Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 22/04/2026 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Nơi dòng sông bắt nguồn

Mới nghe cái giọng cười lảnh lót ở đầu rạch đã thấy con nhỏ ôm chầm lấy ngoại từ phía sau, hơi từ miệng con nhỏ phả sát vào lỗ tai thật ấm áp.

- Ngoại ơi, ngoại mần gì đó?

Bà Tám nở nụ cười móm mém.

- Ờ, mới về hả bây? Ngoại đang chuẩn bị mấy món để tết này bây về có cái mà ăn.

- Ở siêu thị họ bán nhiều lắm ngoại ơi. Ngoại nghỉ ngơi cho khỏe, làm chi thêm cực.

Miệng thì nói vậy nhưng trong tâm Mẫn biết ngoại làm quen tay quen chân rồi, ở không buồn lắm. Mấy năm trước, con rạch chật hẹp mọc đầy cây hoang cỏ dại. Gần tết cha Mẫn phải phát dọn những mảng rau dừa và lục bình dày đặc để có lối đi. Sợ ngoại ở một mình nửa đêm trái gió trở trời, cha nhiều lần năn nỉ ngoại lên thành phố ở mà ngoại cứ từ chối. “Má nhớ mấy con vịt hay kêu cạp cạp bên chân”. “Hay má sợ đêm khuya gió lọt qua cửa không có ai trò chuyện?”. Đêm nuốt chửng Mẫn vào lòng mà vẫn không nhắm mắt được vì không hiểu câu hỏi của cha, cũng không hiểu cái lặng thinh của ngoại.

Vừa trò chuyện với bạn trên facebook, Mẫn hỉnh mũi vì mùi mứt ngoại đang sên, mắt thì ngó nghiêng cái cửa nhà còn in vết lủng lỗ. Không biết giờ này Minh đã về đến quê chưa, đến cái nơi mà Minh nói thiệt xa, mỗi năm hứng chịu hơn chục cơn bão, rồi những mùa hè nóng như ai rang cát trên lưng. Nhưng khi được tắm sông thì sướng không ai bằng. Minh cho Mẫn xem cái bản đồ sông Thạch Hãn lấy trên mạng về. Đọc chát mà Mẫn đâm ra giận dỗi. Trời ạ, người ta từng là học sinh giỏi toàn diện cả ba môn văn, sử, địa nhé và là tay hùng biện cự phách của trường cấp Ba. Sông Thạch Hãn là con sông dài và đẹp nhất tỉnh Quảng Trị được bắt nguồn từ phía Đông dãy Trường Sơn. Là mạch máu giao thông đường thủy rất quan trọng nên nơi đây thường diễn ra những trận đánh ác liệt trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ. Biết là vậy nhưng Mẫn chưa thể giải câu đố của Minh về một người đặc biệt gắn liền với con sông này và gắn liền với con sông quê nội của Mẫn.

*  *  *

Lùng sục trên mạng để tìm lời giải, Mẫn quên mất trời đã về chiều. Cũng may, khi ngẩng đầu lên vẫn còn thấy chút ít nắng nhạt trải dài trên Đầm. Và gió bắt đầu mang hương thơm mát lành luồn vào tận căn bếp nhỏ. Cha kể, hồi xưa nhà mẹ ở bên kia Đầm, là căn cứ cách mạng của Tỉnh ủy. Mỗi ngày cha đều bơi xuồng ra đầm để giăng lưới bắt cá và mong gặp người con gái hay bước ra hàng dừa nước phía trước nhà để rửa chân. Nhớ là vậy nhưng không dám nói vì ở tuổi mười tám còn nhiệm vụ cách mạng giao cho, sợ chiến tranh, sợ mình có khi không về để người ta phải chờ đợi, chỉ dám len lén nhìn nhau rồi quay đi. Mẫn ngồi lặng im mà không dám nói với cha rằng nếu bây giờ con thấy thương nhớ một người thì sao?

“Má ơi khoai lang chín chưa để con thắp hương cho ngoại?”. Giọng cha rền rền mà ấm vọng cả căn nhà nhỏ. Ngoại kể rằng, bà Cố rất thích ăn khoai vì có một người cũng thích ăn khoai như thế. Có lần Mẫn định thắc mắc hỏi rằng, người khác thích thì liên quan gì đến việc thích của Cố nhưng lại thôi. Giờ thì Mẫn bắt đầu cảm nhận được khi thích một người, ở cạnh bên một người sẽ ấm áp như thế nào nên nếu vì một người nào đó mà Cố trở nên thích ăn khoai cũng là việc… bình thường.

- Hồi đó má mấy tuổi? - Cha ngồi sà xuống cạnh ngoại, bóc lủm miếng bánh bông lan cho vào miệng như hồi còn con nít.

- Lúc đó má tầm tám, chín tuổi bằng hồi con đưa Mẫn rời khỏi con rạch này. Mỗi lần thấy bà ngoại ra chòi ở phía sau hậu đất để đưa cơm má hay chạy lúp xúp phía sau. Gọi là xóm chứ đếm chưa tới chục nóc nhà ở cái xứ đồng không mông quạnh này. Xung quanh nhà mình cỏ lác mọc cao quá đầu người nên ngoại không phát hiện ra. Nhưng sau mấy lần nhìn thấy trên mặt có mấy vết bị cỏ cắt dọc ngang, ngoại đoán ra được. Ngoại không cấm đi theo nhưng dặn là không được nói với ai hết.

- Má có nhớ hình dáng người đó?

- Như in trong đầu vậy nè. Có lần má được người đó xoa đầu. Ổng nói cái gì đó nhưng giọng khó nghe lắm. Má thẩy ổng ăn trầu, hút thuốc, đầu bịt khăn rằn, mặc áo quần bà ba bằng vải hột dền, đựng đồ đạc trong bao cà-ròn không khác gì ông Tám bên Xẻo Đước. Sau này nghe bà ngoại kể lại là ổng khen má có đôi mắt sáng. Người đó ăn rất ít cơm, dù rất thích cá rô nhưng mỗi lần chỉ ăn một con cá nhỏ. Ổng nói nên ăn uống tiết kiệm. Suốt mấy đêm liền má trằn trọc lắm, nửa muốn chạy qua khoe cái con bạn bên kinh Ông Chệt, nửa lại sợ bà ngoại rầy. Còn nhỏ xíu mà phải giữ bí mật thiệt là khó chịu. Đến lúc không thấy ngoại đem cơm nữa, má hỏi thì ngoại nói “người” đi công tác rồi, chắc không trở lại Đòn Dong nữa đâu. Thế là má nín một hơi thật dài, chạy một mạch qua con đường tắt đầy lau sậy để hú nhỏ Hồng. Nhỏ Hồng thì khăng khăng đó là Bác Hồ. Lúc đó má cũng nghĩ vậy. Nhưng hai đứa móc ngoéo với nhau là phải giữ bí mật này. Ngoài kia là Bình Hưng với bao nhiêu người đã bị mổ bụng, moi gan…

- Ngoại ơi, đó có phải là người thích khoai lang không? Khoai lang thì có gì mà phải thích hả ngoại?

Ngoại cười xòa ôm Mẫn vào lòng khi nghe câu hỏi chen ngang.

- Con chưa từng bị nhịn đói lần nào nên không biết. Xứ mình chưa đến mức nhịn đói vì dù sao còn có cá, có rau dại mọc quanh kênh để ăn qua bữa nhưng cũng có lúc giáp hạt, rồi mưa liên miên không có gạo để ăn con à. Có nơi còn không có khoai lang để ăn nên Cố con từng kể rằng, người ấy chỉ mơ ước dân trong làng mình có khoai lang ăn no ngày ba bữa. Vì trong làng người ấy nghèo lắm, có bữa chỉ mong được một mẩu khoai nhỏ mà không có.

Cái này Mẫn học lịch sử đã nghe nói rất rõ. Nhưng để mường tượng và thấu cảm chắc cần có những bữa nhịn đói đến “vàng mắt”. Cha đếm nhẩm trên đầu ngón tay.

- Rạch Bà Đặng, rạch Cái Tắc, kinh Ngang, kinh Tư, kinh Đòn Dong, kinh Năm Khai Long, Láng Cháo, Tân Quảng, Rạch Gốc, vàm sông Bồ Đề… đều có bóng dáng ông Chín. Người ta tính ra thời gian bí mật hoạt động ở tỉnh Cà Mau năm 1955, ông Chín đã ở mười tám nơi thuộc phạm vi mười bốn xã, năm huyện. Suốt trong hơn hai năm trời nằm sương gối đất, dãi nắng dầm mưa, vượt qua biết bao gian khó hiểm nguy. Mà hồi đó không chỉ má với bà Hồng lầm mà cũng rất nhiều người lầm như thế. Sau này con có dịp dự mấy cuộc hội thảo thì nghe các chú kể, lúc về quê nội con, ông Chín đóng giả vai ông thầy thuốc Nam. Ông biết dùng cây cát căn và một số cây thuốc quý trên đảo để chữa bệnh cho một số gia đình nông dân ở vùng Đất Mũi như: cảm mạo, chữa sốt cho trẻ em, nhức đầu, lỵ ra máu, thoát nhiệt, giải độc…  Cái người có nụ cười thiệt hiền, có bộ râu trông giống Bác Hồ và trị bệnh giỏi như thần y không mấy chốc đã lan rộng ra khiến thầy thuốc Nam phải nhanh chóng dời địa điểm trú đóng đi nơi khác luôn.

Mẫn lắng nghe câu chuyện thấy nửa xa lạ nhưng lại rất quen thuộc. Mấy lần cha định cất nhà mới cho ngoại nhưng ngoại sợ phải thay bộ cửa nên cuối cùng cứ ở cái nhà lá mãi. “Nhà lợp mái tôn trời mưa nghe dữ tợn lắm, chứ nhà lợp bằng lá dừa nước, nước nhỏ ton ton nghe ấm áp như có ai ca vọng cổ bên tai”. Nhưng dù nhà lá hay nhà lợp mái tôn thì mỗi lần về với ngoại, Mẫn thích nhất là nằm trong lòng ngoại, nghe gió thổi mái lá lào xào, rồi nhìn ra hiên nhà tưởng tượng bao điều kỳ thú. Năm nay, ngoại không sai Mẫn dọn dẹp mà bảo Mẫn đọc sách cho ngoại nghe. Ngoại nói chuẩn bị Tết Độc lập có cuộc hẹn quan trọng. Quyển sách được ngoại gói trong vải vàng đặt thật trang trọng trên bàn thờ, cạnh di ảnh của Cố. Mẫn lần giở từng trang sách, đọc say mê quyển sách “Bí thư Xứ ủy Nam Bộ, Bí thư Trung ương Cục miền Nam Lê Duẩn hoạt động tại Cà Mau”.

Từ năm 1946 đến năm 1954, với cương vị Bí thư Xứ ủy Nam Bộ, rồi Bí thư Trung ương Cục miền Nam, đồng chí đã lãnh đạo Đảng bộ miền Nam tổ chức cuộc kháng chiến ở Nam Bộ và tiến hành cải cách ruộng đất trong các vùng giải phóng.

Từ năm 1954 đến năm 1957, sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, đồng chí Lê Duẩn ở lại miền Nam để lãnh đạo phong trào cách mạng. Trong những năm tháng vô cùng khó khăn này, đồng chí đã sống trong lòng nhân dân Cà Mau, Bến Tre, thành phố Sài Gòn… để củng cố các cơ sở cách mạng chuẩn bị cuộc chiến đấu chống Mỹ. *  *  *

Đoàn làm phim đã đi qua Giáp Nước, Đất Sét, Cái Bát, Quản Pháo, Rạch Liêm, Rạch Chệt, Biển Bạch… Và nay thì dừng lại căn nhà của ngoại. Mẫn không ngờ rằng căn nhà của ngoại chính là Di tích lịch sử Quốc gia, là một trong những nơi Tổng Bí thư Lê Duẩn chấp bút khởi thảo “Đường lối cách mạng miền Nam” tiền thân của Nghị quyết Trung ương 15 của Đảng. Ngay chính mảnh đất mà Mẫn cất tiếng khóc đầu đời, Xứ uỷ Nam Bộ, Trung ương Cục miền Nam, Uỷ ban Kháng chiến - Hành chánh Nam Bộ, Bộ Tư lệnh Nam Bộ, Khu uỷ Khu 9, Bộ Tư lệnh Quân khu 9 và Bộ Tư lệnh Phân liên khu miền Tây đã thiết lập bản doanh của cơ quan lãnh đạo đầu não kháng chiến chống Pháp. 

Trời ơi, Mẫn tự hào mình thuộc sử làu làu như con mọt sách nhưng chính lịch sử của vùng đất mình, quê hương mình lại ngó lơ. Giờ thì Mẫn đã hiểu mối liên hệ giữa hai dòng sông ấy và ngồi gõ bàn phím viết thư cho Minh.

Nếu như Minh tự hào về dòng Thạch Hãn thì Mẫn có thể ngẩng cao đầu trước dòng Cửa Lớn quê nội. Không như Thạch Hãn nước xanh trong, Cửa Lớn lúc nào cũng cuồn cuộn sóng và nhuộm tất cả mưa nắng, mây gió thành màu của phù sa ngầu đục. Cửa Lớn hãnh diện và ngang tàng vì nó là một trong trăm dòng sông lớn nhất thế giới. Vì nó bắt nguồn từ biển Đông - tại cửa Bồ Đề và đổ về biển Tây - tại cửa Ông Trang, cắt khu rừng ngập mặn Năm Căn ra làm hai mảnh. Một mảnh giáp với đất liền, một mảnh giáp với biển Đông và biển Tây như ốc đảo từ mũi Cà Mau đến Thủ Tam Giang. Nó ngang tàng vì biết cách làm người ta mến thương mãi thôi trước sự đồng cam cộng khổ cùng con người.

Năm 1972, nếu chỉ trong vòng 81 ngày, Mỹ - ngụy đã ném xuống Thành Cổ Quảng Trị gần 330.000 tấn bom đạn, tương đương sức công phá của bảy quả bom nguyên tử mà Mỹ đã ném xuống Nhật Bản năm 1945 thì cũng trong năm này, người Mỹ đã mở ra cái gọi là “chiến thuật hạm đội nhỏ trên sông”. Nghĩa là bình quân mười lăm phút thì có một tàu chiến chạy qua dòng sông Cửa Lớn để nã đạn pháo lên hai bên bìa rừng và để phong toả dòng sông nhằm cắt đường giao thông và bao vây vùng căn cứ. Cái ốc đảo được tạo nên từ nhát cắt của sông Cửa Lớn trong chiến tranh là vùng căn cứ, là cái bến cuối cùng của đường Hồ Chí Minh trên biển, để từ đó, vũ khí được cung cấp cho chiến trường miền Tây Nam Bộ.

*  *  *

Chú đạo diễn cứ mân mê cái cửa và chỉ máy quay liên tục vào những vết lủng lỗ ấy. Ngoại như trở thành một người khác khi phát biểu trước máy quay. Cha đứng nhìn trân trân bảo đó là bóng dáng của Cố - một cô du kích sôi nổi, nhiệt huyết và gan dạ của khu.

“Tui nghe má kể rằng, đồng chí đã từng bước vào nhà và đứng lặng hồi lâu trước cánh cửa còn găm vết đạn. Vết đạn mới nên còn nồng mùi gỗ và mùi thuốc nổ. Ông Chín đã vô cùng xúc động kể lại với mọi người ngồi trong căn nhà nhỏ này của má rằng, cái giây phút nhìn thấy cán bộ và nhân dân hai bên đường vẫy cờ hoa và đưa hai ngón tay lên hân hoan chào đón khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, ông đã bật khóc vì biết rằng rồi đây quân địch sẽ kéo tới những vùng này để tàn sát, bắn giết dã man những người dân đã nồng nhiệt chào mừng hòa bình. Thời gian ông Chín lưu lại nhà tui ngắn thôi. Sau giải phóng, có lần các chú, các cô tụ họp lại ở nhà tui và kể chuyện. Nghe đâu là lần đó ông về thăm tỉnh, thăm những gia đình cách mạng từng nuôi giấu, che chở mình. Nhà bác Năm là nơi ông ở lại khá lâu để viết lách, nghiên cứu, thậm chí là đọc thơ rồi bình thơ cho nghe. Không biết có phải vì vậy mà con cháu bác Năm sau này đứa nào cũng chịu khó học hành giỏi giang nhất con rạch đó”.

Bác Năm kể, ông Chín là người chỉ đạo việc thi hành Hiệp định đình chiến, lần lượt tiến hành chuyển quân tập kết an toàn ở các điểm Hàm Tân, Cao Lãnh, Chắc Băng. Đối với khu vực 200 ngày thì điểm tập kết chuyển quân cuối cùng là thị trấn sông Ông Đốc.

Những sự kiện địch ruồng bố, càn quét hoặc mổ bụng moi gan, uống máu những người tham gia cách mạng như cha tôi ở Bình Hưng đã đọng lại trong lòng ông Chín nhiều suy nghĩ. Má tui nói, có lẽ chính thực tế đấu tranh ở miền Nam đã cho ông những bài học quý. Vậy nên lúc đó ông đã ý thức được đấu tranh kết hợp chính trị và vũ trang. Đồng thời ở thời điểm đó, ông đã chỉ đạo cấp đất cho nhân dân, cấp tận hàng rào dây thép gai để ruộng đất là “lá bùa hộ mệnh” cho cán bộ ở lại.

*  *  *

Buổi chiều ở Đầm thật đẹp. Mẫn lặng im lắng nghe tiếng con chìa vôi réo rắt mấy hồi. Vết đạn thù xuyên qua cánh cửa đã lên nước đen mun. Kinh rạch, mương vườn, bờ tre, bụi bình bát… cho đến nay vẫn còn lưu lại không ít dấu vết những cái chòi con, những chiếc hầm bí mật đã một thời che giấu một người từng làm ở Xứ uỷ Nam Bộ. Cái chòi nhỏ năm xưa, nơi sơ thảo bản Đề cương bất hủ, ngoại tự tay trồng dày đặc những đám hoa mười giờ đơm bông đỏ rực như mãi nhớ về một người.

Đoàn làm phim đã về nhưng ngoại vẫn còn ngồi bần thần mãi nơi đó. Chắc ngoại nhớ Cố vì chiều đó, ngoại biểu cha luộc một nồi khoai lang. Có những giấc mơ còn cuộn chảy trong tâm thức của ngoại chắc không ai chia sẻ được…

                                                                                                                 Đ.P.N

Đoàn Phương Nam
Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 271

Mới nhất

Thông báo về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí

13/04/2026 lúc 22:15

THÔNG BÁO Về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí Kính gửi quý bạn đọc,

31/07/2025 lúc 15:23

Tạp chí Cửa Việt - 35 năm một chặng đường

28/06/2025 lúc 16:18

Ngày 28/5/2025, Tạp chí Cửa Việt tổ chức lễ kỷ niệm 35 năm tạp chí ra số đầu tiên và gặp mặt cộng tác viên năm 2025. Tại buổi lễ, Phó Tổng biên tập phụ trách Hồ Thanh Thọ đã có bài phát biểu khai mạc...

Vùng trời hoa sim

26/06/2025 lúc 23:29

Những triền sim tím đồi xaBềnh bồng nâng gót mùa qua lặng thầm

Hương xưa; Nắng sớm

26/06/2025 lúc 23:27

Hương xưa… Ta về tìm lại hương xưa

Tạp chí số cũ
Câu chuyện du lịch
tư tưởng Hồ Chí Minh

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

23/04

25° - 27°

Mưa

24/04

24° - 26°

Mưa

25/04

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground