Không mua được vé tàu SE3 khởi hành lúc hai ba giờ, phải đi tàu bảy giờ tối từ ga Hà Nội, mất đêm cuối đàn đúm với bạn học cũ. Cái xui, mà cũng có thể nhờ vậy lại gặp may, tôi nghe được câu chuyện của người khách đồng hành cùng toa cách hai bậc giường. Quẳng cái ba lô con cóc bạc màu lên tầng ba, ông khách cất giọng vẻ nhũn nhặn nhưng chất giọng rắn rỏi:
- Chú em cho tôi ngồi nhờ dưới này.
- Dạ, ông cứ thoải mái ạ, còn sớm lắm, cháu cũng chưa ngủ ngay được.
- Ấy, cậu đừng xưng hô thế. Trông tôi thế này nhưng chưa tới lục thập đâu
Ông già khá - tôi nghĩ- dáng dấp thì nông dân nhưng xem ra cũng từng trải, có nội lực. Thoáng cái động tác ném ba lô lên tầng ba, thả người xuống giường tầng một như người phải đi nhiều, thấy nhiều nhưng đời không được mãn nguyện, đã bắt đầu thấy mệt mỏi. Kỹ năng quan sát và một chút kiến thức “nhân tướng học” của tôi đã không nhầm. Tàu chạy qua hết ga Giáp Bát, thấy tôi không còn ngóng cổ ra đường Giải Phóng đầy xe cộ lưu thông dưới ánh đèn đường, ông hỏi, giọng thân mật:
- Cậu đến ga nào?
- Em về Đồng Hới, còn bác?
- Mình xuống Đồng Hới cũng được mà Đông Hà cũng xong.
- …?
- À, mình đi Vĩnh Linh. Xuống Đồng Hới thì lên ô tô đi tiếp, mà vô Đông Hà thì lộn trở ra.
Ồ, thú vị đây! Một ông già nói giọng Bắc, khoác ba lô con cóc vào miền Trung với dáng vẻ tự tin sành sỏi, vài mươi năm trước thì có thể là dân buôn. Còn bây giờ, đã sang thế kỷ hai mốt, chỉ có thể là…
- Em xin lỗi, có phải bác đi tìm thăm đồng đội hay... tìm mộ?
- Cũng gần gần như thế cậu à. Mình tìm bạn cũ. Mà sao cậu biết mình là cựu chiến binh, thấy cái ba lô hả?
- Nhìn bác không đeo ba lô em cũng đoán được. Mà bác đi tìm bạn cũ, vậy bạn của bác ra Bắc học hay bác vào trong công tác?
Không phải, hoặc không hoàn toàn như vậy. Có lẽ khách trên những chuyến tàu là những người dễ “mặn chuyện”, dễ chia sẻ hơn bình thường. Câu chuyện của người lính già kể thong thả với tôi khi chuyến tàu cứ đều đặn gõ nhịp trên đường ray tiến về phương Nam đã khiến tôi hoàn toàn không còn luyến tiếc cuộc bù khú bị bỏ lỡ với những người bạn học cũ ở Hà thành nữa.
Vâng, chúng tôi, là tôi với ông khách cùng cu-pê có ít nhất ba giờ rỗi rãi trước giờ ngủ, nên câu chuyện của ông cứ rỉ rả, rỉ rả như tiếng gõ nhịp muôn thuở của con tàu.
* * *
Tôi tên Long. Có lẽ vì tuổi Thìn cầm tinh con Rồng nên các cụ tiện đặt tên như vậy. Nhưng Rồng tôi là rồng đất cậu ạ, chẳng vẫy vùng gì lắm đâu. Quê tôi ở tỉnh Phú Thọ. Ngày trước có thời nhập với hai tỉnh bạn là Vĩnh Phúc và Vĩnh Yên thành tỉnh Vĩnh Phú, sau lại chia ra. Mai mốt, cậu có dịp lên Việt Trì có thể đi xe buýt về nhà tôi chơi, gần lắm. (Mai mốt, không hiểu ở miền Trung bao nhiêu lâu mà ông đã có lai tiếng ít nhiều). Nhà tôi ở ngay cạnh bờ sông Thao. Cậu biết sông Thao chứ?
- Dạ biết, em học địa lý.
- Ồ, học địa lý thì chưa thấy vẻ đẹp của sông Thao. Nhà tôi ở ngay bờ sông Thao. Tôi đi bộ đội năm mười tám tuổi, tốt nghiệp cấp ba theo diện đặc cách. Cậu biết tốt nghiệp đặc cách là thế nào không!? Bọn tôi mới học xong chương trình học kỳ một thì có đợt tuyển quân. Khám sức khỏe trúng tuyển, vậy là ty Giáo dục cấp luôn bằng tốt nghiệp phổ thông cấp ba, không phải thi. Đấy, đặc cách đấy. Bọn tôi được tuyển vào binh chủng Tăng - Thiết giáp. Cậu biết cái nôi của binh chủng này ở đâu không? Quê tôi đấy!
Cái ông già này chắc có nhiều năm dạy học, cái cách giữa chừng cứ đặt câu hỏi này là của giáo viên tiểu học một thời, nay không biết có còn không!? Tôi nghĩ vậy nhưng không nói ra, sợ làm đứt mạch hào hứng của ông…
…Anh tân binh Long vào binh chủng được đào tạo lái xe, học ô tô vài chục giờ mới chuyển sang học xe Tăng và xe Thiết giáp, lái đủ loại. Học ô tô trước khi học xe tăng cho đỡ tốn kém, một giờ nổ máy của xe tăng tốn nhiều tiền lắm. Giá một cái xe Tăng bằng cả cái nhà máy diêm Thống Nhất lận. Chỉ huy quan trọng hóa ra vậy không biết có thật thà gì không. Thành thạo rồi thì đi Bê, lái xe lên tàu ở ga Vĩnh Yên, chạy vào đến Vinh thì xuống tàu lái bộ vào tận Vĩnh Linh nằm chờ chiến dịch. Nằm chờ, nghe thì dễ chịu đấy nhưng cái cảnh ăn không ngồi rồi cũng chán lắm. Chiến tranh. Không nói gì tới lý tưởng xa xôi, chỉ là cái tâm thế của người lính khi đã chấp nhận một cuộc lên đường thì sốt ruột muốn vào trận, chí ít là phải ngửi thấy mùi thuốc súng đã rồi mới ổn.
Vĩnh Linh cuối bảy mốt đầu bảy hai cơ bản vẫn yên hàn. Tổng thống Mỹ tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc từ tháng mười một năm sáu tám, tính đến lúc này đã ba năm. Bên kia bờ Hiền Lương là chiến tuyến địch nhưng bên này là đất ta, tiền tuyến đứng mũi chịu sào nhưng cũng là hậu phương trực tiếp. Mấy vạn thiếu niên học sinh và người già yếu sơ tán ra các tỉnh phía Bắc chưa trở về nên thôn xóm khá vắng vẻ, chủ yếu là dân quân, thanh niên xung kích và các đơn vị bộ đội đóng hậu cứ. Đơn vị ở trong nhà dân. Cơm nước tự tổ chức nấu nướng theo từng xe. Thời gian rỗi rãi lính ta chỉ làm mỗi việc là đánh bài “Tiến lên” giết thì giờ. Riêng lái xe thỉnh thoảng bảo dưỡng sơ qua vài bộ phận kỹ thuật, kiểm tra dầu mỡ nước và buổi tối thì ôm chiếu ra xe ngủ, gác xe, sẵn sàng chiến đấu. Cái xe của Long là xe thiết giáp K63, không hoành tráng như xe tăng. Lính tráng gán cho cái biệt hiệu là “thùng lương khô”. K63 không có tháp pháo, chỉ gắn súng 12 ly 7. Thùng xe chở một tiểu đội bộ binh cơ giới, có đủ lỗ châu mai. Biên chế của tiểu đội bộ binh cơ giới cũng chỉ năm sáu người nhưng trang bị hỏa lực mạnh. Tóm lại, K63 như là một cái lô cốt đi động nhưng xuống nước thì nổi. Lái xe chỉ việc dùng mỡ chịu nước niêm kín các kẽ hở, nổ máy cài số dùng hai băng xích guồng nước bơi như… thuyền.
Rồi, tết nguyên đán Nhâm Tý cũng đến. Tết nhất đối với chiến sĩ đang ở tuyến đầu thực tế chỉ là khái niệm. Lính được một hai bữa tươi, gói thuốc lá Tam Đảo, bánh bích quy và kẹo. Còn thì vô thiên lủng chuyện tết khi còn ở quê hương. Đêm ba mươi, lái xe Long trên đường ôm chiếu ra xe như thường lệ bỗng buồn tình nảy ý định đi một vòng quanh xóm xem sao. Đúng là tết thời chiến, xóm làng im ắng quá. Đất Vĩnh Linh rộng, người thưa thớt, ba mươi tết không râm ran như ngoài Bắc. Mưa lay phay, lạnh. Đường đất đỏ dính giày trơn trượt hơi khó đi. Tối thui. Phải vài trăm bước chân mới gặp một căn nhà nhỏ mới hồi sinh từ sau khi ngớt chiến tranh phá hoại nằm lọt thỏm giữa những khu vườn rộng trồng nhiều chè xanh hắt ra ánh đèn dầu vàng vọt. Thỉnh thoảng, ở một vài sân vườn có bếp lửa và nồi bánh chưng đang sôi. Long những muốn ghé vào hưởng chút không khí tết nhưng lại thấy ngại. Đơn vị đứng chân chưa đầy tháng, năng lực dân vận của lính tăng không sánh được với bộ binh. Phải như mấy tay trinh sát chắc giờ này đang chầu rìa bên mâm cơm cúng gia tiên nào đó, miệng cứ là mẹ mẹ con con dẻo quẹo. Suy nghĩ miên man, anh bước tới đầu xóm lúc nào không hay. Đang định đằng sau quay trở lại thì hiện ra mờ mờ một nếp nhà nhỏ nằm gần sát với đường đi. Cây trước nhà lưa thưa khiến Long nhìn suốt vào gian giữa. Bên ngọn đèn dầu mờ ảo có hai bóng người đang lúi húi làm gì có vẻ chăm chú lắm. Dừng lại mươi giây, rồi cầm lòng không đậu, anh bước vào tới sân. Nhà không nuôi chó nên khi Long bước vào đến cửa người trong nhà vẫn không hay biết. Té ra, có hai bé gái đang loay hoay gói bánh chưng. Không phải bánh chưng. Phải tới chiều hôm sau, mồng một tết, khi hội mẹ chiến sĩ ở địa phương đến thăm, úy lạo đơn vị, Long mới được nếm thử món đặc sản tết nguyên đán ở đây. Còn lúc này, hai cô bé gái, đứa lớn chừng mười ba, đứa nhỏ khoảng mười tuổi đang tạo những thành phẩm không ra hình thù gì. Một đứa trải ra giường hai tấm lá chuối. Đứa kia lấy cái bát múc gạo nếp từ trong cái chậu thau đổ vào, cuộn lại rồi dùng lạt trói chặt như hình cái ống bương. Kế đó, chúng bẻ gập một đầu “ống” dùng một miếng lá nhỏ hơn trùm lại rồi cũng lấy lạt buộc. Xem ra cũng có phương pháp đấy, nhưng tay chân còn vụng quá. Trên giường cũng đã có vài cái gói xong nhưng chắc không đáng được gọi là bánh. Đứng lâu bất tiện nên Long gõ nhẹ vào cánh cửa rồi chủ động lên tiếng:
- Các cháu gói bánh à? Cho chú làm với.
Lạ một nỗi là cả hai đứa bé gái ngẩng nhìn lên với vẻ mặt rất bình thản. Có lẽ, cái việc một người mặc quân phục, dù là trong đêm, ghé vào một nhà dân, có khi là xin nước uống hoặc cơm ăn là điều không hiếm ở đất này. Long chủ động ngồi xuống giường, lấy vẻ tự nhiên:
- Cái bánh cháu gói là bánh gì thế?
- Bánh đòn.
- Bánh sao không có nhân gì cả, thịt lợn đâu?
- Mần chi có thịt heo. Hợp tác xã có chia nhưng bới cho Ba rồi.
- Thế người lớn đâu mà hai cháu mày mò gói bánh thế này?
Con bé nhỏ nãy giờ vẫn ngồi im lặng mặc con chị giao tiếp lúc này bỗng khóc òa làm Long rất lúng túng:
- Sao vậy cháu? Sao vậy, có chuyện gì vậy? - Anh hướng sang phía con chị.
- Ba đau, đi bệnh xá rồi, không ai ở nhà cả.
Đến lúc này thì Long đã mường tượng có lẽ người mẹ đã ngâm ủ gạo nếp và đỗ xanh để gói bánh nấu đêm giao thừa thì người bố nổi cơn đau phải đi viện ngay. Ở nhà sốt ruột, hai bé gái nhớ lại cách gói bánh của mẹ những lần trước nên liều gói xem sao. Tự dưng Long thấy mủi lòng và cái kỹ năng hoạt động mỗi lần năm hết tết đến từ ngày ở làng khao khát trỗi dậy. Anh nói khá tự tin:
- Bây giờ để chú gói bánh cho nhé. Chú sẽ gói bánh chưng theo kiểu ngoài Bắc. Các cháu biết bánh chưng không?
- Dạ biết, nhưng gói khó lắm. Mạ biết gói, nhưng chừ…!
- Chắc mẹ các cháu đang đưa ba các cháu đi bệnh viện, đúng không?
Long hỏi nhưng không đứa nào trả lời cả. Hai đứa nhìn nhau. Anh nhắc lại:
- Mẹ có nói đưa bố lên bệnh xá rồi về ngay không? Sao cả hai đứa im lặng thế?
Bất ngờ, lúc này không phải con bé nhỏ mà là con chị bỗng khóc nấc lên khiến Long vô cùng bối rối. Gặng hỏi đứa em, nó trả lời lí nhí trong miệng, mặt cúi gằm:
- Mạ chết rồi.
Long đờ người ra, tự dưng thấy cả người bải hoải. Anh ngồi lặng một lúc lâu rồi kiên quyết:
- Bây giờ hai đứa ra lấy nồi, múc sẵn nước giếng vào đây, chú sẽ gói bánh rồi chú cháu mình cùng luộc đón giao thừa. Được không?
* * *
Long đã ở lại căn nhà nhỏ ấy đến khuya, trổ tài gói bánh chưng của một người sinh ra lớn lên ở vùng đất tổ Hùng Vương. Anh cùng hai đứa bé gái nhóm lửa luộc bánh cho đến khi pháo giao thừa nổ râm ran thì chị chúng nó về. Thoạt tiên, hai đứa trẻ reo lên chạy ra đón. Một thiếu nữ đầu đội mũ tai bèo, vai đeo súng bước vào dáng mệt mỏi nhưng cũng không giấu được vẻ ngạc nhiên. Sau ít phút ngỡ ngàng, việc một chiến sĩ quân đội chính quy gặp một du kích vùng giới tuyến và làm quen với nhau vốn không mất nhiều thời gian. Thì ra, cô chị này sau khi đưa cha lên bệnh viện thị trấn lại tham gia một phiên trực tuần tiễu của dân quân. “Em cứ tưởng về tới nhà e gạo, đậu chua hết rồi. Cảm ơn anh!”
Gần sáng, Long mới trở về xe lòng đầy tâm trạng. Mười chín tuổi đời, gần một tuổi quân, chưa bao giờ anh tiếp xúc thân mật tự nhiên như vậy với một thiếu nữ. Những ngày sau đó, anh đã mạnh dạn cùng Loan (tên cô gái) mượn xe đạp đèo nhau lên bệnh viện thăm người ốm. Hai bé gái nhanh chóng coi anh như người nhà. Có hôm Long đã ở lại cùng ăn cơm trưa. Loan kể, quê cô không phải ở đây mà là bên kia sông Bến Hải. Trận càn Bạch Hóa(1) hủy diệt của Mỹ ngụy năm năm trước đã khiến hàng nghìn đồng bào Gio Linh liều mạng bơi qua sông Bến Hải giữa làn đạn địch. Lực lượng dân quân bờ Bắc cùng bà con ven sông đã lao ra giữa dòng tiếp cứu. Mấy bố con thoát được nhưng người mẹ trúng đạn đã mãi nằm lại nơi đáy sông. Gia đình được chính quyền bờ Bắc cưu mang, giúp làm nhà, cùng làm ăn trong hợp tác xã nông nghiệp. Từ năm ngoái, Loan đã là chiến sĩ trong đại đội dân quân cơ động của xã. Loan kể, dân quân ở đây chẳng khác gì bộ đội chính quy. Cũng huấn luyện định kỳ tập trung, canh gác tuần tra luân phiên. Lâu lâu lại có một hai tiểu đội bí mật vượt tuyến vào bờ Nam phối hợp với bộ đội địa phương Gio Linh đánh địch. Loan đang nóng lòng được chọn để về lại địa bàn quê hương nã súng vào bọn đã giết mẹ cô.
Một buổi tối đầu tháng Hai ta, trời chưa vào khuya mà trăng non đã gác đỉnh đầu. Trên đường ra gác xe thì Long gặp Loan đi trực chiến trở về. Anh chủ động mời cô ra nơi đỗ xe. Hai người trèo lên trần chiếc K63 “thùng lương khô” ngồi… ngắm trăng. Đêm ấy, trong cái se lạnh của đêm xuân, Long đã dám cầm tay Loan. Tuổi mười chín, với trái tim một người lính đã học qua chương trình phổ thông, anh đã diễn đạt suôn sẻ những điều mà trái tim lên tiếng. Bàn tay người nữ dân quân đất thép run rẩy trong tay Long. Họ ngồi như vậy rất lâu, cho đến khi gà gáy canh ba, sương xuống lạnh, Long liều mạng kéo cô vào buồng chiến đấu của xe…
* * *
- Bác cũng liều nhỉ! Kỷ luật quân đội không trị bác à?
- Ai biết mà trị. Lính bộ binh thiết giáp đều ngủ trong nhà dân. Chỉ có lái xe chúng tớ là thường xuyên ngủ trông xe. Xe lại giấu ngoài đồi. Nhưng cậu đừng nghĩ là bọn tớ bậy bạ nhé. Không dám đâu! Cậu có tin không? Có đến ba lần chúng tớ ngủ trong xe mà đơn vị vẫn không biết, và… cô ấy vẫn còn nguyên cậu ạ.
- Bác nói như thật!
- Tôi nói dối cậu làm gì. Đến tuổi này rồi mà còn không thật với lòng mình thì còn đáng mặt thằng đàn ông không. Cái thời ấy nó thế. Tính tự chủ, hay nói như mấy ông tuyên huấn là, ý thức tổ chức kỷ luật nó ngăn mình lại.
* * *
Trên những nẻo đường chiến tranh mà người lính đã đi qua có biết bao làng mạc, bao bờ tre ruộng lúa, phố xá, gặp gỡ bao nhiêu số phận. Làm phận sự của người lính, họ đã nã súng tiêu diệt đối phương và cũng luôn là mục tiêu của đối phương nhằm bắn. Chiến tranh kết thúc rồi, liệu mỗi cựu chiến binh có thừa thời gian để tỉ mẩn ngồi kể lại chi tiết từng trận đánh, từng kỉ niệm đã trải qua, tìm lại hết những người mà họ đã từng gặp, từng gắn bó qua những bước hiểm nguy sinh tử, chia sẻ bao vui buồn đắng cay ngọt bùi!? Chắc là không, không thể! Vì đơn giản, để làm được bấy nhiêu việc, phải có quỹ thời gian của hai ba đời người. Trong khi, những tháng ngày trước mắt là cuộc vật lộn mưu sinh mà họ phải dành hết tâm lực còn lại cho miếng cơm manh áo của chính mình và người thân. Nhưng với ông Long, số phận người nữ dân quân bờ bắc Bến Hải mà ông tình cờ gắn bó trong vài mươi ngày trước khi vào chiến dịch đã khiến ông mất ngủ hàng năm trời.
Trưa ngày 30/3/1972, đất trời Vĩnh Linh như vỡ tung với tiếng gầm của hàng trăm khẩu đại bác trút bão lửa xuống đầu thù. Bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương kết hợp tiến công quân địch trên suốt chiều ngang của dải đất, bóc toàn bộ tuyến phòng ngự hàng rào Mcnamara, chỉ trong ba ngày giải phóng hoàn toàn hai huyện Gio Linh- Cam Lộ.
Cũng trong những ngày ấy, sĩ quan chiến sĩ trong đại đội của Long cứ ngơ ngác không hiểu: Tại sao một lực lượng đột kích mạnh như thế này lại bị cấp trên cho“án binh bất động”, làm dự bị, ngồi bắc ống nhòm xem đơn vị bạn lập công. Cứ cách này chỉ vài tuần nữa không khéo vào “nhặt ống bơ”. Bàn cờ tướng và bộ bài “tiến lên” mỗi ngày đã giúp các chiến sĩ giết thời gian bây giờ trở nên nhạt hoét. Lính ta cứ đi lại lồng lộn như những con báo và rất dễ vặc nhau. Thậm chí có cậu đã bật ra thơ: “Tiếng súng mùa khô đã nổ rồi/ Mà quân ông Đĩnh vẫn ngồi chơi…” Đĩnh là tên của đại đội trưởng. Thậm chí không phải lỗi của ai cả mà Long cũng thấy thẹn, ngại không muốn gặp Loan. Mà hình như những ngày gần đây Loan cũng đi đâu rồi. Cuối cùng thì cụm từ dự bị chiến lược cũng được giải mã. Cùng với một đơn vị bạn hành quân ngoài Bắc vừa vào, đại đội cấp tốc hành quân. Buổi chiều, đang vào giờ chuẩn bị cơm tối thì còi báo động di chuyển vang lên. Ba mươi phút cho một đơn vị kỹ thuật sẵn sàng lên đường. Cả quan lẫn lính cuống cà kê. Đây là lệnh từ trên xuống, ngay cả chỉ huy đơn vị cũng không được báo trước. Vậy nên, nội ngay cái việc đi tìm cho được một vài vị đang “cà kê dê ngỗng” đâu đó trong nhà dân hay ngoài triền đồi, đang kỳ cọ tắm rửa ở một mội nước(2) nào đó cũng tốn không ít thời gian. May mà ông Đĩnh đang có mặt ở sở chỉ huy. Long khoác ba lô chạy vội ra xe. Riêng với việc của lái xe, mỗi lần hành quân còn nặng nề và nhiêu khê gấp nhiều lần các thành viên khác. Mãi đến khi đại đội phó kỹ thuật khoa tay một vòng ra hiệu, đặt tay lên nút khởi động, Long mới bàng hoàng sực nhớ chưa gặp để chia tay Loan. Tối qua, hai người vừa cãi nhau bởi một chuyện không đâu. Cứ nghĩ, thôi để thư thư vài hôm gặp lại rồi làm hòa cũng không sao. Vậy mà, bây giờ đây! Những khối xe thiết giáp đã khặc khừ nghiến xích tiến lên xếp thành đội ngũ như những con voi chiến trên đồi. Nhìn ngược ánh hoàng hôn, đội hình sắt thép hiện lên trong ánh tà dương tím sẫm, cạnh đó là những người lính “bộ binh cơ giới” quân cụ đầy mình vừa bình thản vừa phấn khích cũng đang đứng thành hình khối, hoành tráng dữ dội hơn cả những cảnh quay trong phim đại chiến thế giới của Liên Xô từng hút hồn bọn trẻ miền Bắc.
Đến lúc này mệnh lệnh chiến đấu mới chính thức được công bố: Vượt sông, hành quân dọc bờ biển, vòng lên theo bờ bắc sông Hiếu đến giờ G. sáng mai phối thuộc với đơn vị bộ binh X tiến đánh Đông Hà. Trời đất ơi! Vượt sông, dẫu là xe lội nước thì cũng đâu phải như ca nô hay thuyền chèo tay, hạ thủy là chạy. Chí ít cũng phải biết lưu tốc dòng chảy, độ nông sâu và vật cản của đoạn sông. Bờ bãi bên kia cũng chưa được khảo sát. Còn bên này lau lách cỏ dại thế kia, ai bảo cái xe thiết giáp nặng hàng chục tấn bò tới không bị… chìm nghỉm. Nhưng đó là việc của chỉ huy.
Trong khi bọn Long đang niêm “mỡ chịu nước” chờ cấp trên xử lý tình huống, thì, từ trong bóng đêm hiện ra một toán... âm binh. Thoạt nhìn, các lính ta không khỏi thảng thốt: Khoảng ba chục người, giọng nam giọng nữ râm ran, nhưng từ thắt lưng trở xuống thì đen thui, từ thắt lưng trở lên thì trắng toát. Không ai hiểu ở đâu lôi ra những chiếc áo trắng có thể đã được cất giữ từ tám năm trước, nghĩa là trước khi diễn ra cuộc chiến tranh phá hoại của không quân và hải quân Mỹ. “Ngày xưa áo trắng anh yêu/ Ngày nay áo trắng mục tiêu quân thù” là ca dao mới thời chống Mỹ. Tốp dân quân “âm binh” cởi súng bộ binh, tay mỗi người cầm một cái que như cái thuốn. Họ nhất loạt lội xuống và hăng hái thăm dò bờ nước. Chừng mươi phút sau, tất cả chỉnh đốn lại thành hai hàng dọc ra đến chỗ nước sâu. Trời ơi! Có nơi đâu trên thế gian này có thể gặp một hình ảnh vừa ma quái vừa hùng tráng nhưng lại vô cùng tự nhiên và giản dị như thế này không?!
Toàn bộ lái xe của đội hình hành quân được triệu tập. Mệnh lệnh: tiếp cận bờ sông giữa hai hàng cọc tiêu trắng. Hành tiến số một từ cách ba mươi mét, qua khỏi hàng cọc tiêu là bắt đầu bơi chếch 15 độ lên thượng nguồn… Những chiếc Tăng lội nước PT76 có chân vịt của đơn vị bạn xuống trước. Trong đêm tối vẫn có thể nhìn rõ mỗi khi đầu xe đập xuống mặt nước, sóng ào lên táp cả lên mặt mũi những chiếc “cọc tiêu sống”. Đến lượt đại đội Long. Xe K63 không có chân vịt mà chỉ guồng hai dải băng xích nên khó khăn gấp đôi: bơi chếch hơn lên thượng nguồn. Khi các chiến sĩ bộ binh cơ giới đã yên vị, xe của Long dẫn đầu nhanh chóng tiếp cận. Còn khoảng cách ba mươi mét, anh chuẩn bị thao tác xuống số một thì đột ngột từ trong bóng tối lao ra một bóng người cùng với tiếng kêu thất thanh: “Anh Long!” Trời đất ơi, Loan! Sém tí nữa thì Long thả chân ga.
Có tiếng kêu: “Loan, đứng vào hàng đi”. Trong tình thế bất ngờ về tâm lý Long luống cuống đạp mạnh bàn đạp hãm. Chiếc xe khựng lại tắt máy. Cả đoàn xe mười chiếc của đại dội dồn ứ lại. Đêm tối vang rền tiếng động cơ nặng và hỗn tạp. Phía trước bỗng vang lên tiếng thét giật giọng: “Đại đội, tiếp tục hành tiến!” Long hối hả nhả li hợp, tăng ga. Chiếc xe giật mạnh chồm lên lao nhanh tới hàng cọc tiêu lúc này đã chỉ còn lờ mờ màu cháo lòng rất khó phân biệt với màu nước. “Chết cha, lỡ cán phải một hai vị dân quân…!” Chỉ mới nghĩ đến đó, Long chợt nhớ xe vẫn đang chạy số ba, chân dầu cao. Chiếc xe đã vào giữa hai hàng “cọc tiêu” hạn chế thẳng. Người lái xe miết vội bàn đạp hãm, nới chân ga, đạp ly hợp, kéo cần số về số không, và, theo bản năng đã được huấn luyện thuần thục, bàn chân phải dẫm mạnh - vù ga, trước khi chân trái đạp ly hợp để vào số một. Trong đêm, vẫn cảm nhận được một luồng khói đặc quánh dầu nhờn phụt mạnh ra từ ống xả phun thẳng vào cái bóng trắng vừa kịp đứng vào hàng…
* * *
Không, không bao giờ tôi có thể tha thứ cho động tác lái xe bất cẩn đến mức ngu ngốc như thế trong mấy năm ngắn ngủi cầm cần lái. Có đến một nghìn lần tôi lồm cồm bò dậy trong đêm, và, cả một nghìn lần ấy rền rĩ trong đầu tôi một câu sám hối: “Loan... Anh không cố ý. Tha thứ cho anh!” Một lần, khi còn ở quân y viện, giữa cơn mộng mị tôi hét lên như vậy khiến y tá trực phòng phát hoảng. Cũng trong những ngày nằm điều trị vết thương, tôi mới ngẫm ra vì sao chỉ huy lệnh cho chúng tôi phải bò số một từ cách ba mươi mét. Cậu thử hình dung, cái hàng cọc tiêu sống chỉ cách dải băng xích chưa đầy năm mươi phân. Chưa nói đến tay lái có thể chệch sang trái sang phải, người lái xe đang chạy số cao bỗng gặp phụ tải lớn cần xuống số thấp, chỉ một động tác vù ga bất cẩn là cả hàng người lãnh đủ. Cái điều làm tôi đau đớn nhất là khi việc ấy xảy ra, tôi không thể dừng xe để thanh minh, để xin lỗi. Cậu biết vì sao không? Không phải do mệnh lệnh hành quân gấp gáp đâu! Gấp gì thì gấp chứ dừng lại vài mươi giây có là bao. Cái quan trọng là đằng sau tôi, mười chiếc xe cũng đang tiến lên tiếp cận bờ sông. Dải băng xích xe tôi đang cuộn trong bùn nhão. Nền đất bờ sông mà anh chị em dân quân đã chọn vốn chẳng cứng cáp gì, lại bị hơn hai chục chiếc tăng trước đó băm nát, hóa lỏng. Xe tôi mà dừng lại vài giây là mắc lầy ngay. Vậy nên, tôi vẫn cứ phải ấn mạnh chân dầu cho xe lao ra giữa dòng sông. Những năm gần đây, nghỉ hưu, nỗi niềm ấy cứ đội lên, dội lên…
Chiếc loa trong khoang bỗng ọ ẹ rồi một bản nhạc quen thuộc cất lên: “Chờ gió lên… đưa thuyền về xuôi…”. Sắp đến ga Thanh Hóa rồi. Nhìn đồng hồ tay, đã gần mười giờ đêm. Hà Nội - Thanh Hóa một trăm năm mươi cây số, tàu chạy gần ba tiếng, xem ra cũng đã tiến bộ. Từ dưới cái chăn trùm kín người của chiếc giường tầng một đối diện bỗng vọng ra tiếng phụ nữ trong trẻo tỉnh táo không phải của người mới tỉnh giấc:
- Rứa từ giải phóng tới chừ mà bác mới vô tìm người ta à? Răng tệ rứa?!
- Để yên cho bác ấy kể hết đã nào! - Tiếng người khách nằm tầng trên. Té ra không ai thờ ơ cả. Nãy giờ mọi người đều lắng nghe câu chuyện của người cựu chiến binh.
- Cảm ơn các bác đã hỏi thăm. Vấn đề là trận ấy chúng tôi hành quân không thắng lợi, tổn thất ghê gớm.
Tiểu đoàn vượt sông vội vàng. Mọi thao tác hành quân đều không theo chuẩn mực khoa học quân sự. Đó là chưa kể, nếu không có đơn vị dân quân làm cọc tiêu sống thì đơn vị không thể thi hành mệnh lệnh vượt sông. Hai chiếc mắc cạn phải nhờ dân quân đắp cỏ lác chờ thủy triều lên. Quá nửa đêm toàn bộ đội hình mới tập kết ở bờ Nam, dò dẫm đến bờ sông Thạch Hãn thì trời sáng. Đạn bắn thẳng của địch ở Nam Cửa Việt vãi sang như mưa. Mặc, đơn vị cứ hành tiến. Đến Quán Ngang thì mới biết đã lỡ thời cơ hợp đồng binh chủng với bộ binh. Và, chính tại đây, tiểu đoàn Tăng - Thiết giáp bị hàng tá máy bay A37 của đối phương quây lại đánh. Đơn vị độc lập trụ lại dùng súng bộ binh chống trả suốt một ngày trời, bắn rơi được hai máy bay địch, nhưng bên ta cũng thiệt hại rất lớn. Chờ đêm tối, đơn vị rút dần ra tuyến sau. Riêng lái xe Long cũng “rút ra” nhưng mê man trên cáng thương, đầu băng kín mít…
* * *
Ông Long đã hai lần vào Vĩnh Linh tìm "cố nhân". Lần thứ nhất đi theo đoàn cựu chiến binh. Nghỉ lại Đông Hà, ông bắt xe ôm qua cầu Hiền Lương ra bờ Bắc rồi cứ thế vừa chạy xuôi theo sông vừa hỏi tới bến… Người ta đã nhiệt tình chỉ dẫn ông đến tận một địa danh được phong tặng danh hiệu anh hùng: Bến đò B lịch sử. Nơi đây đã đưa đón hàng vạn bộ đội, dân quân du kích vượt tuyến vào Nam chiến đấu, lại đón thương bệnh binh và cán bộ cơ sở ra Bắc. Ông Long đến, đứng bần thần hồi lâu rồi quay lui. Linh tính mách bảo không phải nơi ông cần tìm. Hỏi hú họa tên người cũ nhưng tuyệt nhiên không ai biết. Lần vào thứ hai, quyết tâm hơn, ông tìm đến tận xóm đóng quân ngày trước, hỏi những người lớn tuổi. May, có người còn nhớ, nhưng họ cho biết sau bảy lăm gia đình cô đã hồi hương về Gio Linh, xã nào thì không biết được. Có người còn mách, đâu như người em gái lấy chồng buôn bán trên thị trấn. Ông Long lặn lội lên Hồ Xá, hỏi đến tận nơi thì gặp phải người chủ mới. Gia đình cô đã bán nhà để chuyển vào Nam lập nghiệp. Bóng chim tăm cá! Tiền lận lưng có hạn, ông Long lại một lần nữa ngậm ngùi trở về Bắc. Và, đây là lần thứ ba…
- Có thể là lần cuối đấy cậu ạ. Tôi thấy trong người bắt đầu chuyển. Cậu trông ngoài thế này chứ sức tôi kém lắm. Hai mảnh đạn trong đầu không lấy ra được bao năm hành hạ tôi, cộng thêm cái mảnh đạn vô hình ấy nữa…
Ô, a, không ngờ bác già cũng văn nghệ quá. Hình ảnh “cái mảnh đạn vô hình” là hay lắm đấy. Nó bắn trúng con tim của ông. Bất ngờ, người phụ nữ nằm giường đối diện nói rành rọt:
- Chừ khuya rồi. Bác đi ngủ cho khỏe. Mai vô Đông Hà rồi tui bày cho đi tìm, nhứt định tìm thấy. Còn cái bến đò của bác thì tui biết, cũng được phong anh hùng rồi, dưng đó là bến đò A. Dạo đó ti vi tuyên truyền ầm ầm.
Qua đêm. Tôi xuống ga Đồng Hới. Chia tay, người lính già vui chuyện ôm lấy tôi mà nói đi nói lại rằng, có dịp đến Việt Trì nhớ bắt xe ôm chạy dọc sông Thao vài chục cây số đến nhà ông chơi. Cứ hỏi thương binh Long ở bến đò… là ai cũng biết. Bọn trẻ nhà tôi chạy đò ngang, đò máy. Mới từ đêm qua tới sáng nay mà phương tiện về nhà ông đã chuyển từ xe buýt xuống xe ôm. Có lẽ ông còn ám ảnh cái chuyến xe ôm từ Đông Hà ra tận bến đò B anh hùng. Tôi vẫy theo đoàn tàu SE1 có người thương binh già lẩn thẩn mà dễ mến, lòng có chút băn khoăn không biết người phụ nữ đồng hành bằng cách gì để tìm được bạn cũ cho ông.
Mãi rất gần đây, khi có ý định viết lại câu chuyện này, tôi gọi điện cho người bạn ở Đông Hà và được người ấy giải đáp rằng, có thể người phụ nữ tốt bụng kia sẽ đưa ông đến hội cựu chiến binh tỉnh để truy tìm danh sách. Với riêng dân quân du kích Quảng Trị hoạt động trong thời kỳ chống Mỹ cũng được coi như bộ đội chủ lực, cũng là hội viên cựu chiến binh như các lực lượng chính quy khác. Vâng! Họ đã chiến đấu như bất kỳ một lực lượng chính quy nào khác.
N.T.T
_______________
(1): Trận càn Bạch Hóa của Mỹ diễn ra năm 1967, dồn dân lập ấp.
(2): Mội nước; lạch nước rỉ ra từ trong những quả đồi đất đỏ.




