Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 15/04/2026 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

O Lành

M

ới sáu giờ sáng, tôi đang làm mấy động tác thể dục thì vợ tôi gọi vào nghe điện thoại. Tay bịt chặt ống nghe, vợ tôi nguýt “Mới mở mắt ra đã có em từ trong Huế gọi ra”. Tôi cười trừ không nói đỡ lấy máy.

-A Lô. Tôi. Tự đây!

-Cháu chào bác! Cháu là Thủy con mẹ Lành đây ạ - Chỉ được mấy từ mạch lạc vậy Thủy vừa nói vừa khóc. Tôi dỗ dành :

-Mẹ cháu làm sao? Bình tĩnh nói bác nghe nào.

Cảm giác hụt hẫng lẫn sự tức giận bừng sôi khiến tôi bối rối, chơi vơi rất khó chịu. Tôi ngồi thừ người bên cạnh chiếc máy điện thoại, vợ tôi cũng lại ngồi cạnh, nhỏ nhẹ :

-Chị ấy bị làm sao hả anh?

-Sắp chết.

-Sắp chết? Tại sao lại thế cơ chứ ?

-Tại sao hả? Tại chiến tranh. Tại vì sự ích kỉ của các người.

-Ơ hay. Sao anh lại...

Nhà tôi bỏ dở câu hỏi khiến tôi ân hận vì sự nóng nảy vô lý của mình. Tôi vắn tắt kể về cái tin đau lòng mà tôi vừa nhận được. Con trai Lành, thằng bé mười bảy tuổi chết bị chết vì quả đạn M79 nổ trên tay khi nó tháo ngòi nổ. Chồng Lành uất quá nhảy xuống hồ tự tử. Không chịu nổi hai cú sốc liên tiếp, Lành ngã xuống ngất lịm, hai ngày rồi chưa tỉnh.

Vợ tôi cũng xúc động vì cái tin bi thương đó. Cô ấy giục tôi điện xin cơ quan rồi hối hả gấp áo quần, chuẩn bị tiền nong gọi điện mượn ô tô. Tám giờ sáng, nghĩa là chưa đầy hai tiếng sau khi nhận được tin, vợ chồng tôi đã ra khỏi thành phố Việt Trì.

Đến đường Pháp Vân cách Hà Nội 30km, kim đồng hồ chỉ 9 giờ 30 phút, như thế là xe đi khá nhanh. Từ đây vào bệnh viện Đông Hà, Quảng Trị còn hơn 700km, không thể giục lái xe chạy nhanh hơn được, phải để anh ấy làm chủ tốc độ. Nghĩ thế nhưng tôi vẫn sốt ruột, bứt rứt sợ vào muộn không kịp gặp được Lành. Vợ tôi nói :

-Cầu trời cho chị ấy tỉnh lại.

-Khó lắm. Nghe nói đang thở ô xy, tháo ra lúc nào là đi lúc ấy.

-Nếu biết cơ sự thế này thì em đã không ngăn anh đưa thằng bé về nhà mình.

Đó là lời sám hối tự đáy lòng. Không phải đến bây giờ mà bốn năm trước đây, chỉ vài tháng sau sự phản đối kịch liệt, nhà tôi đã nói “ Anh bảo vợ chồng chị Lành đưa thằng bé a nhà mình cũng được.Em không phản đối nữa”. Nhưng lúc đó tôi lại không muốn nữa. Có cái gì đó không ổn. Vì không chỉ nhà tôi mà chồng Lành cũng không thoải mái.

Tôi với Lành có nhiều kỉ niệm, đã thương nhau lắm. Dù chưa nói lời hò hẹn nhưng đầu mày cuối mắt thì đã nói lời yêu đương. Nếu không vì chiến tranh tàn khốc, không vì sự hiểu nhầm, không vì sự ích kỷ của mình thì không có chuyện năm 2000 tôi mới đi tìm Lành ở Ba Lòng, Quảng Trị.

Vợ tôi viết rõ tình cảm của tôi với Lành và đã từng rất thận trọng khi nghe tôi kể những kỷ niệm về mối tình đầu của tôi. Vậy mà mặt vẫn xị ra khi tôi dành nguyên một tuần đi tìm Lành. Ban đầu, tôi chỉ dự tính 3-4 ngày,nhưng khi biết Lành một du kích, một cán bộ xã đội có nhiều công lao trong kháng chiến lại phải chịu thiệt thòi, không hề được chút đãi ngộ nào vì sự nghi kỵ hẹp hòi của một số người thì tôi không thể cầm lòng. Tôi đã đến những nơi cần đến, gặp những người cần gặp để xin được minh xét cho Lành. Đặc biệt là tiểu đội trường Hùng, cấp dưới của tôi năm 1972 nay là thứ trưởng ở Hà Nội đã viết xác nhận cô Lành là người tốt, người có công. Tôi còn bàn với nhà tôi đón đứa con trai thứ hai của Lành ra Việt Trì cho nó được học hành. Nhà Lành nghèo lắm. Hai vợ chồng đau ốm dặt dẹo luôn nên đứa con gái lớn học xong cấp hai là bỏ. Còn thằng em đang học lớp sáu cũng sẽ bỏ học vì không có tiền đóng góp xây dựng, tiền mua sách vở, trường lại quá xa. Cứ tưởng nhà tôi sẽ động lòng trắc ẩn vì các con tôi đã phương trưởng, học tập, công tác xa. Nhà lại rộng tênh, có thêm thằng bé thêm vui cửa vui nhà, nào ngờ nhà tôi xoe xóe “ anh nằm lì trong ấy cả tháng, chưa đã hay sao mà còn rước con người ta ra? Tôi lạ gì âm mưu các người...”

Chao ôi! Cái sự nghi kỵ của con người mới đáng sợ làm sao?

Tháng 7/1972 vừa tốt nghiệp trường sĩ quan Lục quân với quân hàm thiếu úy, tôi nhận chức trung đội trưởng trong đội hình một tiểu đoàn đủ quân vào bổ sung cho mặt trân Quảng Trị. Quảng Trị lúc chúng tôi có mặt khói bụi mù trời, mù đất. Tiếng máy bay, tiếng pháo bầy rít gió, tiếng bom đạn inh tai, nhức óc.Ấy vậy mà giữa nơi bom đạn ác liệt ấy, trung đội của tôi vẫn có được một nơi khá yên ổn, bình lặng để trú quân chuẩn bị cho những trận đánh giành lại những nơi bị địch lấn chiếm.

Đấy là xóm Đồi ở xã Do Mỹ. Nói là đồi nhưng chỉ là những cồn cát lẫn đất màu cao hơn những bãi cát xung quanh chỉ 10-12 mét. Được cái là có mấy khóm tre và rất nhiều cây phi lao um tùm. Có những cây to nhưng cột đình, cao hơn chục mét. Cả xóm chỉ lơ thơ vài chục ngôi nhà lớp tôn,nhà nào cũng chỉ nhinh nhỉnh hơn cái nhà bếp ngoài Bắc. Nhà chật nhưng lòng người thì rộng. Bà con coi chúng tôi như con cháu họ.

Ngày đầu mới đến vùng cát này, chúng tôi được tiếp nhận năm chiếc hầm kèo do đơn vị bạn làm sẵn, mỗi hầm chỉ đủ cho một tiểu đội nghỉ ngơi. Tôi rất hài lòng về độ chắc chắn của những căn hầm, nhưng vẫn lăn tăn bởi những chiếc hầm ấy chỉ đủ cho bộ đội nghĩ lúc phân tán còn khi hội ý, giao ban, họp trung đội thì phải có nhà hầm, có giao thông hào nối thông các căn hầm. Nhưng đó là việc khó. Cực khó. Vì để đào đất đủ diện tích làm ngôi nhà nửa nổi nửa chìm và giao thông hào sẽ chặt bỏ rất nhiều phi lao. Như thế thì địa hình sẽ trống hươ, sẽ là mục tiêu cho máy bay, pháo bầy dội bom, xả đạn. Đấy là chưa kể các gia đình có cây chắc gì đã cho chặt? Hiểu được băn khoăn của tôi o Lành xã đội phó nói :

-Eng Tự. Em có cách ni eng coi được không ?

-Tuyệt! Tuyệt vời – Tôi reo lên, suýt nữa thì ôm chầm lấy Lành. Cái cách mà o đưa ra thật đơn giản mà tôi không nghĩ ra. Đó là đào nền nhà, giao thồn hào nhưng không chặt cây mà đẽo bớt rễ rồi lấy đất trát, lấy ni lông, vải bạt bọc từng gốc cây, vừa bảo vệ cho cây vừa không để cây chảy nước làm bẩn nền nhà, nền giao thông hào.

Sau này, khi người em của o Lành ở phía bên kia ghé về đã trầm trồ “ Chịu mấy cha nội Việt cộng tài thiệt, giỏi thiệt “ O nói : “ Không tài, không giỏi thì sức mấy mà tụi bay chạy dài ? “. Tiểu đội trưởng Hùng tình cờ nghe được cuộc đối thoại của chị em họ mách lại như thế. Tôi thấy o thật đáng mến phục.

Năm 1972 o Lành mới hai mươi mốt tuổi, thua tôi hai tuổi. Còn người em họ trung úy thủy quân lục chiến hơn tôi vài tuổi. Nếu không có sự nghi kỵ, những lời bóng gió về sự nhập nhèm anh em họ thì tôi đã không mất Lành.

- Anh không chớp mắt tý cho đỡ mệt, đêm qua viết lách khuya lắc, khuya lơ

- Anh không ngủ được.

- Trong ấy bây giờ là mùa mưa anh nhỉ ?

- Ờ mùa mưa.

Không hiểu vô tình hay hữu ý mà nhà nhà tôi nhắc tôi nhớ về mùa mưa Quảng Trị 1972. Một mùa mưa không bao giờ quên...

Do Mỹ mùa mưa năm 1972 như một bán đảo giữa ba bề mênh mông nước. Đất sũng nước, bầu trời cũng sũng nước nên mưa cứ chợt rơi, chợt tạnh. Chỉ có đèn dù, pháo sáng là luôn vàng ệch nhấp nháy như ma trơi đầy trời. Những làn đạn nhì nhằng rạch trời đêm rồi chớp sáng loạn xạ sau tiếng nổ ùng oàng. Bọn thủy quân lục chiến vừa thay thế bọn lính dù ở các khu co cụm, ở khu mới lấn chiếm bên kia sông Thạch Hãn đang chứng tỏ chúng còn dư dật đạn dược, đang sẵn sàng phản kích lấy phần đất mà “ Việt Cộng” vừa giải phóng. Những thành viên trong tổ trinh sát chín người do đại đội trưởng Cường và tôi chỉ huy không quan tâm đến những động thái đó.Kể cả những quả đạn pháo rít gió rèn rẹt trên đầu cũng chẳng làm chúng tôi bận tâm bằng việc phải chú ý kẻo sa xuống hố bom. Mà những hố bom, những cái bẫy giữa những cánh đồng sũng nước Do Linh, Triệu Phong thì nhan nhản. Có người “ lặn” đến hai ba lần. Còn tôi sau ba đêm không “ lặn” lần nào thì đêm thứ tư sau khi đi trinh sát bọn địch ở Tích Tường về bỗng rơi tùm, chìm nghỉm xuống một hố bom tấn sâu hoắm. O Lành vội bì bõm lội tới đưa tay kéo tôi, nhưng bị trượt chân rơi tỏm xuống. Hai người phải vũng vẫy một lúc mới ngoi lên được. Mấy người reo cười trêu tôi cố ý ngã, cố ý kéo Lành xuống tắm. Tôi chỉ biết cười khì khì. Sự gắn bó của chúng tôi được anh em ủng hộ, vun vào. Nhưng cũng có người lại lo.Bà Út hàng xóm của Lành, có chồng là du kích hy sinh năm Mậu Thân, có hai con sơ tán ra Vĩnh Linh khuyên: “ Chú phải cẩn thận ha. Em họ nó là lính ngụy, mà cái sự em họ, em hẹ cũng đáng ngờ lắm. Những chuyện cơ mật chớ cho nó biết, cũng đừng có yêu ơ vớ vẩn mà rước họa vô thân”. Sự nhắc nhở của bà Út đã làm chúng tôi thận trọng hơn. Lấy lý do đã thuộc đường nên những lần đi trinh sát, bám địch sau đó chúng tôi không nhờ o Lành đãn đường nữa. Có một đêm tôi dẫn tổ bốn người luồn hẳn vào trong lòng địch chứ không ở cách mục tiêu năm mươi mét dùng ống nhòm quan sát như trước đó. Lợi dụng lúc trăng chưa vào mây trời tối thui chúng tôi bò vào nơi bọn địch đồn trú. Trăng đêm mùa mưa Quảng Trị khi chui ra khỏi mấy sáng ớn người. Vì thế mà chúng tôi bị bất ngờ khi thấy lính ngụy lố nhố gần gựa quá. Bọn địch còn bị bất ngờ hơn. Đén nỗi khi tôi ra hiệu cho anh em rút lui được một đoạn chúng mới định thần la lối. Việt cộng. Việt cộng. Tiếng bước chân thình thịch, tiếng lên đạn lách cách và tiếng quát rất to của thằng chỉ huy “ Bắt sống. Phải bắt sống! Không được bắn”. Nhờ cái sự quyết tâm bắt sống của chúng mà chúng tôi không cần khom lưng, cứ ngẩng cao đầu vắt chân lên cổ mà chạy. Khi ra khỏi vùng nguy hiểm ai cũng thấy tiếc là đã bị mất đôi dép quai đúc Trung Quốc. Không ngờ không chiếc dép nào bị tuột quai hoặc mắc lại ở cánh đồng sũng nước, mà đều leo lên bám chắc ở kheo chân của mọi người. Điều kì lạ nữa là không hiểu tại làm sao khi biết không thể bắt được chúng tôi mà bọn ngụy không xả súng hoặc ném theo mấy trái lựu đạn ?

Sau khi cùng đơn vị bạn tập kích chiếm lĩnh cứ điểm Tích Tường chưa kịp nghỉ ngơi trung đội tôi được giao nhiệm vụ vượt sông sang An Lộng ( một nơi chưa được trinh sát ). Sau một ngày chuẩn bị, chúng tôi được tăng cường hai tiểu đội theo trinh sát trung đoàn dẫn đường tiềm nhập, đánh chiếm Bích La Đông. Lực lượng địch ở đây chỉ có một trung đội, nhưng lại là nơi chúng đặt đài quan sát theo giỏi vùng giải phóng của ta. Nhổ được cứ điểm Bích La là bớt được một cặp mắt xói mói của địch. Ba giờ sáng khi mũi chính gồm hai tiểu đội có trung đội trưởng đi cùng cắt xong hàng rào ám sát mục tiêu thì trinh sát dẫn đường vướng phải mìn, lập tức hỏa lực địch ràn rạt, áp chế khiến ta phải nằm bẹp tại chổ. Chúng tôi đang tính phương án hai dùng mìn đinh hướng và B41 thổi hàng rào ở một hướng khác thì có tín hiệu mời về phía sau có người gặp. Cứ nghĩ là có chỉ thị của cấp trên ai ngờ người gặp lại là Lành.

- Làm sao o biết chúng tôi ở đây.

Phật lòng trước thái độ ngờ vực của tôi, nhưng Lành vẫn tỏ ra bình thản.

- Eng cho quân theo em. Em biết lối vào rất bí mật.

- Nếu bị phục kích trên đường thì o dám chịu trách nhiệm chứ ?

- Dám – Tiếng Lành khô khốc như ngói vỡ. Tôi bố trí một tổ nghi binh dùng trung liên bắn áp chế và ném lựu đạn như thể là ta đang có sống chết tiến vào. Lực lượng còn lại theo o Lành vòng về phía sau hậu phương đich cắt hàng rào đánh vu hồi vào cứ điểm.

Sau khi diệt và bắt sống ba mươi hai tên thủy quân lục chiến ngụy làm chủ trận địa, trung đội chúng tôi được lệnh chốt giữ cứ điểm. Sáng ngày thứ ba, đáng địch phản kích thì tôi bị thương vào vai. Vết thương vào phần mềm, nhưng mảnh đạn pháo găm ở đó, đau nhoi nhói buốt tận óc nên tôi phải về trạm phẩu thuật trung đoàn mổ lấy mảnh. Ngang qua Do Mỹ, tôi chợt nhớ Lành đến nao lòng. Phần vì sau trận đánh Lành về ngay chưa kịp nói lời cảm ơn nên tôi tụt lại. Nếu không có sự giúp đỡ của o thì trung đội tôi có chiếm được Bích La cũng tổn thất không ít. Nơi trung đội chúng tôi ở nay là hậu cứ của đại đội, tôi về đây cũng như về nhà. Ngày ngày cậu y tá tiêm kháng sinh thay băng cho tôi. Còn ăn uống đã có o Lành. Một lần nữa sự ân cần của o Lành như gió mát, như men say khiến tôi phấn chấn. Lành như người vợ hiền hậu, đảm đang nhất thế gian này, tôi thầm nghĩ thế, nhưng rồi vết thương của tôi không lên da non, bởi cái mảnh đạn trồi ra ngoài miệng vết thương dù chỉ một đoạn ngắn cũng dở chứng không chịu “ chung sống hòa bình” khiến tôi phát sốt, phát rét người gầy xọp đi. Cậu y tá cứ giục ra trạm phẩu ở Vĩnh Linh nhưng tôi ngại ra xa lúc quay vào vất vả. Lành cũng không muốn tôi ra Vĩnh Linh. O bàn với y tá rạch mở rộng vết thương gắp mảnh đạn ra nhưng cậu nhăn mặt không dám.

- Để tui làm thử coi.

Sau nữa giờ thao tác, vết thương đã được mở rộng, máu đã thấm đỏ mấy miếng gạc và mấy lần dùng panh kéo thử mảnh đạn vẫn chưa nhúc nhích. Mồ hôi Lành rịn đầy trán, cậu y tá phải dùng khăn lau hộ mấy lần mà công việc cơ chừng khó xong. Có lẽ sợ tôi đau nên o không dám mạnh tay. Biết được sự do dự của o, tôi động viên :

- Em cứ mạnh tay làm một phát dứt khoát đi. Anh không sao đâu, mà.

Lành nghiến răng giật mạnh.

- Ối! – Tối hét lên rồi ngất lịm. Lành vứt chiếc panh có kẹp mảnh đạn đầy máu ôm chầm lấy tôi miệng líu ríu giục y ta băng vết thương.

Khi tỉnh lại trong vòng tay Lành, thấy em cười mà như mếu, mồ hôi lẫn nước mắt đầm đìa khuôn mặt, tự dưng nước mắt tôi cũng dàn ra. Một niềm xúc động lạ kỳ, tội dụi đầu vào ngực Lành sung sướng như đứa trẻ hít hà hơi sữa mẹ.

Vết thương bình phục dần cũng có nghĩa là ngày rời hậu cứ sắp đến, tôi cảm thấy quyến luyến lạ lùng. Lành cũng bịn rịn không kém. Những đêm trước ngày trở về đơn vị, chúng tôi thường ngồi trên nóc hầm kèo dưới ánh trăng ngời ngợi. Lành thủ thỉ hỏi về bố mẹ, về quê hương. Tôi thật thà “ khai” hết. Duy chỉ có điều là em muốn và tôi cũng muốn nói là sẽ đưa em về thăm quê, vùng quê bốn mùa xôn xao sóng biển, sẽ giới thiệu em với bố mẹ...thì chưa thể. Tôi biết Lành buồn, nhưng thà buồn hôm nay còn hơn ngày mai nhỡ tôi ngã xuống như bao đồng đội em sẽ hụt hẫng đau đớn hơn nhiều. Mấy ngày trước đó, tôi vừa nhận được tin trung đội thương vong mười bảy người. Ba tiểu đội theo tôi vào trận Bích La nay chỉ còn lại một tiểu đội.

Đêm trước lúc rời Do Mỹ trời tạnh ráo, sao đầy trời, trăng như sáng hơn, gió biển cũng phóng khoáng hơn, tôi trằn trọc không sao ngủ được. Tiếng cát bay, tiếng cành lá phi lao tràn trạt trên mái tôn như cào cứa vào lòng. Tôi muốn chạy sang nhà Lành ôm em vào lòng, ghì em thật chặt và thổn thức nói lời yêu thương “ Xin em hãy sinh cho anh một đứa con. Nhất định anh sẽ trở về. Cho dù anh có ngã xuống thì em đã có con, có hình hài của anh để lại”. Nhưng đó cũng chỉ là ý nghĩ. Dù là một ý nghĩ mãnh liệt.

Tôi đã kể với vợ tất cả, duy chỉ ý nghĩ này là chưa nói ra, cả Lành cũng không hề biết cái đêm tôi trằn trọc không ngủ đó.

Thì ra Lành không hề oán trách tôi. O thành thật nghĩ tại vì làng xóm bị bom đạn tàn phá, mọi người dạt ra khắp nơi,tôi đã trở lại nhưng không biết đâu mà lần. Cũng có thể tôi đã hy sinh. Cờ thực thì tôi chỉ đi được nữa đường thì bỏ cuộc. Sau ngày đất nước thống nhất, tôi đã lên sư đoàn xin giấy nghỉ phép để vào Nam tìm Lành. Anh Cường đại đội trưởng của tôi thời 1972, lúc bấy giờ là trưởng ban cán bộ sư đoàn khuyên không nên tìm cô ấy. Sau ngày tôi rời hậu cứ được vài tháng thì người em họ của Lành mò về. Anh ta đi được mấy hôm thì khu hậu cứ bị B52 và pháo bầy giã như giã bò. Bao nhiêu nhà cửa, cây cối như chui xuống đất, như bay lên trời hết. Người ta nghi gã em họ Lành đã chỉ điểm cho địch. Sau ngày giải phóng mọi người lại thấy o ấy đi thăm người em họ ở khu cải huấn sĩ quan ngụy mấy lần. Vì những hiện tượng ấy mà o không còn giữ chức xã hội, chỉ làm cái việc phong trào không quan trọng ở xã. Mặc dù o là người có công, có năng lực.

Vợ chồng tôi đến bệnh viện Đông Hà lúc năm giờ chiều. Cháu Thủy nhào ra ôm lấy tôi khóc nức nở khiến vợ tôi cũng thút thít khóc. Tôi không ngờ trong số những người thân đến với Lành có bà Út. Chồng Lành cũng có người vớt lên đưa vào bệnh viện cấp cứ kịp thời nên thoát chết. Còn Thành, người em họ của Lành nay ở tận nước Pháp cũng đã kịp đến bệnh viện sau vợ chồng tôi vài giờ. Thật thú vị khi biết Thành chính là người đã hô lính không được bắn để bắt sống chúng tôi. Hơn ba mươi năm sau mới có dịp bắt tay cảm ơn anh, tôi lại phát hiện thêm một vẻ đẹp của Lành. Sau khi rời trạm cải huấn một thời gian Thành sang Pháp, anh ta muốn bảo lãnh đón chị họ sang nhưng chị đã khước từ.

Bà Út mếu máo khoe với vợ chồng tôi o Lành đã được nhận Huân chương kháng chiến, Huân chương chiến công và tiền trợ cấp.

Nói rồi bà khóc. Bà tự sỉ vả cái mồm lẩm cẩm của mình làm Lành khổ. Nhìn khuôn mặt già nua dàn dụa nước mắt tôi thấy bà đáng thương hơn là đang giận. Ngay cả các vị cán bộ xã Do My khi tôi trở lại  cũng xác nhận o Lành là người có công, không có án kỉ luật. O vẫn là đảng viên, vẫn là cán bộ. Việc xã không bố trí o làm cán bộ chủ chốt là do có thêm những người từ bộ đội, hoặc ở miền bắc trở về nên chuyển o sang làm hội phó hội phụ nữ là hợp lý. Đáng tiếc là những xì xào trong dân chúng thì lãnh đạo như không hay biết không có sự nghi kỵ, không vì những cái miệng ác khẩu thì Lành đã không phải bỏ làng mà lên nơi thượng nguồn sông Thạch Hãn heo hút. Ở đây o có nhà, có chồng con nhưng nào được yên thân. Những lời thì thào như ngọn gió độc vẫn len lỏi đến nơi thâm sơn cùng cốc. Chồng o là người Pacô từng là du kích đánh Mỹ ngụy rất gan dạ. Hết chiến tranh, ông cất khẩu súng làm rẫy, làm ruộng, vào rừng lấy mật ông một lòng vì vợ vì con. Vậy mà khi nghe cái tin, o được một cán bộ quân giải phóng yêu, muốn cưới làm vợ nhưng lại dan díu với em họ nên anh cán bộ đã tránh xa...làm ông sục sôi căm giận. Ông uống rượu xỉ vả vợ con không tiếc lời...Thấy vợ nhẫn nhục chịu đựng ông cũng bớt chửi mắng, nhưng không còn siêng năng vào rừng, lên nương nữa. Ngày ngày ông đi tìm đào bom đạn lép. Tuy kiếm được tiền nhưng đó là công việc cực kì nguy hiểm. Lành càng can ngăn, ông càng hung hăng. Ban đầu, ông không muốn cậu con trai can dự vào, nhưng trẻ con thường tò mò thích mạo hiểm. Với lại có những việc một mình ông không kham nổi, thế là đứa con thành trợ thủ đắc lực của cha.

Tối hôm đó vợ chồng tôi theo cháu Thủy vào thăm o Lành. O vẫn thở ôxi nhưng đã linh hoạt lắm. O cười ra ý chào vợ chồng tôi. Vợ chồng tôi nắm lấy tay Lành nói lời an ủi, hứa hẹn chúng tôi còn ở lại chờ ngày o ra viện. Lành gật đầu những giọt nước mắt ứa ra lăn xuống gối.

                                                                                                                                                                                                                                                   N.H.S

Nguyễn Hùng Sơn
Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 126 tháng 03/2005

Mới nhất

Thông báo về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí

13/04/2026 lúc 22:15

THÔNG BÁO Về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí Kính gửi quý bạn đọc,

31/07/2025 lúc 15:23

Tạp chí Cửa Việt - 35 năm một chặng đường

28/06/2025 lúc 16:18

Ngày 28/5/2025, Tạp chí Cửa Việt tổ chức lễ kỷ niệm 35 năm tạp chí ra số đầu tiên và gặp mặt cộng tác viên năm 2025. Tại buổi lễ, Phó Tổng biên tập phụ trách Hồ Thanh Thọ đã có bài phát biểu khai mạc...

Vùng trời hoa sim

26/06/2025 lúc 23:29

Những triền sim tím đồi xaBềnh bồng nâng gót mùa qua lặng thầm

Hương xưa; Nắng sớm

26/06/2025 lúc 23:27

Hương xưa… Ta về tìm lại hương xưa

Tạp chí số cũ
Câu chuyện du lịch
tư tưởng Hồ Chí Minh

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

16/04

25° - 27°

Mưa

17/04

24° - 26°

Mưa

18/04

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground