Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 21/04/2026 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Nỗi nhớ mưa phùn

Vừa mới đấy với đây thôi mà thời tiết đã như lật bàn tay, máy lạnh đã tắt hẳn và trong khoang hành khách lác đác đã có người lục va li lấy áo khoác. Còn bây giờ, khi dàn bánh xe khổng lồ của chiếc Boeing siêu đại chạm đánh uỳnh xuống mặt đường băng, nhìn ra dẫy ô cửa sổ nhỏ, thấy vùn vụt chạy qua chỉ là những khuôn hình trắng mờ, Hàn đã thầm kêu trong run rẩy: Mưa bụi. Mưa phùn đất Bắc đây rồi.

Thiếu phụ trạc tuổi Hàn, ngồi ghế bên cạnh, được ghi nhớ bằng dáng người mảnh mai và một nốt ruồi đen đậu dưới viền mi mắt trái, một nốt ruồi đón lệ, từ nãy đã gập cuốn tiểu thuyết Phục sinh của văn hào Lev Tolstoy, đưa tay che một cái ngáp nhỏ, khe khẽ rùng mình rồi lập cập đứng dậy, thoát một hơi thở dài: Mưa rét rồi đây. Và nghe vậy, Hàn liền quay lại:

- Chị về phố nào?

- Tôi về ngay Đông Anh đây thôi. Còn chị?

- Tôi về Nguyễn Phong Sắc kéo dài.

- Đường phố ấy giờ người ta đổi tên là Trần Thái Tông. Đã lâu chắc chị chưa ra Hà Nội?

- Dạ, đã hai năm nay rồi ạ.

- Hà Nội hôm nay xuống dưới mười độ đấy. Đúng là vì một chữ tình mà thiên khổ vạn khổ thế này đây.

Sững ngay lại vì câu nói gần như bâng quơ nọ, nhưng ngay sau lúc ấy, khi ngồi trên chiếc tắc xi chạy về thành phố, nhìn qua kính xe, thấy màn mưa bụi giăng giăng phủ dầy cảnh vật hai bên đường, Hàn mới nhận ra, hình như nghe câu nói ấy, chị đã có chút chạnh lòng. Hai bên đường mưa bụi bay mịt mờ trắng lóa.

Mưa bụi, mưa phùn. Những hạt mưa li ti nhỏ bằng đầu ghim và trắng lóa. Như có như không, vô tư, nhởn nhơ, bay lăn tăn mờ mịt cả đất trời. Chúng đậu trên áo khoác. Chúng rắc trên mái tóc. Chúng đọng trên hàng mi. Chúng bám vào trí nhớ. Chúng găm vào ký ức đa cảm của Hàn. Và Hàn chỉ quên chúng khi tắc xi vừa đỗ, qua màn mưa rây, nhìn thấy bà chị dâu lùng phùng trong cái áo mưa ni lông xanh cứng quèo đứng đón ở trước cửa.

- Chị Phùng, chị biết em về lúc nào mà cất công đứng chờ. Anh và cháu Điền đâu?

- Tôi cứ áng chừng. Sợ cô không mang áo rét, thằng Điền đang đi mua cho cô một cái măng tô. Vào nhà đi. Cởi áo khoác ra, ẩm ướt hết cả áo len rồi. Mang vác quà cáp gì mà nặng thế?

- Trông thấy chị khỏe thế này là em mừng rồi.

- Khỏe cái gì. Sắp chết rồi đây. Trời ạ. Cất công mang cả sầu riêng cơ à. Thế này thì ông anh cô thích lắm đây.

Quả nhiên bà chị dâu vừa dứt lời, đã thấy tiếng giầy từ cầu thang đi xuống. Ông anh cả cao lêu đêu, tóc muối tiêu, mặt lộ cốt khắc khổ bị át đi vì hai con mắt có hàng mi đằm thắm như mắt đàn bà, vừa nhìn thấy Hàn đã cất tiếng hoan hỉ:

- Đúng là mùi sầu riêng. Cô Hàn tâm lý thật. Mấy năm đánh giặc ở trong Nam, tôi nhớ nhất là cái vị sầu riêng này đấy, cô ạ.

Hàn đứng dậy, hai con mắt dài nhoáng ánh nước hấp háy:

- Anh Lạng. Anh có được khỏe không? Sao trông anh hốc hác thế?

- Cái tạng anh xưa rày nó vẫn thế. Còn cô, sao hồi nay trông bơ phờ xanh xao vậy?

Hàn hơi cúi xuống, cọ má vào cái cổ áo khoác, cố tình che giấu khuôn mặt gầy, đôi gò má cao, lấm chấm đôi nét tàn nhang, dấu hiệu của cơn mệt mỏi giằng dai.

Cái yết hầu lộ khẽ nhún một nhịp, ông Lạng lắc lắc đầu:

- Thì năm nào chả thế. Cứ vào cái tiết đông lại có mưa sậm sụt thế này là khốn khổ vì mấy cái xoang nó hành. Tôi mà còn trẻ thì tôi chuyển cư vào Nam ở, cô Hàn ạ. Nóng bức với tôi chả là cái gì hết. Cởi quần áo ngoài ra, từ trên cái tam bản nhảy ùm xuống kênh rạch là xong. Thôi, thế chú ấy ra sao? Đã phẫu thuật chưa? Triển vọng thế nào?

Không để ý đến hai con mắt chị dâu Phùng vừa khíp lại thành một cái nguýt dài sắc lẻm về phía ông anh, Hàn nói lời cảm ơn với sự thăm hỏi của ông anh; nhưng vừa định bắt đầu câu chuyện về bệnh tình của người chồng thì cánh cửa ra vào kẹt một hơi dài, liền đó cùng lúc thốc vào căn buồng một luồng gió lạnh rợi là bóng một thiếu niên cao ngẳng gầy gò và trắng trẻo ướt dề dề như vừa chui qua màn mưa bước vào. Điền, giống hệt bố Lạng ở cái vóc cao ráo, lộ hầu và lộ nhãn, xuất hiện bằng một tiếng reo vui, sau đó đưa mẹ cái túi đựng chiếc áo mới mua về.

- Cháu ngửi thấy mùi sầu riêng là biết cô Hàn đã ra rồi. Món này bố cháu nghiện đây. Bố cháu mà ở trong đấy thì có khi mở trại trồng sầu riêng lập nghiệp cũng nên. Áo dạ pha len mẹ cháu sai cháu đi mua cho cô đấy ạ.

Hàn vừa xỏ tay vào ống tay áo vừa khen ấm quá và nhìn Điền, nắc nỏm:

- Chà, mới có hai năm mà cháu lớn tưng này rồi cơ à. Mét bảy mấy rồi? Trông y sì giống bố lúc hai mươi tuổi đi bộ đội vào Nam.

- Dòng họ nhà này đố mà trộn lẫn. Giống từ cái bệnh viêm xoang giống đi, cô ạ.

Chị dâu chen một câu rồi đứng ngẩn. Họ nhà chồng, từ cô em, ai cũng cao ráo, mặt trái xoan, và thoang thoáng nét đa sầu đa cảm ở cặp mắt dài vút lúc nào cũng ướt át cùng cặp mày xanh rỡ. Hàn xoa xoa hai bàn tay, chuyển chuyện:

- Nào Điền. Thế bao giờ hai cô cháu mình đến nhà bác sĩ Thảo bạn cô về việc của mẹ Phụng cháu nào?

Ông Lạng gật đầu:

- Đúng rồi. Cô Hàn đã cất công ra đây cũng là vì việc này. Cô Hàn chưa biết đâu. Lần đầu tiên mắc bệnh, chị cô không được bình tĩnh như tôi đâu. Nhưng mà cô vừa ra, nghỉ ngơi ăn uống cho lại sức đã. Điền, mai đã bắt đầu ôn thi học kỳ chưa? Thôi được rồi. Mai vẫn đi học buổi sáng thì chiều đèo cô đi.

* * *

Chẳng thể chờ đợi được, vì chính Hàn muốn thế và vì sự thúc bách của chị dâu, ngay chiều hôm ấy, Hàn được thằng cháu Điền đèo xe máy đến nhà bác sĩ Thảo. Thảo là bạn Hàn từ hồi còn là học sinh phổ thông. Giờ Thảo là bác sĩ phẫu thuật tim mạch giỏi. Vừa ngồi lên yên, Hàn chưa kịp hỏi về việc học hành của cháu trai, Điền đã quay lại sau hỏi, cô có rét không, rồi vào ngay chuyện:

- Cô có biết không. Thật ra thì mẹ cháu bị hẹp van hai lỗ từ năm còn chưa sinh cháu cơ. Nhưng gần đây, thấy ho nhiều mới chịu đi khám. Chẳng hiểu thế nào, đi khám về đến nhà là khóc tu tu như trẻ con. Hỏi ra mới biết, bác sĩ nghe tim phổi xong, chụp điện tim, rồi kinh ngạc hỏi: Bác bị thế này lâu chưa? Bác có quả tim vĩ đại thật đấy.

- Cô có nghe mẹ cháu gọi điện nói ngay hôm đầu đi khám về.

- Cháu có đến gặp ông bác sĩ khám cho mẹ cháu, hỏi tỉ mỉ. Nguyên văn, ông ấy nói là thế này: Tình trạng tim thế này, có thể đột quỵ bất cứ lúc nào. Bây giờ chỉ có cách là tiến hành phẫu thuật. Mà phẫu thuật tiên lượng cũng xấu. Chỉ bảo đảm an toàn bảy mươi phần trăm thôi.

- Gọi điện cho cô mẹ cháu cũng có kể vậy. Nhưng khóc khóc mếu mếu còn vì, theo mẹ cháu kêu, là cả nhà chẳng ai quan tâm cả.

- Đâu có. Chỉ vì khi nghe tin phải mổ, bố cháu có nói: Ồi, bác sĩ nào mà bây giờ họ chả gạ bệnh nhân mổ. Với lại mổ thì lấy tiền đâu. Nhân thân chỉ có trăm triệu thì sắp tới phải dành để sửa sang nhà thờ họ ở quê rồi. Thế là mẹ cháu khóc lóc ầm ĩ lên. Lại moi đâu ra cái chuyện ai đó phao đồn, từ đời nảo đời nao là bố cháu có một cô người yêu là du kích người ở Kiên Giang từ hồi bố cháu đi bộ đội chiến đấu ở Tứ giác Long Xuyên trong đó. Ở trong ấy cô có hay đi đến miền Tây không? Trong ấy mùa này không có mưa phùn đâu cô nhỉ? Cô kéo áo kín vào không ướt hết tóc.

Thành phố đã lui lại phía sau. Ngoại thành hiện ra trong thanh vắng cùng những tràn ruộng vừa qua vụ gặt trống hơ trống hoải. Và bụi mưa như rây bột càng lúc càng dày đặc. Dày đặc mà lơ lửng, khi rã ra, khi kết tụ, vần vũ trong lạnh lẽo, khiến cho không khí càng thêm cô tịch hoang liêu. Lầm lũi xuyên qua màn mưa, cả chiếc xe và hai cô cháu thoáng cái đã ướt rườn rượt. Nhưng cũng may, chỉ mấy phút sau, đã nhận ra cái ngõ nhà Thảo, Hàn liền ra hiệu bảo cháu dừng xe, trả lại cái mũ bảo hiểm cho cháu trai, rồi bảo: Thôi, chở cô đến đây là cháu về đi học đi. Xong việc, cô khắc gọi tắc xi tự đi về được rồi. 

* * *

Thật ra thì cuộc gặp gỡ của Hàn và Thảo chỉ diễn ra trong hơn một giờ đồng hồ. Đêm nay, Thảo phải đi trực bệnh viện. Chị đèo Hàn đến cổng bệnh viện. Xuống xe, Hàn bảo bạn, cậu yên tâm vào làm việc đi, mình sẽ gọi tắc xi hoặc đi xe ôm về nhà. Nhưng ngoặt qua một phố nhỏ, Hàn liền đứng sững. Mưa phùn đêm đã đổ bụi mịt mờ cả phố xá. Và trong không gian ẩm ướt buổi đêm, chiếc đồng hồ điện tử gắn trên nóc nhà bưu điện thành phố vừa đổ chín tiếng chuông vang trầm. Từ chối mấy chiếc xe ôm mời mọc và không gọi xe tắc xi, Hàn quyết định đi bộ về.

Hàn quyết định đi bộ vì lòng đã phần nào giải tỏa được nỗi lo âu trước căn bệnh của bà chị dâu. Thảo là tiến sĩ chuyên khoa tim mạch, mới đi tu nghiệp ở Pháp về. Xem qua hồ sơ bệnh án của bà chị dâu Hàn, Thảo cho biết, chưa đến nỗi tuyệt vọng như ông bác sĩ nào nói đâu và hẹn mai đưa bà đến bệnh viện để Thảo trực tiếp khám cho.

Hàn quyết định đi bộ, vì lúc này thành phố đã chìm trong màn mưa phùn. Và Hàn bỗng nhận ra, hình như trong trạng thái này, thành phố đã đột ngột biến đổi tâm tình, thu mình vào cuộc sống nội tâm và do vậy trở nên vô cùng thân thương với Hàn. Đèn đường bị những hạt mưa nhỏ vây bọc, đóng khung trong một vòng tròn giới hạn, chỉ còn lại một quầng sáng vàng ệch in bóng xuống mặt đường. Trong ánh phản quang của ánh đèn le lói hắt ra từ các ô cửa sổ nhà cao tầng, những hạt mưa nhỏ như biến dạng, lung linh như những sinh vật, bay lượn trong một không gian sinh tỏa man mác niềm tâm tư.

Ôi. Mưa phùn. Có vùng đất nào có được một hoạt cảnh thiên nhiên lạ lùng và quen thân như tri âm tri kỷ với Hàn như thế. Mưa phùn. Bạn bè thân thiết của tuổi thơ, của một thời thiếu nữ xa xôi. Mưa phùn. Mưa không thành hạt. Mưa không đổ hồi. Mưa không âm thanh. Mưa ẩn dụ trong những giọt nước đọng đều tăm tắp trong vắt như hạt ngọc trên hàng hiên. Trong những đám bụi nước lửng lơ vô định, cùng những khúc biến thể huyền ảo bất ngờ. Trong tiếng đàn dương cầm thánh thót và vu vơ trên đường phố nhỏ lúc đêm khuya: Tôi không yêu nữa phố Xanh Mác tanh/ Từ khi Plata ra đi/ Đây là người bạn tâm tình của tôi/ Chúng tôi đã từng chia sẻ/ Căn buồng và mẩu bánh/ Tôi không yêu nữa phố Xanh Mác tanh... Trong bóng người đi nghiêng nghiêng bên làn ô che chắn phía ngoài hàng hiên dọc theo phố vắng, trong tiếng giọt hiên rơi tí tách điểm nhịp thời gian, trong cái rùng mình vì cơn gió lạnh và chẳng có phối cảnh nào thích hợp hơn lúc này để con người nẩy sinh nhu cầu có được một vũng tay ấm áp xiết chặt bên mình. Ôi. Tay trong tay. Mắt trong mắt. Để rồi lặng lẽ rơi vào cơn đê mê hoang tưởng thần tiên khi mắt ngập trong sắc cầu vồng nơi hạt mưa bụi óng ánh đậu trên mái tóc, trên hàng mi xanh và cơn thức tỉnh bàng hoàng khi nhận ra hương vị lạnh mát trinh nguyên nơi nụ hôn đầu đời với người yêu. Mưa phùn. Bức tranh tâm cảm, miền thương nhớ và khoảnh khắc nỗi niềm.

Dừng lại bên bờ hồ Hoàn Kiếm, đứng trong làn mưa đổ lầm thầm, lần đầu tiên Hàn thú nhận với lòng mình, rằng chính là vì nỗi nhớ mưa phùn, nỗi nhớ mối tình đầu của mình mà chị đã bay ra Bắc vào những ngày mùa đông tháng giá này. Phương Nam, nơi Hàn đã cực chẳng đã phải theo chồng chuyển cư vào, mãi mãi vẫn là một vùng đất xa lạ, dẫu chị đã sống ở đó một cuộc sống dài dẵng đã có đến cả chục năm trời. Ở đó nắng gió chan hòa quanh năm. Ở đó mưa đổ sầm sập. Ở đó không có cái hiu hiu lạnh lẽo của mùa thu. Ở đó không có làn gió heo may. Ở đó không có mưa phùn. Và tất nhiên, không có một tình yêu đằm thắm thiết tha ruột thịt với vùng đất ấy, không có nghĩa là chị dè bỉu, hắt hủi nó. Chị chỉ thấy riêng mình không có cảm xúc nào với nó thôi. Phải rồi, chỉ riêng mình chị thôi. Chứng cớ là ông Lạng, ông anh trai chị và chắc chắn là còn biết bao nhiêu người khác nữa đã và sẽ mãi mãi nhớ thương nó. Nhớ thương nó như chị nhớ thương đất Bắc mưa phùn. Như chị đã coi miền đất có mưa phùn là miền tâm tưởng thiêng liêng vô giá của đời mình.

Con người sống bằng kỷ niệm bằng ký ức và ký ức thì không tách rời cảnh quan không gian, thời gian. Sách văn học làm giàu thêm tâm hồn Hàn. Giờ thì Hàn cảm thông với một nhà văn khi mới vào Cà Mau được ít ngày mà đã viết cả một câu chuyện bày tỏ nỗi nhớ rét Quảng Ninh da diết đến thế. Còn nhà văn khác sống tha hương ở Đức trong một thiên bút ký thì nhớ cái nắng hè chói chang bỏng rát và ngấn muối trong mồ hôi đọng ở lưng áo mẹ hiền sao mà thê thiết đến thế. Và Vũ Bằng. Ôi Vũ Bằng, cả một tập đại thành những nhung nhớ quê hương Bắc Bộ, nơi ông bất đắc dĩ phải xa nó. Vũ Bằng nhớ mưa phùn đất Bắc bằng nỗi nhớ ruột gan.

Giờ thì Hàn phải thú nhận với mình rằng, dẫu sự thật là có cả một khối lượng công việc chất chồng trên vai Hàn trong chuyến bay ra Bắc lần này mà việc giúp đỡ chị dâu Phùng chữa bệnh là một ví dụ, thì việc Hàn trở về với những kỷ niệm êm đềm của thời thiếu nữ đã cách xa đang là một nhu cầu gắt gao với Hàn. Hàn cần được thoát ra khỏi những ràng buộc giằng níu trong một hiện thực u ám mệt mỏi lúc này.

Cuộc hôn nhân của Hàn với người chồng hiện thời là một bi kịch não nùng. Chôn vùi niềm thương nỗi nhớ mối tình đầu, chị đã nuốt nước mắt để lấy người đàn ông chị không yêu chỉ là để trả một món nợ ân nghĩa và tiền bạc của cha mình. Vở bi kịch càng diễn càng vào hồi thê thảm. Đau đớn quá, vì người đàn ông chồng chị hóa ra không chỉ là một người chủ nợ đam mê sắc dục. Y còn kiêm luôn cả vai kẻ bạc tình, không biết đến luân thường đạo lý. Là kiến trúc sư, y cuốn cả Hàn vào phương Nam khi ở đây công cuộc kiến thiết đô thị mở ra vận hội để y chớp lấy thời cơ hốt bạc. Thôi thì làm giầu cũng cứ coi là được. Tiếc thay, câu chuyện không chỉ dừng ở đó. Ngang nhiên sống với một người đàn bà thứ hai, y tìm mọi lý do để ruồng rẫy Hàn. Và đã có lúc Hàn tơ tưởng đến một cơ may để có thể thoát cũi sổ lồng, thì trớ trêu chưa, đã không thoát khỏi gông cùm, trái lại thắt buộc càng trở nên ê chề hơn. Hai năm qua, Hàn kiệt sức vì phải thuốc thang cháo lão, săn sóc trông nom một con bệnh, kẻ đứng tên một bên trong hôn thú với chị, trong trạng thái hôn mê sau đột quỵ vì ham mê tửu sắc, chỉ còn thoi thóp một đời sống của cỏ cây.

* * *

Kết quả khám nghiệm của bác sĩ Thảo với chị dâu Phùng về căn bản không khác với kết luận của vị bác sĩ đã thăm khám cho chị. Nhưng giải pháp thì có khác. Nghĩa là không nhất thiết phải phẫu thuật. Thay vào đó là việc uống thuốc theo chỉ định và thăm khám bệnh định kỳ. Chỉ thế thôi mà bà chị dâu vui sướng như thoát khỏi án tử hình. Chị bầy tỏ niềm cảm ơn Hàn bằng việc vô cùng sốt sắng tham gia các công việc của gia đình cùng Hàn.

Công việc tiếp theo là cả một tuần liền, Hàn cùng vợ chồng ông anh cả về quê xây lại nhà thờ họ. Việc này, Hàn giữ vai chủ động. Vì hồi dạy học ở quê, chị có quen một phụ huynh học sinh làm nghề thầu khoán. Việc xây lại nhà thờ họ xong thì tiếp đến việc tìm hài cốt ông nội dang dở từ bao năm nay ở trên Phú Thọ.

Tuần lễ ấy, thời tiết vẫn như bản sao của những tuần trước đó. Trời đã chuyển hẳn về cuối đông. Đó là những ngày trời đầy mây, âm u ủ dột. Khối khí lạnh từ phương Bắc dồn dập như những con sóng tràn về Nam có khuynh hướng lệch Đông, kết hợp với đới gió biển đưa hơi ẩm vào đất liền, kết tủa thành hạt nước nhỏ, tạo nên thứ mưa đặc trưng không hạt dai dẳng hết ngày này sang ngày khác.

Ông nội mất năm 1950 sau trận máy bay Pháp oanh tạc hủy diệt phố Vũ Yển trên bến dưới thuyền sầm uất trong cuộc kháng chiến lần thứ nhất. Mộ ông sau cải táng đặt ở chân một quả đồi rậm, gọi là đồi Hóp, thuộc làng Lận, cách phố Vũ Yển bốn cây số. Hơn năm mươi năm đã qua rồi, đã ba lần, anh cả Lạng đi tìm mà chưa thấy. Lần thì nhờ các bủ nơi làng quê, những người đó giúp bà nội chôn cất ông. Lần thì nhờ một ông thầy tìm hài cốt bằng cách đặt quả trứng trên đầu một chiếc đũa.

Lần này thì nhờ một thầy ngoại cảm. Thầy ở Hà Nội chỉ đạo công việc đào bới từ xa, qua điện thoại di động, trực tiếp với anh cả Lạng. Tầu đêm từ Hà Nội lên đến ga Vũ Yển mới có bốn giờ sáng. May mà lúc này trời quang mây tạnh. Ba anh em vội vàng lóc cóc cuốc bộ vào quả đồi nọ. Tới nơi tang tảng sáng. Đặt lễ thắp hương khấn vái tổ tiên, cầu xin thần thổ địa độ trì. Qua sóng điện thoại, xê đi dịch lại mãi, tới hơn chín giờ sáng mới xác định được vị trí đào bới. Thì cũng là lúc trời nhả mưa. Phát áo mưa cho tốp ba anh thanh niên trong làng hặm hụi đào đất, anh cả Lạng, râu ria tua tủa, khụt khịt mũi dãi, loạt soạt áo bạt, đứng cạnh chỗ đất đang đào bới, một tay áp điện thoại bên tai trái liên tục thông báo tình hình với thầy ngoại cảm ở xa.

Mưa rầm rì đổ bụi trên hai chiếc ô, một che nơi cúng lễ, một Hàn cầm che chung cho cả chị dâu Phùng. Trung du hiện hình những đồi cọ mờ mờ như bức vẽ bằng chì than. Mưa rắc bụi loa lóa như phấn bay. Trên các triền đồi sim mua hoa tím buồn hiu hắt là những dải hơi nước kết đọng hư ảo như sương mây. Xôm xốp nhẹ tênh không trọng lượng, hạt mưa nơi hoang vắng lành lạnh, gờn gợn, nhiều lúc thon thót như kim châm da thịt. Nhìn những tảng đất cuốc lên từ lỗ huyệt đỏ quánh dính bết và xung quanh cây cỏ ướt át dầm dề, chị dâu Phùng khe khẽ rùng mình:

- Cô Hàn này. Thế trong Nam, cô không bao giờ phải đắp chăn bông, mặc áo len à?

- Chỉ là thi thoảng thôi, chị ạ.

- Này, chị hỏi thế này cô đừng hiểu lầm chị. Là cái tỉnh Kiên Giang ấy mà, có cách nơi cô ở xa không. Cô có hay...

Trong cái nhìn ngoái lại đầy vẻ nghi ngờ của Hàn, người chị dâu liền ngậm miệng im bặt. Cũng là lúc, ông Lạng từ bờ huyệt nọ đi lên, sau khi lắc lắc đầu đầy vẻ khổ não, cho biết lần này cũng không hy vọng gì vì tốp thợ đào thuê nói, hình như là đang đào phải cái huyệt người ta mới cải táng năm rồi, ông liền rút khăn tay từ túi quần ra, áp chặt vào mũi, xì xục một thôi một hồi.

- Cả tuần lễ nay có đêm nào ngủ được hai tiếng đâu. Cái khí hậu chết tiệt này nó hành hạ cái xoang của tôi.

- Có thuốc đặc trị gì không, anh?

- Bệnh di truyền đấy. Nghe bà cụ lúc còn sống nói, ông nội cũng khốn khổ vì mấy cái xoang mũi này. Nhưng mà cô có biết không. Mười năm đánh giặc ở Kiên Giang, căn bệnh mắc từ lúc trẻ, coi như tiệt nọc, thế mới lạ chứ.

Không để ý đến cái nguýt dài kín đáo của vợ, ông Lạng vội bổ nhào xuống vùng huyệt mấy người thợ đang đào. Họ đào phải một cạnh của một chiếc quan tài đã cải táng còn sót lại.

* * *

Việc tìm hài cốt ông nội không thành. Đành phải đình hoãn và kiếm tìm một giải pháp khác vào một dịp khác vậy. Những cơn mưa phùn đã thưa vắng dần. Tuy vậy, nhiều hôm sáng dậy, nhìn ra sân, vẫn thấy từng mảng gạch lát ướt nhèm. Lá và hoa trong chậu cây kiểng nhoang nhoáng như bôi mỡ. Sàn nhà nhớp nháp chẳng khác khi trời đổ nồm. Và quần áo giặt phơi cả ngày vẫn ẩm sì. Căn bệnh viêm xoang mũi vẫn hành hạ ông Lạng, nhiều hôm ông ôm đầu nằm liệt. Những lúc ấy, có Hàn ông lại thầm thì: Tôi mà còn trẻ thì tôi chuyển vào Nam ở quách. Nóng bức với tôi chả là cái gì hết. Cởi áo quần ngoài, từ trên cái tam bản nhảy ùm một cái xuống kênh rạch là xong hết.

Một tháng trời đã trôi qua kể từ ngày Hàn bay ra Bắc. Nấn ná thêm xem chừng là bất tiện. Vả lại điện từ trong Nam ra cho biết chồng Hàn những ngày gần đây bệnh tật có triệu chứng ngày càng tồi tệ. Tuy vậy, phải đến ngày quyết định trở về phương Nam, Hàn mới bật máy điện thoại gọi cho một địa chỉ duy nhất còn lưu lại trong trí nhớ ở đất Bắc. Đó là một đêm khuya, khi thấy đèn trong các buồng đã tắt, Hàn mới trở dậy len lén bật máy và suốt hai tiếng đồng hồ, chị thì thào trong bóng đêm như nói riêng với mình. Chị gọi tên người đàn ông nọ bằng một giọng thật âu yếm. Chị hỏi: Anh có khỏe không? Nghe giọng nói của anh, em mừng lắm. Chị nói: Căn bệnh thấp khớp của anh mùa rét có tái phát không? Trong năm có lần em gửi cho anh hơn mười thang thuốc của bà lang, anh có uống không? Chị nghẹn ngào bảo: Em nhớ anh. Em nhớ mưa phùn đất Bắc. Nhớ những ngày chúng mình đi học cùng nhau. Những hôm mưa, đi dưới các mái hiên trong khu phố cổ. Chị nức nở: Anh ơi, em tự hỏi, cái gì là hạnh phúc lớn nhất của đời em? Cái gì khiến em không tàn lụi vì buồn nản và đớn đau? Hình ảnh nào còn mãi trong tâm tưởng em? Cho đến khi đầu dây đằng kia, vang lên tiếng nói thảng thốt và não nùng của một người đàn ông: Hàn yêu quý suốt đời của anh ơi, em đang ở đâu thế? Có kiếp sau không em? Anh có cảm giác em đang ở rất gần anh, có đúng không? Có đúng không?

Không thể ngờ, buổi trò chuyện âm thầm bí mật của Hàn với người đàn ông đêm hôm khuya khoắt ấy, lại có một người biết và dõi theo từ đầu đến cuối. Người đó là Điền, cậu cháu trai của Hàn. Cậu sinh viên năm cuối của khoa điện tử đang ở thời kỳ khôn lớn đêm ấy đang ôn thi học kỳ, bỗng nghe được tiếng nói thầm của người cô. Đã biết loáng thoáng nguồn cơn số phận cô, cậu vô cùng cảm động trước tình cảm của cô. “Cháu có thể giúp gì được cô, cô Hàn?” Hôm sau cậu ngập ngừng ướm hỏi Hàn. Hàn hỏi lại. Đang bận học ôn để thi học kỳ, cháu có thể giúp được gì cô nhỉ? Gãi gãi gáy, cậu đáp: Đại để, cháu có thể làm xe ôm đưa cô đi đến gặp ai đó? Hay là làm bưu tá, chuyển thư từ bưu phẩm cho một người nào ở trong thành phố này cũng được? Đỏ rần hai gò má, Hàn cố cười mà mắt rưng rưng: Vậy thì vé máy bay khứ hồi Hà Nội - thành phố Hồ Chí Minh của cô đây. Đi OK vé để ngày kia cô trở về trong ấy nhé.

* * *

Ngày về đã định. Đó là một ngày tạnh ráo. Điền bận thi môn đầu tiên của học kỳ. Chị Phùng đến hẹn bác sĩ Thảo đi khám lại. Tiễn Hàn ra sân bay có ông Lạng. Ông anh cả ôm cái mặt sưng vếu vì căn bệnh viêm xoang rất ít lời, vì cơn sốt âm ỉ. Tuy vậy, đến lúc Hàn chào ông để vào phòng cách ly làm thủ tục bay, ông mới kéo tay cô lại, dúi vào tay cô một bọc giấy báo vuông vức, mềm xốp, rồi ghé tai Hàn, cất giọng khào khào ngàn ngạt: Tên và địa chỉ người nhận, anh ghi ở ngoài bì rồi, em theo đó, đưa giùm anh đến nơi, nếu cần nói thì em chỉ bảo: Anh Lạng em vẫn rất nhớ những đêm chị chở anh em trên cái tam bản lên họp ở tỉnh đội hồi chiến tranh. Thế thôi. Em về mạnh khỏe. Sang năm anh em mình lại gặp nhau.

Hàn bước vội vào nơi kiểm tra an ninh. Xếp hàng sau một phụ nữ, chị suýt kêu to, vì nhận ra đứng trước mình chính là người thiếu phụ cùng đi chuyến máy bay ra Bắc hôm nào với mình, tác giả của câu nói tưởng là bâng quơ mà chính là để bầy tỏ nỗi lòng mình và đã khiến chị chạnh lòng. Nhưng may là chị kìm được. Và người phụ nữ dáng người mảnh dẻ có nốt ruồi đón lệ dưới mi mắt trái nọ sau khi nhận lại hành lý xách tay đã qua kiểm tra, không hề để ý đến chị, đã quay ra phía cửa, mắt ngân ngấn lệ, giơ tay vẫy từ biệt rất quyến luyến với bóng một người đàn ông thấp thoáng ở khuôn cửa ra vào.

Ngẫu nhiên lại gặp tình cờ, lại như có sự sắp xếp của bàn tay thượng đế, ghế ngồi của Hàn trong chuyến bay này, ở ngay cạnh người thiếu phụ có nốt ruồi đón lệ nọ, tuy vậy cho đến lúc này chị ta cũng vẫn không nhận ra Hàn. Chưa nhận ra vì chưa để ý đến Hàn. Và nhớ lại câu nói của thiếu phụ lúc máy bay tiếp đất hôm nào, thì Hàn hiểu, thiếu phụ chưa thể dứt ra khỏi cuộc chia tay rất bịn rịn với người đàn ông khi nãy đâu, nên mặc dầu đã lên máy bay rồi mà chị vẫn còn ngấp nghển nhìn qua ô cửa, vì có lẽ còn hy vọng nhìn thấy người đàn ông thương nhớ nọ lần cuối cùng trên nóc đài đưa tiễn cao ngất ngưởng ở bên trái đường băng. Cho đến khi máy bay đã qua chừng nửa chặng đường, có thể là đang ở trên không phận tỉnh Khánh Hòa, đã cảm nhận được hơi ấm của bầu không khí nhiệt đới phương Nam, người thiếu phụ mới như chợt nhận ra Hàn. Chào chị. Thế là may mắn ta lại gặp nhau. Đôi hồi vài câu chào hỏi xã giao xong, thiếu phụ chỉ cuốn sách đang đọc, vẫn là cuốn Phục Sinh, tiểu thuyết của Lev Tolstoy hỏi Hàn có biết ông nhà văn Nga này không? Hàn đáp: Có. Tôi có đọc ông. Đưa tay xoa xoa hai con mắt còn nhớt nhát ánh nước, thiếu phụ nói: Ông nhà văn vĩ đại này có một câu nói thế này: trong một chuyến đi, nửa chặng đường trước, ta nhớ về nơi vừa mới chia tay, nửa chặng đường sau, ta nghĩ về nơi sắp tới. Thật là hay, có phải không, chị?

Hàn im lặng. Lặng im, hai con mắt dài đẫm lệ của Hàn hướng ra ô cửa sổ, gặp những dải mây trắng mềm mại đang vùn vụt bay ngược chiều với sải cánh máy bay. Tolstoy vô cùng đúng, và như vậy ông cũng đã vô tình chạm vào nỗi đau của Hàn, của kiếp người. Kiếp người có dài đâu mà đa đoan, khổ ải vậy. Cuộc sống chẳng được như ý bao giờ và ký ức luôn là một gánh nặng quá tải với con người, với mỗi kiếp người là thế.

M.V.K

 

MA VĂN KHÁNG
Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 254

Mới nhất

Thông báo về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí

13/04/2026 lúc 22:15

THÔNG BÁO Về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí Kính gửi quý bạn đọc,

31/07/2025 lúc 15:23

Tạp chí Cửa Việt - 35 năm một chặng đường

28/06/2025 lúc 16:18

Ngày 28/5/2025, Tạp chí Cửa Việt tổ chức lễ kỷ niệm 35 năm tạp chí ra số đầu tiên và gặp mặt cộng tác viên năm 2025. Tại buổi lễ, Phó Tổng biên tập phụ trách Hồ Thanh Thọ đã có bài phát biểu khai mạc...

Vùng trời hoa sim

26/06/2025 lúc 23:29

Những triền sim tím đồi xaBềnh bồng nâng gót mùa qua lặng thầm

Hương xưa; Nắng sớm

26/06/2025 lúc 23:27

Hương xưa… Ta về tìm lại hương xưa

Tạp chí số cũ
Câu chuyện du lịch
tư tưởng Hồ Chí Minh

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

22/04

25° - 27°

Mưa

23/04

24° - 26°

Mưa

24/04

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground