Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 21/04/2026 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Những đám mây gối đầu

1. Tuổi thơ tôi gắn liền với cọng rơm, gốc rạ, con mương và bờ đê.

Ngày ấy, như bao vùng nông thôn khác, làng tôi nghèo lắm. Cổng làng được đánh dấu bởi một cây đa đứng chênh vênh trên đỉnh dốc và những ngôi nhà nằm nghiêng bám theo hai nhánh của sườn dốc chạy xuống như hình xương cá, cái đuôi chính là những thửa ruộng kề bên hàng dừa xanh cao vút, bên một dòng sông. Trong những trang ký ức về làng quê ngày ấy, con sông đẹp nhất, hiền hòa và mát trong. Đến mùa lũ, nước sông dâng tràn, những con mương cũng ngập nước, có lúc còn có cá bơi trên đường làng. Nhưng ngày ấy thèm cơm chứ không thèm cá, khi nào bụng tôi cũng cảm thấy lưng lưng chưa no.

Nhà tôi ở giữa con dốc, đất đai không mấy màu mỡ, lương thực trông chờ cả vào thửa ruộng hợp tác xã giao khoán. Bố tôi làm cán bộ kỹ thuật trên huyện, đồng lương chả là bao, chắt bóp để dựng lại căn nhà ọp ẹp và mua được chiếc xe đạp Thống Nhất, tài sản quý giá nhất trong nhà. Chúng tôi lấy làm hãnh diện vì trong làng chỉ có vài chiếc xe đạp như thế, cứ chiều thứ bảy lại chạy ra đứng đợi bố dưới gốc cây đa đầu làng để được bố cho “cưỡi” xe đạp. Đứa ngồi trước, đứa ngồi sau ôm bụng bố tận hưởng cảm giác xe trôi xuống dốc nhanh như bay, miệng cười ha ha sung sướng.

Tôi thấy bố mẹ làm việc quần quật, nhưng anh em tôi vẫn cứ đói. Đói thì còn nghĩ gì hơn ngoài ăn. Có lần vì ăn khoai lâu ngày quá, cái mùi khoai lang nó xộc lên tận mũi, thế là tôi cố nài mẹ mang khoai đi đổi mớ gạo. Chưa bao giờ cơm trắng muối vừng lại ngon như bữa trưa hôm đó. Nhưng rồi đến đêm mẹ bị đưa ra thôn phê bình thậm tệ vì cái tội đưa lương thực đi bán. Người chỉ điểm đồng thời cũng kịch liệt bắt mẹ tôi phải chịu kiểm điểm trước hợp tác xã ấy là lão Tống. Lão Tống là đội trưởng đội sản xuất, bố cái Giang lớp tôi. Ông ta cũng có một chiếc xe đạp, ngày nào cũng lượn xe khắp làng ra vẻ cán bộ huênh hoang lắm. Mẹ tôi không ưa lão Tống vì lão hay hiềm khích gia đình tôi. Mẹ bảo, con bé Mai em tôi suýt chết rét một phần cũng vì lão. Dạo đấy là mùa cấy lúa. Mẹ tôi vừa sinh em Mai được ba tháng. Cuối năm nhiều việc, bố bận không về được. Mẹ dẫn theo chúng tôi sang nhà lão Tống xin buổi chiều cắt cử cho vài người để cấy lúa cho kịp. Trưa, mẹ dặn tôi ở nhà trông hai em rồi ra đồng sớm đắp bờ, vừa làm vừa ngóng. Thấy lão Tống đạp xe đi qua, mẹ tôi gọi với theo:

- Bác Tống, bác Tống… Bác đã gọi người cho tôi chưa?

- Ai cũng bận cả rồi, chị bảo anh nhà về mà giúp.

Nói rồi lão vụt xe đi mất, đi được một đoạn còn quay lại nhổ nước bọt cái phẹt bên đường. Mẹ tôi dừng tay, trèo lên bờ chạy đi kiếm người rồi cũng mướn được mấy cô thím giúp đỡ, ai cũng bảo có nghe lão Tống nói gì đâu. Trời đã tối mịt, chờ mãi không thấy mẹ về tôi chạy đi tìm, bảo thằng Hà trông em nhưng kết quả là nó ngủ quên, để em đói khát, đạp tung hết chăn ra ngoài và khóc cho đến khi lịm đi. Mẹ trở về thấy cái Mai tím tái, nằm bất tỉnh trong chiếc cũi tre. Hốt hoảng, mẹ bế em đặt lên giường rồi lấy tất cả chăn đắp lên người em. Người mẹ khi ấy còn ướt sũng, lấm lem bùn đất, đầu tóc bù xù, hai chân như muốn va vào nhau. Tôi sợ, vừa nhóm lửa vừa run lẩy bẩy. May mà Mai không mệnh hệ gì, không thì tôi ân hận suốt đời.

Trong lớp, Giang là đứa con gái tôi ít thiện cảm nhất, một phần vì nó là con gái lão Tống, một phần vì nó ít cởi mở. Nó học giỏi và khá xinh. Có vẻ càng lớn nó càng đẹp, bọn con trai trong trường thi nhau viết thơ tình cho nó. Nó đâu có đọc. Có lần đang ngồi học, tôi liếc nhìn nó. Khuôn mặt mộc đáng yêu nhưng đôi mắt thì sâu hút và nghiêm nghị. Tóc nó dài đến eo, khi nào cũng thơm mùi bồ kết, được buộc lỏng bằng một chiếc khăn mùi xoa có thêu họa tiết màu hồng nhạt. Chưa bao giờ tôi thấy con Giang khóc, cho đến một lần, thằng Tào Lượn giật chiếc khăn buộc tóc của nó. Tào Lượn mang chiếc khăn mùi xoa lên lớp rồi rêu rao là em Giang tặng cho nó. Con Giang xin mấy thằng Tào cũng không trả. Cuối cùng, giận quá nó hét lên rồi lao vào người thằng Tào như một mũi tên, hai đứa ngã xuống đất, quần áo bê bết đất cát. Chúng tôi đứa nào đứa nấy tròn xoe mắt vì chưa bao giờ thấy con Giang quyết liệt như vậy. Thằng Tào lồm cồm bò dậy, túi áo nó bị rách, ức quá nó ném chiếc khăn xuống đất rồi lấy chân gí lên. Tào Lượn có vẻ mất hứng, quay đít bỏ đi. Con Giang chưa kịp chỉnh lại quần áo, chạy nhào đến nhặt lấy cái khăn. Tôi thấy mắt nó rưng rưng, buổi học đó chỗ nó để trống.

Giang học văn rất giỏi, bao giờ cô giáo cũng lấy bài của nó đọc mẫu cho cả lớp nghe. Có một lần, đề văn viết về kỷ niệm gia đình, tôi thấy nó ngồi thần ra rất lâu rồi gần cuối giờ mới viết. Hôm trả bài nó xin cô đừng đọc, nhưng rồi mấy đứa cũng chôm vở nó đọc trộm. Quả thực như lời cô giáo nói, nó chỉ viết một đoạn văn ngắn: “Đêm qua trăng rằm, mẹ lại về. Mẹ chải tóc cho con bằng chiếc lược tre đã gãy mất hai răng. Bàn tay mẹ gầy gò vuốt ve má con tạo nên những đợt sóng yêu thương xao xuyến. Rồi mẹ hát ru con ngủ, câu hát ầu ơ ngọt tựa nước giếng quê mình những buổi trưa hè con khát. Con không dám ngủ, sợ mẹ lại bỏ con đi. Mẹ nằm bên, sờ nắn đôi bàn tay con, mẹ vẫn hát và ánh trăng đắp chiếc mền màu mật ong lên hai mẹ con thật ấm. Con ngửi được hơi ấm tỏa ra từ bầu ngực mẹ. Con nhìn lên đôi mắt mẹ hiền, mẹ đẹp tựa ánh trăng. Rồi con ngủ thiếp đi giữa hai bầu ngực của mẹ. Một giấc ngủ không mộng mị, không trằn trọc, chỉ có một mùi thơm của sữa quấn lấy chiếc mũi bé xíu của con. Và, ban mai đổ xuống mảnh vườn con hắt qua khung cửa sổ, con giật mình choàng tỉnh bởi tia nắng đâm thẳng vào mặt. Những hạt bụi li ti quay tít trong sợi nắng bay ra ngoài, con biết mẹ đã đi. Những giọt sữa vẫn còn ấm lăn xuống cằm con ròng ròng...”

Lần đó tôi gạn hỏi mẹ mới biết Giang mồ côi mẹ khi mới lên hai. Nhà nó trước ở xã bên, bên kia sông. Mẹ nó đẹp, hiền lành nhưng hay ốm đau, sinh nó chưa đầy một năm thì bị mất sữa vì khối u ở vú. Những ngày tháng bệnh nặng không được thuốc thang tẩm bổ, lại bị bố mẹ chồng ghẻ lạnh, mẹ nó tiều tụy rất nhanh. Bố nó là cán bộ lâm trường bị mất việc không rõ vì lý do gì, người ta đơm đặt đủ kiểu chẳng biết nghe ai. Người thì bảo do lão ăn trộm của lâm trường bị bắt quả tang. Người thì bảo do thần kinh lão không bình thường. Lão lao vào rượu chè bê tha. Thi thoảng người ta nhìn thấy lão đưa con gái ra quán rượu rồi cho nó bò lê lết dưới chân bàn, hễ khóc lại ngả cổ nó ra đổ cho chén rượu thì im, ngủ khì dưới đất. Rồi nghe người ta bảo mẹ nó chết nước ở cái mương trước nhà. Không lâu sau, bố nó lấy vợ mới, là cô con gái chửa hoang của ông Phính Chủ tịch xã rồi ở rể luôn bên này. Con Giang có em trai, nhưng không cùng máu mủ. Nó vẫn học giỏi, vẫn ăn ngon mặc đẹp nhưng nó rất ít nói, đôi mắt buồn sâu hút.

Học hết lớp chín, bố tôi gặp tai nạn lao động phải nghỉ mất sức, tôi đành phải nghỉ học. Tôi có tài sát cá, sát chim nên ngày nào cũng đi nơm cá, bẫy chim, chưa bao giờ trở về tay không. Một lần đi gom lưới, nhìn từ xa tôi thấy Giang đang ngồi bên một bàu sen. Từ khi nghỉ học tôi chưa gặp lại nó, nghe nói nó vẫn học giỏi không thua gì những đứa trên huyện. Có lần thầy hiệu trưởng còn đưa xe máy về đèo nó đi nhận giải tỉnh cơ mà. Giang như bông sen trong đầm kia vậy, mọc lên trên vũng bùn lầy, thế mà vẫn thơm, vẫn sạch và sáng trong. Tôi ngập ngừng, tính rẽ bờ đê lánh đi thì bỗng nghe tiếng Giang gọi:

- Quân… Có phải Quân đấy không?

- Ừ, Giang đấy à? Làm gì ra đây ngồi sớm thế?

- Đằng kia kìa. Mặt trời sắp nhú lên đấy.

Tôi biết Giang thích dậy sớm đón bình minh, thế là bàu sen trở thành nơi gặp gỡ thường xuyên của chúng tôi những sớm mùa hè. Thì ra cái cảm giác đón mặt trời mọc cũng thật thú vị. Chúng tôi cùng nhìn về phía hàng dừa và chờ đợi. Những tia nắng màu hồng nhạt bắt đầu hắt lên những đụn mây đang còn ngái ngủ. Thỉnh thoảng Giang đạp xe đến nhà tôi giúp em Mai học bài. Có lần tôi để ý mới thấy Giang không còn buộc cái khăn thêu ngày xưa nữa, có lẽ nó đã cũ rồi, tóc cô ấy đã dài xuống quá thắt lưng.

- Sao Giang không buộc tóc bằng chiếc khăn đó nữa?

- Bây giờ buộc nó không còn chặt nữa rồi. – Vừa nói Giang vừa đưa tay kéo đuôi tóc về phía trước ngực rồi vuốt vuốt.

- Mỗi lần chị Giang thả tóc ra nhìn chị Giang giống cô văn công hát cải lương về làng, đẹp quá chừng! - Mai nói rồi nhoẻn cười với tôi. Thực ra, đó cũng là suy nghĩ của tôi, Giang đã sắp sửa bước qua cái tuổi mười bảy đầy nữ tính. Ngực cô đã nhô lên cao đầy đặn sau làn áo, những ngón tay thon dài cứ đưa lên vuốt tóc rẽ qua hai bên tai trông khá điệu đà, đôi mày rậm khiến ánh mắt Giang sâu thẳm. Có những lúc tôi phải cố xô mình ra khỏi ý nghĩ sẽ được thơm lên đôi mắt ấy của Giang.

Bố tôi sau tai nạn năm ấy gãy mất một cánh tay, việc ruộng vườn thật không dễ chút nào. Mẹ tôi phải làm đủ việc để nuôi hai em tôi đi học, ngày đi làm đồng, tối về bập bùng cùng nồi rượu và con lợn cái. Còn tôi, trở thành thằng thanh niên biết lo biết nghĩ tự bao giờ. Bố thường đau nhức vào mùa rét, thấy mẹ vất vả lòng bố cũng không yên. Một buổi sáng cuối đông, tôi thức dậy và thấy bố đang cặm cụi cuốc đất rồi bón phân để ương những luống rau trước nhà. Bố đưa cánh tay bết đất lên lau mồ hôi trên trán, trông thấy tôi ông cười hiền từ. Tết năm ấy, bác Cao, bạn của bố đánh xe hơi về nhà tôi chơi. Bác Cao là giám đốc một công ty công trình giao thông lớn trên tỉnh.

- Thằng này càng lớn càng đẹp trai giống bố nhỉ. Trông cũng nhanh nhẹn và được việc đấy. Ra Tết đi theo bác vào làm công nhân rồi dần học lấy cái nghề. – Bác Cao nói rồi quay sang bố tôi tỏ vẻ hài lòng. Thì hai người đã tính chuyện cho tôi đi làm từ trước, chỉ đợi ra năm là bác đón tôi lên tỉnh làm việc.

Minh hoạ: Trương Đình Dung

Trước ngày đi, tôi hẹn gặp Giang ở ao sen. Giang bảo, kỳ cuối rồi chắc Giang không có thời gian mà ra đây chơi nữa. Nghe tin tôi sắp đi làm, không biết Giang vui hay buồn, chỉ thấy ngồi im không động đậy gì, mắt vẫn nhìn chằm chằm vào chiếc lá sen lấm tấm sương trước mặt. Tối hôm ấy, tôi nằm trằn trọc mãi, muốn gặp Giang một lúc nhưng không thể. Sáng hôm sau, bác Cao cho anh tài về đón. Tôi cứ nấn ná, nhìn một lượt dọc con đường làng tìm kiếm một hình bóng. Xe từ từ leo lên con dốc, tôi nhìn ra ngoài cửa sổ nơi có những chiếc ngõ nhỏ vắt qua con đường làng và những dây tơ hồng chăng khắp bụi rậm. Giang đang đứng đợi dưới gốc đa. Tôi xin anh tài dừng lại. Vừa bước xuống, Giang chạy đến dúi mạnh thứ gì đó vào tay tôi rồi đạp xe đi mất. Đó là chiếc khăn được gấp vuông thêu hình bông sen hồng đã nhạt màu, bên trong là bức ảnh chụp làm sơ yếu lược của Giang.

Giang học đại học tận ngoài thủ đô, sống cùng cậu mợ. Thi thoảng chúng tôi có biên thư hỏi thăm nhau. Đến một ngày, những lá thư tôi viết mãi không thấy hồi âm. Có lẽ Giang đã có bạn trai hoặc cô ấy đang say sưa với việc học và cuộc sống mới.

Làm công nhân được một năm, bác Cao gửi tôi vào các lớp học bổ túc ban đêm và sau đó đưa đi đào tạo lớp cán bộ kỹ thuật. Ba năm sau, tôi đã là một kỹ sư xây dựng được tín nhiệm. Mỗi lần về quê, tôi lại hỏi tin tức của Giang nhưng không ai rõ. Bạn bè bảo, Giang rất ít về quê, có lẽ cô ấy đã đi làm và lập gia đình luôn ngoài đó.

Thời gian qua đi, những cây cầu mọc lên vững chãi, những con đường rải nhựa chạy dài thẳng tắp mang tình yêu của tôi đi khắp mọi nơi, khỏa lấp nỗi nhớ thương và trăn trở về mối tình đầu. Tôi sống cùng bác Cao nhiều năm. Ông có một cô con gái duy nhất là Nhã. Tôi coi Nhã như em gái. Nhã là cô gái đáng yêu và cá tính một cách khó kiểm soát. Mất mẹ sớm, lớn lên trong bàn tay của bảo mẫu, bố lại thường xuyên vắng nhà, cuộc sống quá tự do và thừa thãi vật chất, song lại thiếu thốn tình cảm dẫn em đến lối sống ăn chơi buông thả. Em không sợ trời cũng chẳng sợ đất, nhưng em nghe lời tôi hơn ai hết. Vì thế, mỗi lần em cãi nhau với bố bỏ đi qua đêm ở ngoài, bác Cao lại nhờ tôi khuyên giải. Hôm ấy, tôi đi tìm em khắp nơi. Rồi tôi dừng lại tại một quán bar em vẫn hay lui tới cùng đám bạn. Trong tiếng nhạc quay cuồng, em thét vào mặt tôi:

- Anh cần gì lãng phí thời gian với con nhỏ hư đốn như em.

Tôi giật phắt ly rượu trên tay em uống cạn:

- Anh cũng hư đốn đây thôi.

Tôi dìu em đến ngồi một góc nhỏ. Tiếng nhạc lắng xuống, em khóc khóc cười cười:

- Anh Quân nghĩ có thằng đàn ông tử tế nào muốn cưới người như em không?  

- Em thì sao mà không có người cưới? Ngốc thế!

- Vậy anh có muốn cưới em không?

Tôi bỗng nhiên chết lặng trong vài giây vì câu hỏi của Nhã. Chưa kịp đối đáp ra sao thì em cười ré lên:

- Ha ha ha… Em biết ngay mà. Anh biết hôm nay là ngày gì không? Là sinh nhật em đấy. Cả ngày hôm nay chúng em đã quậy phá tưng bừng. Bố gọi em về chửi mắng. Ông ấy đâu nhớ sinh nhật của em. Thôi, nâng ly nào!

Tôi không uống tốt nhưng cố chiều Nhã. Em uống và hát, hồn nhiên đáng yêu trước mặt tôi không một chút ngại ngùng. Chúng tôi cùng hát, cùng nhảy múa và say từ lúc nào không hay. Tỉnh dậy khi mặt trời đã đâm thẳng vào mặt qua khung cửa kính. Nhã trần truồng say ngủ trong vòng tay tôi từ bao giờ. Tôi hốt hoảng lao vào phòng tắm. Điều gì đã xảy ra đêm qua, những hơi thở nồng nặc bê tha phả vào tấm gương mờ mịt.

Hai tháng sau, hay tin Nhã mang thai, tôi đến nhà gặp Nhã. Bác Cao không những không giận mà còn lấy làm vui khi biết chuyện. Ông muốn tôi và Nhã cưới nhau. Còn Nhã, vẫn kiểu ăn nói bất cần đời, em ném vào tôi những lời quả quyết: “Chuyện qua đêm với đàn ông đối với em không phải lần đầu. Vì thế, chắc gì đứa con này là của anh Quân. Anh không phải băn khoăn gì về chuyện hôm ấy”.

Bụng Nhã ngày một lớn dần. Bác Cao và bố mẹ tôi muốn chúng tôi đi đến hôn nhân nhưng Nhã vẫn kiên quyết từ chối. Từ khi hay tin có thai, Nhã không hay đi chơi nữa, tính cách cũng dễ chịu hơn. Tôi không yêu Nhã. Trong những giấc mơ của tôi không có Nhã, kể cả người phụ nữ đến trong suy tưởng của tôi vào đêm sinh nhật hôm ấy cũng không phải là Nhã. Nhưng đứa con là của tôi. Nhã yêu tôi đã rất lâu. Ngày đứa trẻ cất tiếng khóc chào đời, Nhã đã nói với tôi như thế. Cũng là cái ngày Nhã từ giã cõi đời. Trong hơi thở run run, môi Nhã mấp máy câu gì đó, đó là một lời xin lỗi. Sau này tôi mới biết Nhã đã cố gắng xin lỗi tôi về những lá thư của Giang đã không đến được tay tôi.

Tôi không giận Nhã vì lúc ấy cô ấy còn trẻ quá. Còn lại trong tôi chỉ là sự nuối tiếc đã mất đi một người em gái như Nhã. Đổi lại, chúng tôi cùng có chung một Yến Như đáng yêu và nhanh nhẹn. Tôi luôn cho con bé những hình dung tốt đẹp về mẹ, người đã trút hơi thở cuối cùng để cố gắng đưa nó đến với cuộc đời tươi đẹp này.

Bây giờ đây hai bố con tôi đang ngồi ở hàng ghế thứ năm của hội trường nhà văn hóa thiếu nhi tỉnh. “Viết thư quốc tế”, tên cuộc thi là vậy. Qua lời kể của bố, Yến Như đã viết một lá thư vừa hồn nhiên trong sáng, vừa giản dị mộc mạc đầy cảm xúc gửi cho một người bạn lớn tuổi đang sống ở nước ngoài kể về sự đổi mới của quê hương. Nó là tôi của ngày ấy. Yến Như chưa gặp Giang, nó chỉ biết bố nó có một người bạn gái thuở học trò thường cùng nhau ngồi bên bàu sen đón bình minh và bố luôn mang theo bên mình chiếc khăn thêu hình bông sen đã sờn chỉ, úa màu cùng bức ảnh một cô nữ sinh áo trắng có đôi mắt đen sâu thẳm.

* * *

2. Trên chặng đường đời gần bốn mươi năm, hai người đàn ông quan trọng nhất với tôi chính là bố và Quân.

Bố cư xử tàn độc với mẹ, bố tự ru ngủ mình bằng cách chìm đắm trong men say, bố tưới vào cổ họng tôi những chén rượu đắng chát để bắt tôi im ngủ. Dẫu như thế, tôi vẫn không thể hận bố. Bố quả thực rất đáng thương. Cuộc đời ông là một chuỗi lê thê những bon chen đố kị, mất niềm tin vào cuộc sống và chính bản thân mình. Ông tưởng rằng tiền tài sẽ làm cuộc sống hạnh phúc hơn, nhưng rồi trong cơn say ông đã đi tìm hạnh phúc thực sự của mình. Đó chính là mẹ. Và mẹ thì lúc nào cũng bao dung dang tay đón bố…

Những năm tháng sinh viên, tôi ở cùng với cậu mợ, người thân duy nhất tôi còn lại. Tôi thường viết thư cho Quân, nhưng rồi đến một ngày những lá thư chẳng bao giờ trở lại. Có lẽ, đối với Quân, chiếc khăn thêu ấy chỉ đơn giản là một kỷ vật tuổi thơ. Còn với tôi, đó là tất cả niềm tin muốn gửi gắm. Tốt nghiệp ra trường, tôi cùng cậu trở về thăm quê vào ngày giỗ mẹ. Tôi hay tin Quân sắp kết hôn cùng cô con gái tổng giám đốc một công ty lớn trên tỉnh. Tôi trở lại bàu sen ngày xưa, bàu sen vẫn còn đó nhưng người thì đã đi xa. Trở lại thủ đô, tôi quyết định ở lại làm việc cho một tờ tạp chí, lao vào công việc để quên đi những gì đã xảy ra với mẹ, với bố và cả mối tình thầm lặng thuở học trò dường như cũng đã khép lại sau lũy tre làng...

Chuyến này tôi trở về để cất cho bố mẹ nấm mồ đàng hoàng che nắng che mưa, luôn tiện nhận lời mời tham dự lễ trao giải một cuộc thi sáng tác văn học. Giờ đây tôi đã ngồi ở hàng ghế thứ sáu của hội trường nhà văn hóa thiếu nhi tỉnh. Tôi muốn ngồi ở đây một lúc để quay về cái cảm giác hồi hộp chờ đợi của ngày nào được thầy hiệu trưởng đưa đi nhận giải thưởng học sinh giỏi văn cấp tỉnh. Trước tôi là một cô bé có hai bím tóc rất mượt đang đung đưa cái đầu trò chuyện với một người đàn ông được gọi là bố. Con gái thường thích được bố đưa đi hơn là mẹ thì phải, tôi thầm nghĩ rồi nhớ ra ngày ấy chẳng phải bố mà cũng chẳng phải mẹ đưa tôi đi.

* * *

3. Cô bé Yến Như có vẻ hơi bồn chồn khi tiếng ban tổ chức cất lên: Đề nghị các bậc phụ huynh và các thầy cô giáo cho các cháu ổn định chỗ ngồi. Quân nhìn xung quanh một lượt, anh thấy tự hào về cô con gái và niềm vui về một thế hệ trẻ năng động. Bỗng ánh mắt anh dừng lại ở một người phụ nữ đang quay lưng bước ra ngoài hội trường, người phụ nữ mặc chiếc áo dạ màu mận chín quàng chiếc khăn màu xanh lam. Một dáng đi rất quen, mái tóc dài đen mượt... Anh đi ra ngoài, có lẽ phải hút một điếu thuốc trong lúc chờ đợi. Những làn khói bạc thoát ra bay lượn lờ rồi mờ nhạt dần trong không khí, chợt cái câu “nhà văn Hoài Giang – một người con của quê hương” vang lên trên loa. Suýt nữa cái lạnh kéo hai hàm răng của anh cắn phập vào cái đầu lọc, anh cứ rít và khói liên tục tràn vào khoang miệng…

Đêm hôm đó, Yến Như mệt quá đi ngủ sớm, tấm bằng khen để ở đầu giường. Còn Quân thì đang hút thuốc bên chiếc bàn làm việc, ánh sáng từ cây đèn bàn cứ dồn vào chữ ký của nhà văn Hoài Giang ở trang đầu của cuốn sách cô tặng cho bé Yến Như. Không sai vào đâu được, trên bìa sách kia là đôi mày và ánh mắt sâu thẳm của Giang, người phụ nữ quàng chiếc khăn màu lam ấy chính là Giang… Quân cứ miên man trong những dòng suy nghĩ. Nhưng biết tìm Giang ở đâu?

* * *

4. Làng của bố giờ đã khác nhiều so với những gì bố kể cách đây chừng ba mươi năm: cổng làng được xây cao hình vòm cung, đường làng được rải nhựa xe chạy êm ái, những tòa nhà cao tầng mọc lên vững chãi và trên cánh đồng lúa xanh rì thẳng cánh cò bay chỉ thấy toàn máy móc thay cho bàn tay con người. Thời bố kể đã qua lâu lắm rồi, khi ấy tôi chỉ là một hạt bụi nào đó chưa được bắn vào bụng mẹ. Lâu rồi chưa về thăm nội, trời lạnh thế này chắc hai cụ lại nhóm bếp rồi ngồi ôm gối kể chuyện xưa. Bao giờ tôi cũng bị cuốn hút bởi những câu chuyện của các cụ, mặc dầu cũng có những chuyện tôi không thể hiểu hết. Chỉ có chuyện về bố và cô Giang khiến tôi tò mò nhất. Ông nội nói: “Duyên phận tại trời.” Bà nội chiếp miệng: “Tôi cũng thương con Giang, nó khác bố nó. Nhưng họ hàng nhà nó chê thằng Quân không muốn chúng nó làm bạn. Thôi thì người tính không bằng trời tính. Mong cho bố nó tìm được ai tốt nết thương lấy con bé Yến Như lúc nào cũng há hốc mồm nghe lỏm chuyện của ông bà này này…”, bà nội vừa nói vừa véo mũi tôi một cái rõ đau.

Đang ngồi nướng khoai với nội trong bếp thì tôi nghe tiếng xe máy của bố dừng trước nhà. Tôi chạy ùa ra hỏi bố vừa đi đâu về thì thấy bố đang chạy quanh tìm tôi. Bố lau nhọ nồi trên má tôi rồi hỏi:

- Con có muốn gặp lại nhà văn Hoài Giang không?

- Ở đây á? – Mắt tôi đảo một lượt, tưởng chừng cô Hoài Giang trốn sau lưng bố hay đang thập thò ngoài ngõ cũng nên.

Bố chở tôi đi hết con đường lớn, băng qua một cây cầu bắc qua sông rồi vòng đi vòng lại rất nhiều lối rẽ. Đến một con đường mòn nhỏ xíu có cỏ mọc um tùm bố dừng xe lại rồi đi bộ. Trước mặt là một nghĩa địa nhỏ với những ngôi mộ nằm ngay ngắn, xung quanh có rất nhiều khóm cúc vàng đang bung nở. Và tôi thấy bên cạnh hai ngôi mộ có vẻ như vừa mới xây nghi ngút khói hương có một người phụ nữ đang ngồi đốt những xấp giấy bạc. Bố dẫn tôi đến bên và người phụ nữ quay đầu lại.

- A… Cô Hoài Giang!

- Hai bố con về khi nào vậy?

- Vừa về sáng nay. Giang có khỏe không? À, mà phải gọi là Giang hay nhà văn Hoài Giang nhỉ?

- Anh Quân đừng đùa như thế…

Tôi thấy rất vui vì bố và nhà văn Hoài Giang là bạn của nhau. Tôi rất thích cô ấy. Bố đưa tôi hai cây hương. Tôi cắm lên mộ rồi xin phép chạy đi nghịch hoa dại, những bông hoa tí xíu nhiều màu sắc cứ rung rinh như những khuôn mặt cười đùa nghịch nhau trong gió. Bố và cô Hoài Giang cùng nhau đi bộ, đi được một đoạn thì họ dừng lại chuyện trò gì đó. Tôi chợt nhớ về người bạn gái thuở học trò của bố mà ông bà nội thi thoảng nhắc đến, cũng tên là Giang, hay chính là cô ấy? Rồi bất chợt tôi thấy bố đưa tay vào ngực rút từ trong túi áo ra một chiếc khăn. Vậy là đúng rồi, nhà văn Hoài Giang là chủ nhân của chiếc khăn thêu và bức ảnh mà bố luôn mang theo trong chiếc ví nhỏ. Tôi chợt nghĩ đến mẹ rồi chợt nghĩ đến bố, tôi liếc sang thì thấy cô Giang đang đặt chiếc khăn ấy lên mặt và bật khóc, bờ vai cô ấy khẽ rung rung. Bố kéo đầu cô ấy tựa vào vai mình, cô ấy vẫn nấc từng cơn như thể một đứa trẻ. Lúc ấy trông bố không còn là bố, còn cô Giang cũng không còn là nhà văn Hoài Giang mà tôi được biết. Họ trở về là những đứa trẻ. Tôi bỗng thấy mình lớn hơn.

Bố và cô Giang vẫn đứng bên nhau như thế nhìn về phía chân trời xa nơi có những đám mây êm dịu gối đầu lên nhau và những cánh én nhỏ liệng bay rủ nhau về cùng mùa xuân.

N.D.H

 

 

NGÔ DIỆU HẰNG
Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 257

Mới nhất

Thông báo về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí

13/04/2026 lúc 22:15

THÔNG BÁO Về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí Kính gửi quý bạn đọc,

31/07/2025 lúc 15:23

Tạp chí Cửa Việt - 35 năm một chặng đường

28/06/2025 lúc 16:18

Ngày 28/5/2025, Tạp chí Cửa Việt tổ chức lễ kỷ niệm 35 năm tạp chí ra số đầu tiên và gặp mặt cộng tác viên năm 2025. Tại buổi lễ, Phó Tổng biên tập phụ trách Hồ Thanh Thọ đã có bài phát biểu khai mạc...

Vùng trời hoa sim

26/06/2025 lúc 23:29

Những triền sim tím đồi xaBềnh bồng nâng gót mùa qua lặng thầm

Hương xưa; Nắng sớm

26/06/2025 lúc 23:27

Hương xưa… Ta về tìm lại hương xưa

Tạp chí số cũ
Câu chuyện du lịch
tư tưởng Hồ Chí Minh

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

22/04

25° - 27°

Mưa

23/04

24° - 26°

Mưa

24/04

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground