|
H |
ào Hậu nâng ly cà phê đặt lên môi. Cái mùi cà phê Buôn Ma Thuột thơm ngầy ngậy. Anh cảm thấy rất rõ hương thơm của cà phê đặc quánh này thấm vào từng tế bào mình. Hào Hậu không nhớ mình nghiện cà phê từ lúc nào. Những ngày chiến tranh khói lửa, anh vẫn không thể nào thiếu cà phê mỗi sớm mai. Năm năm ở trại cải tạo, tưởng quên được. Nhưng vừa đặt chân về Quy Nhơn, lướt qua công viên Phương Mai, mùi cà phê lại đánh thức ký ức, thèm đến day dứt. Anh ngồi vào bàn, gọi một ly cà phê. Và cứ thế. Sáng nào thiếu cà phê là anh bần thần. Hào Hậu uống cà phê theo kiểu của riêng mình, đầu tiên anh uống cà phê bằng khứu giác, khi ly cà phê đã lạnh trong tay, anh bắt đầu nhấm từng ngụm nhỏ. Mỗi ngụm rít một hơi thuốc thật dài. Làn khói xanh thấm vào máu, cái cảm giác lơ mơ đến ngây ngất. Anh nhìn ra biển xanh. Những cánh hải âu giỡn sống. Tưởng như ngoài sóng, chúng không còn biết gì trên đời. Biển mới thanh bình làm sao. Không ít lần Hào Hậu ngồi chỗ này, cũng trên chiếc ghế này trước ly cà phê như hôm nay. Vậy mà dường như biển xanh kia bây giờ anh mới gặp.
Chỉ có tiếng chuông báo giờ trên chiếc đồng hồ đeo tay mới đủ sức kéo Hào Hậu đứng dậy. Đã đến giờ vào ca. Anh rảo bước đi về nhà máy.
Phòng giám đốc Công ty xuất khẩu gỗ Quy Nhơn rất tuyềnh toàng. Không có máy lạnh đã đành, không có cả bộ sa lông mềm cho đàng hoàng.
- Để những trang bị phù phiếm ấy quấy đảo công việc ngập đầu ngập cổ làm gì hả anh. Lo cho năm trăm công nhân có lương lậu đàng hoàng đủ hút hết hồn tôi rồi.Giám đốc Chung vừa như thanh minh vừa như giãi bày.
- Nghe nói anh có hơn ba trăm công nhân vốn là ngụy quân, ngụy quyền trong chính quyền Sài Gòn cũ? Nhà báo Hữu Ly hỏi.
- Họ ở trại cải tạo ra, bơ vơ, không có công ăn việc làm. Họ là chồng của những người vợ, là cha của những đứa con. Để họ lay lắt sống thì những gia đình kia sẽ bê tha, con cái nhếch nhác. Như thế thì xã hội chúng ta còn ra sao nữa. Đó là lý do tôi thâu nạp họ.
- Họ có quậy phá gì không?
- Họ đang thiết tha đi tìm miếng sống. Có người đưa tay ra dìu dắt. Quậy phá có mà điên à? Có thể nói họ rất chăm chỉ, tận tâm với công việc.
Giám đốc chung đưa Hữu Ly đi một vòng quy trình nhà máy gỗ xuất khẩu. Bắt đầu từ những khúc gỗ nguyên dạng đưa từ rừng về, được xẻ pha ra, rồi từng bộ phận cưa cắt bào thành những chi tiết. Ván sàn và những chiếc ghế kiểu cách được đóng thùng chuẩn bị sẵn sàng đưa ra cảng là sản phẩm cuối cùng.
Hữu Ly hỏi:
- Cấp bậc xưa cao nhất của họ là ngần nào anh?
- Trung tá. Giám đốc Chung đáp.
- Tôi muốn gặp anh ta được không?
Lát sau giám đốc Chung dẫn một người đàn ông vào phòng. Anh ta mặc áo quần công nhân màu xanh. Đội mũ nhựa bảo hộ. Dáng người cao, to. Mắt đen, sáng, song nhìn kỹ vẫn thấy cái gì đó ngơ ngác.
Giám đốc Chung giới thiệu hai người:
Đây là nhà báo Hữu Ly, còn đây trung tá Hào Hậu mà anh muốn gặp.
Hữu Ly đứng dậy bắt tay Hào Hậu. Bốn mắt họ nhìn như dán vào nhau. Hai bàn tay cũng nắm nhau rất chặt. Phải đến mươi giây sau, Hữu Ly cất tiếng trước:
- Xin lỗi, cho tôi hỏi câu này nhé, có bao giờ anh làm quận trưởng Điền Quan không?
Hào Hậu không trả lời, anh mỉm cười hỏi lại:
- Còn anh nhà báo đã cùng đội vũ trang truyên truyền huyện làm mưa làm gió ở Điền Quan một thời?
Hai bàn tay vẫn không rời nhau, cùng xiết chặt hơn. Giám đốc Chung cười:
- Hai người đã biết nhau rồi à?
Đến lúc ấy chủ khách mới phân chia chỗ ngồi. Hữu Ly đáp:
- Tình bạn của chúng tôi kỳ quặc lắm.
Hào Hậu tiếp lời:
- Suốt mấy năm trời chúng tôi săn tìm giết nhau đó.
Giám đốc Chung lôi từ hốc ra một chai rượu, rót đầy ba ly thủy tinh:
- Tôi xin làm trọng tài. Mời ông Cộng Hòa với ông Việt Cộng hòa giải nhau đi nào.
Ba ly cụng nhau. Những chuyện cần nói đã đến lúc phải được nói. Hữu Ly hỏi:
- Bữa chiến sỹ biệt động ném lựu đạn vào phòng anh. Rõ ràng anh ngồi quay lưng ra cửa sổ. Áo rằn ri. Sao chỉ chết tay thư ký của anh là thế nào?
- Thằng thư ký đấy, không phải tôi. Tôi vừa qua phòng tác chiến bàn có việc gấp. Thế bữa ở nhà bà Thí. Tôi vừa được điệp báo, anh đang ngồi nói chuyện với bà già. Quân ập đến tức thời, anh biến đâu?
- Tôi biến xuống đất. Nắp hầm bí mật ở chỗ bu gà mẹ con úp lên trên ấy. Người gác báo tín hiệu có địch. Nắp hầm vừa đậy xong thì các anh tới. Bà mẹ Thí vẫn ngồi sàng lúa ở chổ cũ. Hôm phục kích, bắn cháy đúng xe Jep của anh. Cả xe cháy bùng, khói đen dựng cột. Anh thoát bằng cách nào?
- Tôi ngồi với mấy thằng lính trong xe sau. Thật là một cuộc hú vía. Đấylà lần đầu tiên tôi không ngồi xe của mình. Một chú lính có người em ruột vừa chết trận. Tôi muốn an ủi, động viên chúng. Còn anh, cái đêm anh đang diễn thuyết với đám phụ nữ ở Mỹ Xám lính ập đến đúng lúc bắt được cả lũ, anh đi đâu?
- Tôi chui ngay vào gầm giường. Hai tay bám vào thang giường đu lên. Đèn pin của các anh quét lia lịa. Anh biết không, người bấm đèn pin của anh là người của tôi đấy. Thế thì anh làm sao tìm thấy tôi được. Phải công nhận là quân cơ động của anh rất nhanh, và bọn điệp rất thính. Bữa quân tôi ập ngay vào nhà anh ở Huế, cả lũ vợ con anh mắt nhắm mắt mở, anh trốn đi đâu nhanh thế?
Hào Hậu cười đắc chí:
- Không hiểu sao đêm ấy tôi không ngủ được. Trằn trọc mãi. Linh tính báo có cái gì đó. Cuối cùng tôi quyết định trèo lên mái nhà, tụt xuống mái xối nằm. Đúng mười phút sau các anh xộc vào nhà. Chậm một phút chác thành ma rồi. Còn anh, cái hôm chúng tôi lật hầm của các anh ở bên bờ hói làng Hiền Lương ấy. May anh đi rồi, chứ không chắc bị tóm cổ trăm phần trăm.
- Tóm làm sao được. Tôi vẫn ở trong hầm ấy. Nhưng nằm ở tầng hai, dưới sâu. Các anh ném lựu đạn xuống phá hầm. Tôi vẫn bắt chân chữ ngũ, rung đùi.
Giám đốc Chung rót thêm cho mỗi người một ly rượu nữa :
- Chúc mừng các anh còn sống mà ngồi với nhau hôm nay. Nghe chuyện các anh tôi rợn cả người.
Uống cạn ly rượu Hữu Ly nói tiếp:
- Chưa hết đâu. Để tôi kể lại chuyện này cho anh Hào Hậu nghe. Hôm ấy mười bốn tháng bảy Âm lịch, có phải đó là ngày kỵ ông thân anh không?
- Dạ đúng.
- Tôi được cơ sở báo cho biết ngày ấy anh sẽ ra tạ mộ. Chúng tôi ba người, tôi và hai tay súng nữa xuất phát lúc ba giờ sáng. Cơ sở dẫn đến nghĩa trang âm Hồn. Ba anh em tìm một chỗ nấp lý tưởng nhất. Có hai phương án tác chiến. Một là đặt mình tại mộ ông Thân anh. Hai là dùng súng nồng dài bắn tỉa. Phương án một bị bác bỏ ngay với lí lẽ: Cách mạng sẽ mang tiếng vì đem mìn về phá mộ đồng bào. Phương án dùng súng nòng dài được duyệt. Chỉ một phát súng nổ. Vừa rất bí mật. Vừa không ồn ào. Sau đó rút lui rất an toàn. Đúng chín giờ năm phút, chiếc xe Jep chở anh đậu ở trước cổng nghĩa địa. Anh cùng với ba người lính đội xôi chuối lên mộ. Anh thay áo lính bằng áo dài đen, thay mũ lính bằng chiếc khăn xếp. Hương được thắp lên, anh đứng nghiêm chỉnh trước mộ khấn vái. Đúng lúc đó vòng ngắm dính chặt vào ngực anh. Súng nồng dài bắn tỉa chính xác đến mước nào anh đã biết. Cự ly một nghìn mét như đặt họng súng vào chính mục tiêu. Chúng tôi chỉ cách anh ba trăm mét. Như vậy sự chính xác đã tuyệt đối đến mức nào. Tôi chỉ còn một việc bóp cò. Và anh cũng chỉ còn một việc ngã lăn ra chết. Nhưng lúc ấy cái triết lý Việt
Chuyện càng kể, sắc mặt Hào Hậu càng biến sắc, tái dần rồi tím ngắt. Hào Hậu quỳ xuống chân Hữu Ly vái ba vái:
- Ai ngờ chính anh lại là người tha chết cho tôi.
Hữu Ly nói rất chân thật:
- Không phải tôi tha anh đâu. Mà ông bà đã cứu anh. Đạo lý của đất nước này đã cứu anh.
Giám đốc Chung rót ly rượu thứ ba, tự tay anh nâng niu đưa cho từng người:
- Xin chúc mừng các anh. Kỷ niệm của những kẻ thù với nhau trên thế gian này chưa chắc đã có một chuyện nào cảm kích đến thế.
***
Hào Hậu xin phép giám đốc Chung cho nghỉ việc ngày hôm ấy. Anh đưa Hữu Ly về nhà. Nhà Hào Hậu ở phố Bầu. Ngôi nhà trệt, mái bằng. Vườn không rộng. Sân gạch, đặt mấy chậu hoa. Cơ ngơi không có vẻ giàu sang nhưng ngăn nắp, gọn gàng. Toát lên không khí nề nếp, ấm cúng.
Hào Hậu gọi vợ và hai con tới. Anh kể lại câu chuyện vừa qua với Thủy vợ anh, Hiền cô gái lớn, Thảo cậu con trai của anh và Hào Hậu chỉ vào Hữu Ly nói tiếp:
- Chỉ cần bác ấy kéo nhẹ ngón tay chỏ nhích đi một ly thôi, chắc gia đình ta đâu còn được thế này. Bác Hữu Ly là ân nhân của gia đình ta đấy, Thủy và hai con ạ.
Ba người cám ơn rối rít. Vợ Hào Hậu rưng rưng:
- Thưa bác ông bà thường nói: con có cha như nhà có nóc. Ngay cả lúc ba các cháu đi cải tạo, em buôn thúng bán mẹt vài tuần thăm nuôi một lần, ba mẹ con hiu quạnh, nhưng vẫn là một gia đình. Nếu ba các cháu không còn mấy mẹ con em không biết sẽ ra sao. Em đội ơn bác rất nhiều.
Hữu Ly nhìn kỹ dáng Thủy. Chị không gầy. Đôi bàn tay thô kia nói với anh rằng chị là người đàn bà chăm chỉ, dám chịu vất vả ở đời. Anh nói :
- Chị ơi chuyện chiến tranh ấy mà. Tôi cũng là người lính. Tôi cũng có hai cháu như anh chị. Nếu vợ tôi không đến trường dạy học, hai đứa con tôi không lên lớp, thì các quả bom Mỹ thả trúng nhà tôi, khói tan, cả khuôn viên được thay thế vào đó bằng một hố bom. Vậy cũng đủ tan tành, xóa sổ hết rồi. Tôi cũng là người lính như anh Hào Hậu, chả cần nhiều lời chúng tôi cũng đã hiểu nhau rồi.
Hai đứa con Hào Hậu vẫn chắp tay đứng sau mẹ. Hào Hậu như chợt nhớ ra:
- Ngày hôm nay gia đình ta là một ngày vui lớn. Thủy chạy ra chợ kiếm cái gì cho anh em tôi lai rai. Thảo và Hiền dọn nhà cửa cho sạch sẽ để mừng khách quý đi nào.
Chỉ một loáng nhà cửa đã sạch sẽ, gọn gàng, một mâm cơm được bưng ra, đặt giữa chiếc chiếu hoa giữa nhà.
Hai người đàn ông cụng ly uống rượu. Hai đứa con chăm chỉ ăn. Chỉ duy có vợ Hào Hậu bưng bát lên lại đặt xuống, lo phục vụ cho hai người đàn ông thì ít mà chăm chú quan sát họ nhiều hơn. Hai bàn tay cầm rượu kia đã có lúc cầm súng nhắm vào nhau. Hai người, mỗi người một bên chiến tuyến. Không phải coi nhau là kẻ thù, mà là kẻ thù của nhau mười mươi. Chỉ cách đây dăm năm, họ tìm mọi cách để giết nhau. Ai ngờ lại có lúc ngồi cụng ly với nhau như bây giờ. Thủy để ý hai cặp mắt của họ xem còn có nét nào lăm le nhau không. Tuyệt nhiên không. Mắt Hữu Ly hồ hởi. Mắt Hào Hậu thỉnh thoảng có vẻ e dè.
Không phải Thủy không trăn trở, những câu hỏi cứ ngang tắt trong lòng chị: “Tại sao…? Lẽ nào…? Chẳng lẻ…? Liệu rồi…? Song Thủy lại tự trả lời: “Thời chiến tranh, sự sống chết trong tầm tay họ, họ còn chẳng nở, huống gì bây giờ…”. Lý lẽ đơn giản cấy cộng với tình yêu chồng da diết, Thủy gạt được những ý nghĩ vẩn vơ, để hòa vào trong cuộc vui bất ngờ này của hai người đàn ông.
Thảo hỏi:
- Ba cháu là sĩ quan có cỡ của lính ngụy. Lý lịch ấy, liệu có rồi chúng cháu có vào được đại học không hở bác?
Hữu Ly đáp tự nhiên:
- Cái thứ soi kính phóng đại vào lý lịch ấy là cái di chứng tệ hại của chiến tranh. Là di chứng thì tất nhiên đến lúc nào đó sẽ hết. Trước mắt thì cũng hơi phiền nhiễu đấy. Nhưng vào được đại học hay không là ở các cháu. Học dốt thì đừng hòng. Nhưng học thật giỏi thì chả ai cản được. Đất nước ta muốn mở mặt với năm châu thì càng ngày càng cần có tài năng. Điều tiên quyết là các cháu phải học cho thật giỏi. Chỉ có bọn khốn kiếp thì mới không biết quý trọng tài năng thôi các cháu ạ.
Hiền lúc này mới lên tiếng. Cô thiếu nữ đã xinh xắn lại có thêm chiếc răng khểnh, càng nhìn càng có duyên. Giọng Hiền dịu dàng như tiên cô:
- Bác Hữu Ly ơi, nếu cháu xin bác một lời khuyên, bác có cho không ạ.
- Sẵn sàng.
- Thế bác cho cháu mội lời khuyên đi nào.
Hữu Ly uống một hớp rượu, mắt nhìn xa xăm như đang lục tìm trong ký ức. Đặt ly xuống, thong thả anh nói:
- Hành trang thời thanh xuân của bác có ba điều tâm niệm này. Một là: Nhà Thơ Thanh Thảo có một câu thơ bác rất tâm đắc. Câu thơ ấy thế này: “Lũ thanh niên chúng tôi bùng ngọn lửa chính mình. Không dựa dẫm những hào quang có sẵn”. Câu ấy cho bác nghị lực sống. Hai là, bác có đọc tiểu thuyết Ai Van Hô của nhà văn Anh Thác-cơ-rê, ông có viết một câu rất chí lý, hình như ông sống một đời chỉ để viết ra một câu ấy: “Ta nhìn vào cuộc đời như ta nhìn vào tấm gương. Ta cười với nó thì nó cười với ta. Ta nhăn với nó thì nó cũng nhăn với ta tức khắc”. Bác đã lấy câu đó làm lẽ đời cho mình. Còn thứ ba, là cái câu rất triết lý này, bác không nhớ đã đọc được ở đâu: “Tất cả đều do ta quyết định”. Cấu ấy rèn cho bác ý chí. Ba điều tâm niệm ấy bác đã mang theo suốt đời, qua núi, qua sông. Bây giờ bác trao lại cái hành trang ấy cho các cháu. Các cháu hãy coi đó là lời khuyên rất nghiêm chỉnh của bác trong cuộc gặp gỡ đầy ý nghĩa này.
Hiền bất giác vỗ tay:
- Tuyệt vời. Cháu cám ơn bác!
Thảo được thể:
- Bác ơi, bác cho luôn cháu với nghe.
Hữu Ly gật đầu:
- Các thầy thuốc và thầy võ không bao giờ truyền cho những đứa con hư bài thuốc gia truyền, miếng võ bí truyền của mình. Coi như hôm nay bác đã truyền cho hai đứa những tuyệt chiêu rồi đấy nhé.
Hai chị em Hiền Thảo cùng quỳ dậy!
- Thưa bác, vậy bác đã là sư phụ của chúng cháu rồi đấy ạ.
Nét mặt Hào Hậu rạng rỡ, chân thật:
- Anh dạy cháu ba câu bằng tôi dạy chúng cả nửa đời người.
- Dạy thì dễ, làm thì khó - Hữu Ly đáp - Phần khó chúng ta đang chờ chúng nó đây.
Người vui nhất ngày hôm ấy, trong bữa tiệc rượu ấy là Thủy. Chị thấy lòng mình nôn nao không nói nên lời. Đã lâu lắm chị mới có một ngày vui như thế.
Cả khi cuộc rượu đã tàn, Hiền, Thảo mỗi đứa một việc, Thủy nhìn hai người đàn ông sau cuộc rượu ngủ say gác chân gác tay lên nhau, chị tủm tỉm cười. Chị chạy vào bàn thờ Phật, thắp nén hương, lẩm bẩm khấn:
-
Chia tay Hữu Ly, còn lại hai vợ chồng, chị Thủy lách cách pha cà phê cho chồng. Mùi cà phê chếnh choáng chao liệng trong phòng. Nhìn những giọt cà phê tí tách, chị nói khích:
- Độ này ba dám chơi với Việt Cộng kia đấy.
Hào Hậu vừa như giãi bầy, vừa như tâm sự với vợ:
- Cũng lạ, không hiểu sao gặp anh ấy, anh mở lòng ra được. Cả hai đứa trẻ nhà mình cũng vậy, chúng vốn xét nét, vậy mà cũng bám ngay lấy anh ấy. Thủy này, lúc bọn anh nhậu nhẹt, có lúc anh thấy em đăm chiêu?
- Em cứ băn khoăn: Liệu ông Việt Cộng với ông Cộng Hòa này có chơi với nhau được thật không?
- Cứ lấy cái cảm giác của anh lúc này mà tính thì anh hy vọng.
- Hy vọng?
- Ừ, anh hy vọng. Hy vọng ở người Việt mình. Khi chiến thắng quân Nguyên, bộ Lễ trình lên nhà vua toàn bộ hồ sơ giấy tờ của các quần thần có ý liên kết, đầu hàng giặc. Vua nhà Trần đã cho đốt tất cả đống giấy tờ ấy. Hết giặc, hết oán hờn, đất nước thái bình thịnh vượng.
- Đó là người xưa.
- Còn bây giờ. Cụ Hồ nói thế này: “Năm ngón tay có ngón dài ngón ngắn, nhưng đều tụ hội nơi bàn tay”. Em thử năm bàn tay mình lại mà xem, chỉ cần thiếu ngón út và ngón đeo nhẫm, những ngón hèn kém nhất trong bàn tay thì đâu còn là nắm đấm nữa. Cái ý thức dân tộc sâu sắc của Cụ là ở chỗ đó. Vì vậy anh hy vọng.
- Em chỉ cầu mong được yên hàn để lo cho hai đứa con của chúng mình nên người.
- Nào chúng ta có còn mong gì nữa đâu em. Đời chúng ta cho qua. Đã
đến lúc tre già măng mọc, em ạ.
***
Hữu Ly vừa đi công tác nước ngoài dài ngày, về đến phòng làm việc, anh thấy trên bàn cả một đống thư. Anh đọc lướt, bỗng anh dừng lại thư của Hào Hậu. Anh vội vàng bóc thư ra xem ngay.
Bức thư không dài:
“Kính gửi anh Hữu Ly.
Tôi báo tin này để anh mừng: Cháu Thảo đã đậu vào đại học kinh tế quốc dân tại Sài Gòn đúng như ý anh mong muốn ở cháu. Cũng hè này, Cháu Hiền đã hoàn tất chương trình đại học y. Cháu đậu xuất sắc nên bệnh viện Trung tâm Quy Nhơn đã vào tận Sài Gòn xin cho cháu về công tác tại bệnh viện. Thủy giục tôi thư ngay để anh mừng.
Mười tư tháng bảy Âm lịch này tôi định làm cái lễ tạ ông bà. Cũng phải hiểu biết rằng không có cái đức ông bà, mình không thể yên ổn được thế.
Trong lễ tạ, tôi rất muốn có anh. Trong một lần kỵ trước đây, chúng ta đã nhằm súng vào nhau. Tôi muốn trong lễ tạ này tôi với anh cầm tay nhau đến mộ cụ. Để ông bà yên tâm rằng con cháu tuy có lúc sa sẩy, nhưng cuối cùng đã không để nhục vong linh các cụ.
Lấn bấn mãi vợ chồng tôi chưa ra Hà Nội thăm anh được. Mong thông cảm. Tuy vậy rất mong anh nhận lời.
Kính thư
Hào Hậu - Thủy”
Về nhà, Hữu Ly đưa thư Hào Hậu cho vợ. Đọc xong, chị nói:
- Hàng năm nhân những chuyến công tác phía
Đúng năm ngày sau, nhằm ngày mười hai tháng bảy Âm lịch vợ và hai con Hữu Ly ra ga Hàng Cỏ đưa tiễn anh xuôi chuyến tàu vào
Hữu Ly đã ngồi trên tàu. Vợ con anh đứng dưới sân ga, anh ngoái đầu ra cửa toa, chuyện mãi không dứt.
Vợ anh thì thầm:
- Anh nhớ đặt mọi thứ lên một mâm đàng hoàng, đừng có quên rượu đấy, đặt lên mộ, khấn vào cho tử tế để các cụ hiểu tấm lòng dân Hà Nội mình.
Tiếng còi tàu tuýt tuýt ra lệnh tàu chuyển bánh. Hai đứa con Hữu Ly chạy theo tàu nhắc bố:
- Bố nhớ bảo bác Hào Hậu, bác Thủy giúp chúng con rằng chúng con mời hai bác ra Hà Nội chơi. Chúng con sẽ dẫn hai bác đi thăm thủ đô, bố nhé.
Tàu chạy. Bốn người vẫy mãi tay cho tới khi tàu đi khuất hẳn. Tàu ra khỏi ga, Hữu Ly mới sắp xếp đồ đạc cho gọn gàng. Anh giở lá thư ra đọc lại: “Trong một lần kỵ trước đây, chúng ta đã nhằm súng vào nhau. Tôi muốn trong lễ tạ này tôi với anh cầm tay nhau đến mộ cụ. Để ông bà yên tâm rằng con cháu tuy có lúc sa sẩy, nhưng cuối cùng đã không để nhục vong linh các cụ.”
Hữu Ly nghe lòng mình xao xuyến. Tiếng còi tàu xình xịch xình xịch, anh nghe như tiếng trống vào hội làng, âm vang, giục giã.
N.Q.H




