Nỗi lo cuối đời
LÊ NGUYÊN NGỮ
01/04/2014 lúc 08:39
hợ Tết thường xô bồ, nhất lại là chợ đêm. Trong một lần đi công tác ở thành phố vào gần cuối năm, tôi có dịp đi dạo chợ đêm. Thôi thì muôn hình, nghìn vẻ. Phong phú nhất là ở những khu hàng may mặc và nông sản. Mùa đông lạnh dễ ăn diện, nhất là phái nữ nên quần áo dồi dào cũng tất nhiên thôi. Còn về nông sản, vùng này nổi tiếng là tốt tươi, trù phú nên lại càng không đâu bì kịp. Hầu hết những loại hoa trái, rau quả quý hiếm, đài các nhất người ta đều có thể tìm thấy ở đây. Chả thế mà mỗi lần đến thành phố này, con gái tôi lúc nào cũng dặn đi dặn lại mua cho nó hết hoa nọ tới trái kia.
Hôm nay đi dạo chợ đêm không phải chủ đích mua gì vì còn những ba ngày nữa tôi mới về, mà cái chính là để ngắm cho sướng mắt khu chợ có tiếng giàu có về hoa trái trong vùng. Và cũng chính nhờ cuộc đi dạo lông bông này tôi mới quen được cụ Hợi, một bà già bình thường như bao người già khác nhưng cũng có một chút... không bình thường!
Đường chợ, nhất là chợ gần tết thường chật hẹp. Khi tôi vừa tránh người đàn ông vác sọt trái cây nặng trờ tới thì một bàn tay phía dưới vội đỡ lấy chân tôi:
- Ấy cô ơi, đừng đạp trái cây tui!
Tôi vội co chân nhìn xuống. Người vừa đỡ chân tôi là một bà cụ dáng người nhỏ thó, đang run rẩy chồm tay ra từ chỗ ngồi tranh tối tranh sáng.
- Con xin lỗi! – Tôi thụp xuống và hỏi: Có sao không, hở bà?
- Xẹp một trái nhưng hổng sao. Cô mua giùm đi cô!
Trước mặt bà cụ là một đống nhỏ trái cây gì gần cỡ nắm tay, có mầu vàng vàng. Dăm trái chẳng biết chín quá hay héo nên trông da nhăn nheo và mầu thì sẫm lại.
- Trái gì đây, hở bà?
- Trái Ô-ma, trái “trứng gà” đó mà. Ngon mà ngọt lắm, mua đi cô!
Trái “trứng gà”! Tôi nhớ ra nó vì thuở nhỏ nhà ngoại tôi có trồng một cây này sau nhà. Cây lớn cao như xoài và trái khi chín có mầu vàng, ăn bùi và vị ngọt rất đậm. Sự hồi nhớ này làm tôi ngần ngừ giây lát. Thấy vậy bà cụ vội vừa bày biện lại mấy trái cây vừa phân bua:
- Đây là trái của cây nhà, chớ chẳng phải tui buôn bán chi mô. Cô mua về mà đơm thờ, tui bán rẻ cho.
Tuy là khách vãng lai, song tôi cũng có ý định mua giùm bà một ít để gọi là... chữa lại cái lỗi đạp trái vừa rồi của mình. Tôi bèn lựa. Nhưng thú thật là mớ Ô-ma của bà cụ chẳng có trái nào ra hồn cả.
- Trái ngon họ mua đâu hết, còn lại chỉ toàn những trái xấu không, bà hà?
Bà cụ vội vàng nửa nằn nì nửa như than thở:
- Có mô cô! Nghe xóm nói thứ này tết có khi người ta cũng mua đơm, tôi vội hái quanh nhà xuống bi nhiêu mà ngồi từ xế đến giờ, đã bán được trái nào đâu cô!
Thấy tôi lựa mua, có một vài chị cũng bắt chước ngồi xuống chọn theo. Bà cụ thấy vậy mừng cuống lên, xăng xít:
- Khuya rồi, các cô thương già cả mua giùm. Tui phải còn về nhà cách đây ba bốn cây số lận...
Sau một hồi chọn, tôi lựa ra được bảy trái. Mấy chị kia cũng lựa được mỗi người một ít. Khi tôi hỏi bảy trái giá bao nhiêu. Bà bảo “Cô đưa bao nhiêu thì đưa!”. Tôi không chịu, cương quyết bảo bà cho giá. Cuối cùng bà bảo:
- Thôi bảy trái cô cho... hai ngàn!
Bảy trái Ô-ma, hai nghìn! Tôi còn ngần ngừ chưa đưa tiền, các chị kia thấy rẻ quá nên họ mua tất cho bà, cả trái xấu lẫn trái tốt. Kể luôn số Ô-ma tôi mua, tổng cộng bà bán được tất cả là chín nghìn đồng. Tôi hỏi bà có thường đi bán như vầy không? Bà thật thà:
- Cũng thường, khi nào quanh vườn nhà có rau trái gì bán được thì đi. Cũng ngồi ở chỗ này.
Tôi đưa bà năm nghìn chỗ Ô-ma vừa mua. Thoạt đầu bà không nhận. Tôi phải nói khó đòi trả lại bà mới chịu. Rồi cầm tiền trên tay, bà cứ cám ơn, khen tôi tốt và tử tế mãi. Chỉ thêm có ba nghìn đồng mà được khen tặng thế, sử dụng cho đúng đồng tiền cuộc đời đẹp biết bao!
Đêm đó, cái dáng bà cụ bưng thúng lòng còng đi về trong đêm khuya làm tôi cứ thao thức mãi. Bảy trái Ô-ma, hai nghìn! Số tiền không đủ công hái. Hồi nhỏ, nhớ có lần cậu tôi bị trẹo cổ mấy ngày liền vì chọc sào hái trái trên cành cao nơi cây Ô-ma nhà ngoại.
Tôi không may mắn, mất mẹ sớm nên sau lần gặp ấy tôi cứ mãi nghĩ về bà. Mỗi lần có dịp lên Đà Lạt là tôi lại tha thẩn nơi chợ rau quả tìm bà. Khi gặp, khi không. Lần nào gặp, cũng thấy bà bán lần thì mươi trái ổi, lúc dăm quả đu đủ, vài rổ đọt rau dền... Tất thảy những rau quả bà bán thật trông chẳng... Đà Lạt tí nào cả!. Qua các lần chợ ngồi mê mỏi vậy, hoa quả bà nếu bán đuợc hết, số tiền thu về trị giá chỉ bằng trên dưới... một lon bia tôi thường thấy chiêu đãi ở các nhà hàng. “Kệ, lấy công làm lời con à! Chớ ở không thì ai cho. Bán, mua cho các cháu tấm bánh còn hơn là để rơi, để rụng!”. Những lần gặp vậy thường tôi mua hết giùm để bà về sớm hoặc ngồi tên cũng là tuổi của bà. Qua các lần chuyện trò, bà cho biết có được hai người con gái. Chúng đều đã lập gia đình, ở riêng và con cái đùm đề. Riêng bà ở một mình, sợ nặng gánh rể con nuôi vì cả hai đều có chung cái là... rất nghèo! Cũng may còn mảnh vườn của ông chết sớm lưu lại, nên bà tự xoay xở được để đỡ khổ cháu con. “Bà ráng bán chác kiếm chút đỉnh chẳng phải là tham sống. Tham gì ở tuổi này, mà sợ chết tụi nó phải ma chay tốn kém thì tội cho chúng quá. Nên cứ cố thêm được ngày nào hay ngày nấy!” Nước ứa ra như từ cùi nhãn đã rữa trong đôi mắt của bà khi nói vậy.
Bẵng đi một thời gian khá lâu, lần này tôi mới có dịp lên Đà Lạt công tác. Khi xong việc, sáng hôm sau tôi ra chợ tìm bà. Sau một hồi tìm kiếm, hỏi thăm, một chị bán rau biết tôi có quen với bà, ngậm ngùi bảo:
- Bà cụ Hợi à? Cách đây khoảng tuần, nghe nói bà cụ ấy bị xe đụng, qua đời rồi!
Tôi rụng rời! Bà cụ chịu thương chịu khó, nhân hậu thế mà...lại không may đến vậy ư? Chiếc xe nào đó đã vô tình chấm hết cho bà cái quãng cuối chợ đời với eo sèo rau trưa, trái sớm!
Tôi hỏi thăm và cũng do trước đây bà có chỉ đường cho chút ít nên tức tốc thuê xe ôm tìm đến nhà bà. Nghĩa tử nghĩa tận, thôi thì dù muộn nhưng cũng cố mà tới để thắp cho bà nén hương nghĩa tình.
Nhà bà cụ nằm dưới chân một quả đồi. Mái tôn, vách ván. Bên trong tấm liếp tre thưa cài đặt sơ sài là lòng nhà quạnh vắng. Cũng không thấy có bàn thờ bàn hương gì. Gọi mãi chẳng nghe ai lên tiếng, tôi vòng ra sau. Đúng nhà bà cụ vì có mấy cây Ô-ma lớn xanh lá rì rào. Còn nữa là một khoảnh vườn rộng non sào trông có vẻ hoang tàn. Dăm cây đu đủ cao nghều dọc rào với rúm lá úa vàng trên chót vót ngọn. Vài cây ổi xác xơ treo đám lá rầy bạc trắng. Giữa vườn hình như là mấy khóm cà chua chỉ còn trơ cành khô bò ngổn ngang trên luống đất nâu đã bạc màu... Cây cối thường vui buồn, thậm chí “ra đi” theo người đã từng mến yêu, trồng tỉa nó nên mới vậy. Ngần đây là cây đã hằng cho trái, bà bòn mót làm nên những phiên chợ nghèo mọn, chắt chiu của bà cụ, để tôi vô tình được gặp và quen bà.
Có lẽ các con đã mang bà cụ về thờ, chứ nhà quạnh vắng thế này... Tôi nghĩ thế và ra lại đường nhựa. Chị hàng nước ngoài lộ khi nghe tôi hỏi thăm về nơi thờ bà cụ Hợi, vội nói:
- Cũng may là xe họ lách kịp, bà chỉ bị thương nặng chớ chưa chết đâu cô!.
Có thế tôi nghe mà thở phào. Ơn trời!. “Thiệt khổ...”, chị hàng nước chép miệng cho biết tiếp. Khi chiếc xe chở hàng đang chạy thì bà cụ bất thần lao ra. Tài xế lạng kịp, bà chỉ bị đụng ở dè sau xe. Tuy vậy tuổi già sức yếu, cú đụng cũng làm bà bị thương nặng. Khi họ đưa bà lên bệnh viện, lục túi tìm thì thấy tờ giấy ghi nội dung đại để: Việc làm này là tại bà, bà muốn chết chứ nhà xe không có lỗi gì cả. Chỉ tha thiết xin... nhà xe chôn cất giùm bà mà thôi!
- Đứa con gái út tôi học lớp bốn bà nhờ viết giấy đó đây chứ đâu! Khi biết chuyện tôi đã đánh cho nó một trận. Ai đời nhờ viết vậy mà cũng viết, rồi im re hà. Hỏi có chết người ta không?
Lúc tôi chào để lên bệnh viện thăm bà cụ, chị còn cho biết thêm: “Nhà xe cũng là người nhân đức, biết nguyện vọng bà vậy nên ngoài chi phí ở bệnh viện, họ còn biếu trước cho một cỗ hậu sự. Mới chở về để ở nhà con gái lớn sáng nay nè. Thấy cũng đẹp! Chắc trên triệu chứ không ít à.” Khi tôi đón được xe ôm thì chị chủ quán còn hấp tấp nói với theo:
- Cô lên thăm, nếu bà cụ tỉnh thì nói cho biết, mà mừng!
Sao lại không mừng? Tôi rớt nước mắt! Ai rồi cũng từ giã cõi đời cả, nhưng hiếm người lại lo nghĩ chu đáo đến là... theo cách của cụ! Trong việc sợ để khổ để nợ cho hai đứa con nghèo khi mình phải “ra đi”, với mảnh vườn vừa rồi và những phiên chợ cây trái eo sèo tôi gặp, biết đến bao giờ bà cụ mới chắt mót được một triệu chứ đừng nói chi hơn cho cái “áo” của mình.
L.N.N
LÊ NGUYÊN NGỮ
Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 138 tháng 03/2006