai vóc dáng đậm đà, cao trên một mét tám mươi, bận bộ quần áo ký giả vừa thoáng vừa gọn. Gương mặt ông ta đầy đặn, đỏ au, nếu không có chiệc mũi hơi tẹt của người miền núi, dễ thường người mới gặp cho ông ta có nguồn gốc châu Âu.

Không đợi hỏi, A Nhai thưa trước:

- Tui làm giấy tờ xin ngân hàng vay tiền, trước khi lên xã, lên huyện, tui xin ông trưởng bản xác thực.

A chuôi Roi cười đáp:

- Ông A Nhai cũng làm cho phải phép đấy thôi, chứ ông đã mấy lần vay tiền ngân hàng, lần nào cũng trả đúng hẹn. Lần này, ông vay tiền làm gì, ta?

- Tui định sắm thêm chiếc máy xới đất, vài chiếc máy chọn hạt hồ tiêu, hạt cà phê với lại lắp hệ thống phun nước tưới cho cây.

Nghe chuyện trao đổi giữa hai người đến đây, Bí thư Huyện ủy Tử An lên tiếng nói:

- Cà phê rớt giá thảm hại mà ông cố lao tới ư?

A Nhai đáp:

- Cái cốt lõi là đầu ra của tôi rất đảm bảo. Quả là cà phê đang rớt giá, nhưng trong ba loại cà phê chè, cà phê vối, cà phê arabica,loại của tui đứng đầu bảng. Khách hàng Đài Loan và Xin-ga-pore thông qua đối tác của tui ở thành phố Hồ Chí Minh vẫn đều đặn đặt hàng.

- Ờ, có thế ông mới kham nổi hàng chục công nhân thường xuyên và hàng trăm người nhận việc thời vụ. Đó cũng là góp phần xóa đói giảm nghèo giúp địa phương.

Câu chuyện tà tà lại tiếp tục bên bàn trà. Chủ nhà định với tay lên sàn bếp lấy xuống chai rượu đãi khách với thịt nai khô thì A Nhai vội xua tay:

- Khoan, khoan. Tui có mang theo thức uống hay lắm. Xin chờ cho một chút.

A Nhai vội bước xuống sàn, xách từ giỏ đèo hàng một chiếc bầu khô tròn trĩnh.

- Bầu rượu đặc biệt này được mời cán bộ huyện và hay A chuôi, thật là một dịp may cho tui.

- Rượu Tây hay rượu Tàu đó? – A chuôi Mờng bây giờ mới lên tiếng. A Nhai xoa hai bàn tay, thưa:

- Đây chính là rượu tu-va của đất rừng, ông bà ta quen dùng đấy ạ.

- Rượu cây đoác phải không? – A chuôi Mờng sáng mắt lên.

- Đúng ạ. Tự tay vợ tui cất lấy.

Rượu tu-va không nồng, không cay mà đem lại cái say nhè nhẹ, lâng lâng. Rượu rót vào từng chiếc bát. Mọi người cùng uống vui vẻ, nhớ lại những ngày lễ hội của ông bà ngày xưa. Riêng Bí thư Huyện ủy Tử An nhớ lại những ngày chống Mỹ ở ngoài rừng, thỉnh thoảng được uống rượu tu-va. Phải rồi, lâu lắm rồi, những ngày chui lủi khắp bờ này bụi nọ. Mặt bắt đầu ửng hồng,mọi người cười nói vui vẻ. Chợt Tử An cầm lấy bàn tay A Nhai, cười nói:

- Ông có nhớ ngày trước ông treo giải mạng sống của tui một trăm ngàn đồng không?

 Già bản Roi nháy mắt để theo:

- Xẹp như tui cũng được giá hai chục ngàn.

A Nhai líu ríu đáp:

- Nhắc chi chuyện hồi cũ. Tội tui đáng mười lần chết, cách mạng để cho sống là ơn.

Tử An cười :

- Nói cho vui thôi, bụng A Nhai đen hay trắng bà con đã rõ. Mừng cho ông.

- Ngày tui mới ra trại cải tạo về đây, cán bộ đã bảo ban nhiều điều hay lẽ phải, tui không dám quên. Kể cả điều ông Bí thư Huyện ủy đây dặn dò đề phòng kẻ xấu móc nối, tui cũng nhớ nằm lòng.

A chuôi Mờng ngóc đầu dậy uống cạn bát rượu, nhìn thẳng vào A Nhai nói:

 - Ông đã bước theo con đường thẳng. Cứ thế mà đi. Tui khen đó.

- A chuôi Mờng nhớ lại thằng bé A Nhai ngày trước.

A Nhai vốn là con trai của một gia đình Vân Kiều trong khu vực đồn điền cà phê của mụ Rôda. Bố ông là một trai bản khỏe mạnh. Chồng mụ Rôda tuyển ông vào làm việc trong dinh cơ của chủ sở và dạy cho nghề lái xe. Mụ đầm trẻ chán lão Tây già bắt mê người lái xe. Trong một chuyến bố A Nhai lái xe dẫn vợ chồng lão chủ đi chơi tận bên Lào, giữa lúc cả ba người dừng lại nghỉ chân trong rừng,có một con hổ xông tới. Lão pulanh hãi quá bỏ chạy. Bố A Nhai sẵn súng mang theo hầu chủ đã bắn chết con ác thú. Người ta bảo rằng vì chuyện ấy mà mụ Rôda ly dị chồng.Mụ lấy luôn người lái xe. A Nhai còn nhỏ, được mụ chủ nuôi. Chẳng bao lâu, mụ cho A Nhai sang Pháp. Năm năm sau, A Nhai trở về lúc thực dân Pháp đã quay trở lại Đông Dương. Mụ Rôda giới thiệu con nuôi gia nhập quân đội chiếm đóng. A Nhai đóng lon thiếu úy, chỉ huy một đại đội pạc-ti-dăng đặc trách bảo vệ chuỗi đồn điền trong vùng. Đông xuân 1953-1954, đồn Tây ở Lao Bảo bị vây lâu ngày, rút chạy sang Lào. Riêng đại đội pạc-ti-dăng dạt vào rừng. A chuôi Mờng ngày ấy cũng là công nhân đồn điền, bạn của bố A Nhai. Ông được cán bộ cử vào rừng gọi A Nhai ra hàng, A Nhai nghe lời A chuôi, đem toàn đơn vị ra hàng bộ đội; riêng anh ta trở về sống với người mẹ Vân Kiều. Sau lúc Diệm lên nắm quyền, Mỹ nhảy vào can thiệp, mụ Rôda lại giới thiệu con nuôi cho bọn cố vẫn Mỹ. Thế là A Nhai được đưa sang Mỹ đào tạo. Khi trở về được gắn lon trung úy, kèm thêm chức ủy viên sắc tộc miền tây Quảng Trị. Sau đó hắn được phong cấp đại úy rồi thiếu tá, đồng thời được bổ nhiệm làm quận phó quận Hướng Hóa. Sau này miền nam được hoàn toàn giải phóng, A Nhai không đi di tản sang Mỹ mà ở lại trình diện, chịu cải tạo ba năm rồi được tha.

Chính Bí thư huyện ủy Tử An đã trực tiếp gặp, khuyên răn A Nhai cố gắng cải tạo tốt trong lao động. Ngoài ra, A chuôi  Mờng đối với A Nhai tự coi như bậc cha chú , lấy tinh thần dân tộc mà động viên A Nhai vượt qua mọi khó khăn bước đầu.

Ba con người đang cùng uống chung bầu rượu tu-va hôm nay vốn có mối quan hệ nhiều chiều với A Nhai từ trong quá khứ. Chợt A chuôi Mờng lên tiếng hỏi:

- Từ sáng tới chừ, không thấy mặt Cu Nhon. Lẽ mô hắn không biết tui xuống đây? Ông A Nhai có gặp hắn không?

- Không, thưa A chuôi. Tui ít gặp Cu Nhon. Hình như Cu Nhon cố tình tránh mặt tui, nghĩ mãi chẳng hiểu can cớ chi.

Già bản Roi đáp:

- Xã đội trưởng dẫn Cu Nhon cùng một tổ dân quân đi lên biên giới đã ba ngày nay. Chắc có chuyện động rừng chi đây.

A chuôi Mờng đưa mắt nhìn bí thư huyện ủy Tử An, có ý dò hỏi.

Tử An nắm lấy một tao dây võng, ghé sát A chuôi Mờng, nói giọng điềm tĩnh:

- Bây giờ có thể nói rõ sự việc cho hai A chuôi và ông A Nhai biết. Cách đây một tuần, đồng chí xã đội trưởng xã Thanh sang ăn đám nhà bà con bên kia biên giới được dân chúng báo tin có một toán người lạ mặt lảng vảng ngoài rừng hướng về phía biên giới nước ta. Tin ấy được báo ngay về tỉnh. Bộ chỉ huy biên phòng tỉnh liền triển khai các lực lượng cơ động, trinh sát lên phối hớp với các lực lượng tại chổ truy lùng theo trục sông SêPôn, phía tây nam huyện ta. Sáng nay, có tin bộ đội biên phòng đã vây chặt toán biệt kích gồn bốn tên do bọn phản động nước ngoài phái về xâm nhập biên giới ra để phá hoại. Sử dụng chó nghiệp vụ, ta đã bắt gọn cả bốn tên. Chiều nay, bọn tội phạm sẽ được đưa về huyện. Nội ngày mai, các đơn vị dân quân phối hợp sẽ được rút về. Đồn trưởng đồn biên phòng Lao Bảo vừa điện báo cho huyện ủy.

Tử An nhận thấy trong lúc nghe chuyện, nét mặt A Nhai lộ vẻ bất an. Bắt gặp ánh mắt dò hỏi của anh, A Nhai thổ lộ:

- Cách đây mười mấy năm, lúc tôi vừa trở về bản ông bí thư dự đoán có ngày bọn xấu sẽ mò tới đất này để phá hoại. Lâu ngày, tui coi thường chuyện ấy. Ai dè, có chuyện bọn biệt kích xâm nhập thật!Lời căn dặn của ông tui mãi mãi không quên.

Có tiếng xe máy phanh gấp dưới chân sàn. Một sĩ quan huyện đội báo cáo với đồng chí bí thư:

- Cuộc truy lùng đã kết thúc, phía bộ đội biên phòng không có ai bị thương vong. Duy lực lượng dân quân trực chiến có một đồng chí bị đá lở đè gãy chân ở ngang núi Con Cọp. Anh ta dẫn đầu tiểu đội.

- Đồng chí nào vậy? – Tử An hỏi nhanh.

- Báo cáo, đồng chí Cu Nhon ở bản Cheng đây. Hiện Cu Nhon đang được các bác sỹ ở trạm quân y dã chiến bộ đội biên phòng cứu chữa.

A Nhai buột miệng thốt lên:

- Trời, đang giữa ngày mùa thu hoạch đậu.

A chuôi Mờng vuốt nhẹ mái tóc bạc, gật gù nói:

- Hắn biết xông lên hàng đầu thế là tốt hung...Tui xin hỏi đồng chí bí thư:

- Có cách chi giúp hắn không?

Tử An chưa kịp trả lời thì A Nhai đã nói ngay:

 - Xin A chuôi cứ yên tâm. Có huyện, có tỉnh, có bà con dân bản mà. Riêng tui xin hứa cử người sang giúp chị Cu Nhon thu hoạch xong mấy nương đậu.

Không khí trên nhà sàn chìm lắng hẳn xuống. Mọi người đang nghĩ đến Cu Nhon.

L.S.C

Lương Sĩ Cầm
Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 126 tháng 03/2005

Mới nhất

Thông báo về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí

13/04/2026 lúc 22:15

THÔNG BÁO Về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí Kính gửi quý bạn đọc,

31/07/2025 lúc 15:23

Tạp chí Cửa Việt - 35 năm một chặng đường

28/06/2025 lúc 16:18

Ngày 28/5/2025, Tạp chí Cửa Việt tổ chức lễ kỷ niệm 35 năm tạp chí ra số đầu tiên và gặp mặt cộng tác viên năm 2025. Tại buổi lễ, Phó Tổng biên tập phụ trách Hồ Thanh Thọ đã có bài phát biểu khai mạc...

Vùng trời hoa sim

26/06/2025 lúc 23:29

Những triền sim tím đồi xaBềnh bồng nâng gót mùa qua lặng thầm

Hương xưa; Nắng sớm

26/06/2025 lúc 23:27

Hương xưa… Ta về tìm lại hương xưa

Tạp chí số cũ
Câu chuyện du lịch
tư tưởng Hồ Chí Minh

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

16/04

25° - 27°

Mưa

17/04

24° - 26°

Mưa

18/04

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground