Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 21/04/2026 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Phiên chợ cuối cùng

Leng keng… Leng keng… Leng keeeeng…

Khi mặt trời còn vùi mình dưới dãy Sán Khố Ủ, bà Sỏa đã rong con bò tơ xuống núi. Âm thanh từ chiếc chuông bò khua lũ chim rừng vỗ cánh, chao chát gọi nhau. Những âm thanh ấy đâu có gì lạ với bà Sỏa, nhưng mỗi lần dắt một con bò đi bà lại nghe thấy, cảm thấy nó khác, khác lắm. Lần này cũng vậy, hình như tiếng chuông bò cũng trở nên trễ nải, rời rạc như bước chân bà, như tâm can bà.

Từ lâu, lâu lắm rồi, dễ đến mười năm, hai mươi năm, hay xa hơn nữa, trong những ngày xuân, người khắp vùng này đã quá quen với hình ảnh người đàn bà buổi sáng dắt con bò tơ xuống các chợ, buổi chiều lại dắt chúng ngược núi. Không ai biết những gì đang diễn ra trong bà.

Mỏi chân, bà Sỏa buộc bò vào gốc táo dại ven đường. Lẩn trong những phiến lá xanh, hoa táo đã lấm tấm trắng. Bà tựa tấm thân mảnh dẻ vào tảng đá xám. Gió mơn mơn thổi, thoảng hoặc vài hạt mưa lắc rắc. Mặt trời đã nhô lên, ban phát thứ ánh sáng vàng mơ, non tơ cho cả một vùng núi đồi trùng điệp. Trên các đỉnh núi, những dải sương còn đậu hững hờ. Những trảng rừng phía xa bừng lên một màu xanh ngời, non mởn. Trong các hốc đá lún phún những đám cỏ mướt mát, lóng lánh những giọt sương li ti. “Mùa xuân về… lại về thật à?” - Bà Sỏa cứ lảm nhảm một mình, mặc những người đàn ông, đàn bà lũ lượt kéo xuống chợ đang nhìn mình và con bò. Những cặp mắt ấy có ý nghĩa gì đâu đối với bà, với hành trình dài dặc kiệt cùng trong đợi chờ, hy vọng của bà.

“Sình đang ở đâu?” - Câu hỏi không biết bao nhiêu ngàn lần bà tự hỏi rồi tự trả lời. Lẽ nào Sình đã quên? Hay Sình đã chết? Nếu lão còn sống thì sao không tìm về với bà? Lẽ nào một người có thể ăn lá ngón vì không được ở cùng bà lại dễ quên vậy sao? Không đâu, nhất định một ngày lão sẽ trở về để nói cho bà biết bao năm qua lão ở đâu, lão đã nghĩ gì, lão đã làm ra được bao nhiêu con bò. Nhưng đến bao giờ thì bà có thể nghe những lời ấy. Nước mắt bà lại bò từ hai hốc mắt, bò xuống gò má lốm đốm, dăn deo rồi tràn xuống cằm. Bao năm qua, hình như nước mắt chảy đã hằn thành hai vệt lờ mờ trên đôi má vốn rất căng, mịn của bà.

 - Bà Sỏa à, đợi eng nào mà ngồi thần ra thế?

Hai con bé Mẩy, Lanh váy áo xúng xính, lưng gùi quẩy tấu vừa đi đến trước mặt bà vừa trêu chọc. Má chúng nó hồng rực lên như quả dâu rừng. Con mắt thì rõ đang rất vui, cái vui của lũ con gái mà mùa xuân còn hừng hực trong tim.

- Mả tổ nhà chúng mày. Để cho cái người già này yên đi nào!

Bà mắng yêu hai cô bé khi chúng đã ngồi cạnh bà. Chắc chúng không định bắt bà kể chuyện đấy chứ? Những câu chuyện của bà, chính bà cũng không hiểu tại sao mấy con bé này lại thích thú đến thế. Có gì hay đâu, cái chuyện lần đầu lão Sình cầm tay bà làm con tim bà nhảy loi choi trong lồng ngực, rồi thì tiếng sáo của lão làm bà như bị ma bắt hồn mỗi khi thiếu nó, lại cái đận lão liều lĩnh ôm eo bà, định kéo bà vào buồng nhà lão... Thì cũng như chuyện ông bà, bố mẹ nhà chúng thôi, nhưng sao chúng cứ thích nghe chuyện đó từ bà nhỉ? Chúng đâu biết rằng, mỗi lúc chúng nghe chán chê rồi bỏ đi thì bà lại ngồi lặng một mình, rồi để mặc những giọt nước mắt hoen nhòe gương mặt đã nhuốm màu đá núi.

Mải trôi theo những ý nghĩ, giờ bà Sỏa mới thấy hai con bé này thực ra chả để ý gì đến bà. Chúng đang líu ríu chỉ trỏ lũ chim đùa giỡn chí chách trong những tán lá xanh non. Chúng không định quấy rối bà, chúng chỉ lấy cớ để ngồi nghỉ bên bà thôi. Hai đứa thu váy đứng lên khi lũ chim biến vào cánh rừng rậm. Con Mẩy bảo:

- Đi chợ bò bên thị trấn Mẻo Vản với chúng cháu không, bà Sỏa ơi!

- Đừng có lừa người già, không có cái chợ ấy đâu.

- Có thật, người ta mới mở, con bò đẹp thế kia thì núi tiền đấy. Cháu không nói dối mà, bà không muốn đi thì thôi.

Con Lanh nói rồi kéo con Mẩy cùng đi. Chúng bỏ lại tiếng cười trong vắt. Tiếng cười vút lên, hòa vào tiếng gió đang rít i i giữa khe núi. “Thật là có cái chợ bò bên Mẻo Vản à?” Sao bà không nghe, không biết về nó. Nhưng đúng là hai con bé đã rẽ đường xuống Sủ Thèn Pả để sang bên Mẻo Vản, váy hoa rập rờn như hai con bướm chao lượn trên đường. Kệ nhà chúng mày, bà cứ đi chợ Củng Páy này đã. Lão Sình là người Sán Chải. Mà người Sán Chải có đi bao lâu, đi tận đâu khi về vẫn phải nhớ qua con đường lớn, leo lên dãy Sán Khố Ủ, rồi qua cái chợ Củng Páy này mà về nhà. Người già bảo cái đường ấy, cái chợ ấy là do tổ tiên người Sán Chải ở Củng Páy làm ra. Sau vì đi tìm mảnh nương tốt mà anh em chia mỗi người một vùng, lập lên những cái bản mới chỗ này là Sán Chải, chỗ kia là Lủ Hồ Nhì, chỗ khác là Chúng Pả, Tả Va... Nhưng ở đâu thì vẫn nhớ tổ tiên là ở Củng Páy. Đi trên con đường ấy, đến cái chợ ấy sẽ được tổ tiên chỉ dẫn, chân sẽ mạnh, đầu sẽ sáng, sông suối không còn sâu, núi không còn cao và sẽ không biết làm việc ác. Qua bao đời, cái chợ Củng Páy giờ nhộn nhịp lắm rồi. Người bên Túng Cáng tràn sang, người trên Thèn Khấu, Na Pao chảy xuống, người Kinh dưới xuôi lên, cả người Tây cũng từ đâu đến bán mua, cười nói, uống rượu vui vẻ, tấp nập, nhộn nhịp, thích mắt lắm. Nhưng bao năm rồi, biết bao phiên chợ rồi, bao nhiêu mặt người già trẻ đi vào mắt bà mà có thấy tăm bóng lão đâu. Sao tự dưng lòng bà lại thấy thắc thỏm thế này. Bà chợt nhìn về hướng Sủ Thèn Pả. Con bò có vẻ chồn chân, nện móng cộp cộp vào đá, rồi rống lên ò o.

*  *  *

Leng keng… Leng keng… Leng keeeeng…

Con bò có vẻ hiểu tâm trạng chủ, cúi đầu bước chậm rãi để bà có thể theo kịp. Đôi bàn chân gầy guộc vẫn bước theo bốn vó bò mà ý nghĩ bà thì lại trôi ngược về những ngày đã xa, xa lắm rồi.

- Sình à, không dắt con bò nào đến nhà tao thì mày không lấy con Sỏa được đâu. Nuôi bao nhiêu công, nó lại xinh thế kia, cho không mày à?

Mỗi lần Sình định bước qua ngưỡng cửa để vào nhà, thì anh Dình lại đứng chắn trước mặt rồi nói thế. Hôm nay cũng thế. Ngồi trong buồng mà Sỏa nghe thấy hết. Thấy hai con mắt anh vằn lên những tia đỏ đòng đọc, hung hăng như mắt trâu dại. Thấy cả cái nguýt rõ dài của chị dâu. Đang ngồi, chị rũ váy bỏ ra chái nhà băm rau lợn cạch cạch cạch như băm vào cái khối làm chị căm thù, lại quăng dao vào con chó chửa làm nó sủa lên ăng ẳng.

- Cho tôi lấy Sỏa, sau này anh lấy bao nhiêu con bò tôi cũng trả. Tin đi, con trai họ Sùng không biết nói dối đâu.

- Mày không nói dối, nhưng con trai họ Sùng chúng mày rõ là không biết lề luật là cái gì à. Sao đi hỏi vợ lại đi tay không, lại chả có ông mối là làm sao?

Chị dâu vùng vằng bước ra, bảo:

- Đợi chúng tao chết thì mày mới mang bò đến để làm ma tươi, ma khô cho à. Nhà này không chờ được đâu, con Sỏa cũng không chờ mày được đâu. Mày đi đám khác đi.

- Cái thằng họ Sùng này, mày có đi không, tao chém bây giờ - Dình hùng hổ vác con dao đi rừng sáng loáng, sắc lạnh.

Thôi đi đi Sình à, không đi là nhận lưỡi dao đấy. Cái lưỡi dao nó không có mắt đâu! Nước mắt Sỏa đã cạn rồi, mấy ngày Sỏa nhịn ăn khi bị nhốt trong buồng này mà anh trai chị dâu cứ trơ ra, có cần biết gì đâu. Chỉ một con bò thôi mà sao Sình không có nó? Sỏa không trách Sình đâu, nhưng sao Sình khổ thế, nghèo thế? Thì làm sao Sình không nghèo, không khổ được khi những thằng con trai khác thích đứa con gái nào chỉ việc kéo vào buồng nhà nó, còn mọi sự là cha mẹ, anh em, họ hàng nhà nó lo cho tất. Còn Sình, Sình có ai đâu? Cái người đàn ông không vợ, ốm yếu, nghèo hèn, cái người đã nhặt được Sình trong hang đá khi Sình còn oe oe đỏ đã bỏ Sình đi mấy mùa nương rồi. Lão đã từng thương Sình, che chắn cho Sình bao năm qua và Sình cũng chỉ biết có lão thôi. Nhưng thử hỏi bây giờ sống lại, lão cũng có kiếm được cho Sình một con bò không? Kiếm làm sao nổi khi mà đến cái lõi ngô lão cũng không có mà ăn. Lũ con gái trong vùng bảo tiếng khèn của Sình là tiếng khèn ma, tiếng khèn chết người, làm chúng nó ngẩn ngơ, làm chúng nó mất hồn... Nhưng không đứa nào dám bước đến gần cái người làm ra tiếng khèn ấy. Vì chúng biết ngoài tiếng khèn, thì người ấy chẳng có gì. Sỏa thì khác, Sỏa vẫn cứ thương Sình, vẫn cứ muốn bước đi theo tiếng khèn của Sình. Sỏa không cần gì đâu, chỉ cần cái vòm ngực như đá núi vồng căng sau lớp áo tà pủ, ánh mắt ấm như bát rượu giữa đêm sương và tiếng khèn ấy thôi. Nhưng anh chị Sỏa thì không cần những thứ ấy. Những thứ ấy không ăn được, không thay được một con bò, chín đồng bạc trắng và chín chum rượu. Hôm qua anh Dình bảo: “Em gái à, chúng tao nuôi mày tốn bao nhiêu là công, thế mà mày lại định đi không đấy’’. Chị dâu mang thức ăn vào buồng, tỉ tê: “Thôi, cái thằng Sình ấy nghèo, chúng tao cho nợ rượu, nợ bạc. Chúng tao chỉ cần nó mang một con bò đến đây. Như mày, nhà người ta phải lấy đến ba con bò đấy, em chồng à’’. Chị dâu nói thế thì biết thế, còn Sỏa biết là mình đáng giá bằng bao nhiêu con bò đây? Nếu bố mẹ còn sống, bố mẹ có đổi Sỏa lấy bò, lấy rượu, lấy bạc trắng không? Sao bố mẹ bỏ đi nhanh quá, để Sỏa lại với anh chị. Sỏa phải đi nương khi chân bước trên đá chưa vững, phải cho cái gùi lên lưng khi tấm lưng còn mỏng như tàu lá chuối rừng, rồi hàng ngày Sỏa phải cắt bao nhiêu cỏ bò, nấu bao nhiêu là cám lợn. Sỏa dậy từ lúc con trăng còn sáng và đi ngủ khi thú rừng rủ nhau đi vồ mồi. Thế mà anh chị luôn mồm kể công nuôi Sỏa. 

*  *  *

Xoẹt... Roẹeet... Rầââm... 

- Mụ kia! Mắt để dưới gót chân à? Sao mụ đi hết đường nhà người khác?

Một thằng con trai đội mũ nồi lồm cồm bò dậy quát tháo ầm ĩ. Bên cạnh nó là chiếc xe máy đỏ chóe nằm chỏng chơ, khói vẫn xì ra đen xịt. Bà Sỏa còn chưa biết tại sao nó mắng mình thì nó đã nhảy bổ vào bà. Nó bắt đền vì bà và bò làm xe nó hỏng. Nhưng bà đã làm gì nào? Bà và con bò lùi lũi đi ở mép đường, thế mà nó lại bảo tại bà là làm sao.

- Con trai Mông mà lại đi bắt vạ người già thì không đáng mặt trai Mông đâu.

- Đường rộng không đi, sao cứ thích húc vào đít bò thế?

Hai người đàn bà và mấy đứa con gái đã vây quanh bà và cái thằng ấy từ lúc nào. Chúng cười nói, chỉ trỏ, rồi lại nhìn cái thằng ấy, làm cho nó phải rời cái thừng bò của bà ra. Mặt nó đỏ bừng lên, hai con mắt ném những tia tức giận vào lũ con gái. Nó cúi mặt, lẳng lặng ra dựng xe rồi phóng vù đi. Lời nói tục của nó còn kịp bay vào tai mọi người.

 - Giàng ơi, sao lại có thằng con trai tệ như thế chứ! - Một bà già thốt lên.

- Thế mà nó còn dám vác mặt đi hỏi khắp lượt những đứa con gái đẹp trong vùng đấy. Thật là chả ra gì!

- Cái thằng Sìn này không ai dạy được nó rồi.

- Thì nó còn chửi cả bố nó, cái lão Sình bán phở ở đầu chợ ấy.

Bà Sỏa chợt rùng mình, có một luồng gió lạnh tấp vào gan ruột khi nghe cái tên mà bà đã âm thầm gọi không biết bao nhiêu lần. Không lẽ nào... Bà nghi ngờ chính những câu hỏi đang dồn đuổi bà. Bà lùi lũi dắt bò. Nhưng bước chân bà như không làm chủ được nữa rồi, nó đã bị câu chuyện của hai người đàn bà và những đứa con gái lạ kia dẫn đi.

- Cái lão Sình ấy khổ thật. Vợ chửi đến rách thịt da, giờ đến lượt thằng con trai chửi.

- Thì cũng tại lão thôi. Lão tham cái nhà gỗ to, cái quán phở cả ngày không hết khói của mụ Ngòi.

- Không phải đâu, lão bị bùa ngải của cái mụ người Hoa ấy đấy. Mụ Ngòi có bùa ma quỷ, trước lão Sình này có mấy đàn ông là chồng mụ rồi. Ba đứa con lớn nhà mụ là con những người đàn ông ấy đấy. 

- Bùa gì, người ta bảo ngày xưa mụ Ngòi được thằng chồng trẻ đẹp, cái lão Sình bây giờ ấy, chỉ là do cái bát phở thôi.

- Sao lại do bát phở?

- Thật thế mà. Chả ai biết lão đến từ đâu nhưng chiều ấy người ta thấy lão đói rét, rách rưới dạt vào quán phở mụ Ngòi. Mụ động lòng cho bát phở, thế rồi sau một đêm mà thành chồng mụ đấy.

Không, nhất định đấy là cái lão Sình nào đó chứ không phải Sình của bà. Sình của bà khác lắm. Sình của bà là cái cây cao thẳng có thể chết giữa trời vì bão bùng, sấm sét chứ không bao giờ lão bám dưới váy đàn bà thế đâu. Chân bà muốn khuỵu xuống nhưng con bò lúc này dường như đã không còn hiểu chủ hay nó cố tình không hiểu. Nó cứ kéo bà đi...

*  *  *

Leng keng… Leng keng… Leng keeeeng…

- Người chết. Có người chết.

Sau tiếng kêu là tiếng rú của chị dâu như mũi khoan xoáy vào tai mọi người. Trời mới tang tảng sáng, Sỏa vừa thiếp đi sau một đêm khóc lóc, vật vã, nghe tiếng rú thì chồm ngay dậy. Anh Dình hộc lên rồi vọt ra.

- Thằng Sình! Sao cái thằng Sình lại chết ở bờ rào nhà tôi? Tôi không giết nó!

Anh Dình vừa dứt lời, người trong bản kéo đến nhà Sỏa như nước lũ. Sỏa đập cửa buồng đùng đùng nhưng không có ai đến giúp, mọi người còn đang nhớn nhác với cái xác chết ngoài kia. Lúc sau có đứa cháu gái mở cửa cho Sỏa, đứa cháu này là con út của anh Dình, nó còi như một con gà nhép trụi lông nhưng là đứa thương Sỏa nhất. Sỏa lao ra thì người ta đã khiêng Sình đi rồi. Thật may, Sình được cứu sống, những ngọn lá ngón non chưa đủ độc để giết Sình. Thì ra, chiều qua, đi dắt con bò dự án của huyện cho vay, Sình định bụng sẽ đưa thẳng nó đến nhà Sỏa nhưng nó lại trượt chân rơi xuống vực. Người ta đã lôi nó lên, nó chỉ còn là đống thịt bầy nhầy. Không ai lại mang đống thịt bầy nhầy ấy đi hỏi vợ. Mấy thằng con trai hay ve vãn Sỏa thấy thế lại hùa nhau bảo làm chết bò của nhà nước cho vay, không lấy gì trả người ta sẽ bắt tù. Như con hổ nằm trong hố bẫy, đường cùng Sình đã tìm lá ngón.

- Không chết được, thì phải sống. Còn thương tôi thì đừng khóc Sỏa ơi! - Sình bảo.

- Đâu, Sỏa có khóc đâu - Nói là không khóc, miệng cố nhếch lên mà nước mắt Sỏa tuôn như nước dưới dòng Tráng Kìm.

- Tôi phải đi, phải kiếm tiền rồi sẽ đi hết chợ cái vùng này dắt cho được một con bò đủ đẹp để cưới vợ cho xứng mặt thằng trai Mông. Nếu không, tôi chỉ là con trâu đầu tối đứng trong góc chuồng tối mãi thôi...

- Sình đi đâu? Sình bỏ Sỏa à? - Nói rồi Sỏa nấc lên như ngày bị trận đòn đầu tiên của anh trai.

- Tôi đi rồi tôi sẽ về. Sỏa cố đợi tôi...

- Bao giờ Sình về?

- Khi nào tôi làm đủ hai con bò thì về...

Và rồi Sình đi, không ngoái đầu lại. Không một lần. Mặc cho tiếng nức nở của Sỏa làm run rẩy những nhánh đào rừng. Sỏa biết nếu Sình ngoái lại thì Sình sẽ không thể bước đi nên Sình đã không làm thế. Sỏa tin Sình, như tin hơi thở lúc mỏng tang đứt đoạn, lúc gấp gáp vẫn còn ở trong lồng ngực mình. Niềm tin ấy đã cho Sỏa như con chim nhỏ nhoi bay qua mọi gai góc, cạm bẫy của đêm rừng. Một năm, rồi ba năm, rồi năm năm... Sỏa vẫn cứ đợi, cứ trơ trơ trước mọi sự quanh mình. Những chàng trai từng bước theo Sỏa, đứng bên hàng rào đá nhà Sỏa đêm đêm mỗi lúc một thưa đi vì không đủ kiên nhẫn để đứng nữa. Anh chị thì chửi rủa như cào da róc thịt. Chửi chán mồm rồi, anh chị đuổi Sỏa, cái đứa cứng cổ cứng đầu làm anh chị mất mặt với không biết bao ông mối... Rồi người ta thấy một túp lều con con dưới chân núi Rống. Bẵng đi mấy năm cái túp lều đã được thay bằng ngôi nhà gỗ xinh xắn, ngày ngày người đàn bà vẫn xua lũ bò lên khu đồi trước nhà. Bao nhiêu công sức của bà dồn vào con bò dự án người ta chia cho, giờ nó đã thành một đàn bò. Có lúc bà tự hỏi: “Làm ra một con bò thì có khó lắm đâu? Vậy mà sao cái lão Sình ấy mãi không về’’. Nước mắt bà cứ lặng lẽ rơi, loáng loáng trước mắt là những con bò đang nhởn nhơ gặm cỏ. Không, không có chuyện gì đâu, lão sẽ về, bà tự trấn an mình khi những ý nghĩ đớn đau vừa ập tới. Rồi bà lầm lũi chăm bẵm đàn bò với một niềm tin mãnh liệt. Bây giờ thì không còn ai bắt bà khi về họ khác phải nộp một con bò. Anh trai và chị dâu đã chết cả rồi. Nhưng nếu lão Sình có về tay không thì bà nhất định dúi vào tay lão cái dây thừng con bò to nhất, đẹp nhất cho lão dắt đến nhà anh chị để báo với ma tổ tiên, ma bố mẹ. Để nói với ma anh chị bà rằng sao chỉ vì một con bò mà để bà thành ra như thế thì có đáng hay không. Mỗi năm qua, lòng bà càng như nước suối sôi, lòng bà như lửa rừng cháy, bà không thể ngồi yên để đợi lão Sình về. Những phiên chợ xuân bà dắt bò đi, bà tin mình sẽ gặp lão, rồi bà sẽ nói với lão rằng bao năm qua lão đã làm ra bao nhiêu con bò mà để bà thành ra thế này. Bao phiên chợ mà bà vẫn không tìm thấy lão...

*  *  *

- Lão ăn hại, có mấy khúc củi mà chết ở đấy mãi à! Vào bê phở cho khách!...

Tiếng rít khê nồng làm bà Sỏa ngước lên theo phản xạ. Người đàn bà phì nộn, lừng lững dáng một con trâu trắng từ trong quán bước ra. Hai tay chống nạnh, khuôn mặt trắng to như cái bánh dày ngày tết hằm hằm. Mắt bắn ra những tia tức giận. Lão già gày gò đang gập người cố sức nhấc mớ củi. Nghe tiếng quát thì giật mình bỏ dở việc, lật đật chạy vào gian hàng bên trong. Khi lão quay trở ra, bà Sỏa không tin những gì vừa in vào mắt bà. Thân hình còm cõi, mái tóc hoa râm, đôi mắt lờ đờ kia thì rõ không phải rồi... Nhưng, cái miệng mỏng như một lưỡi dao nằm ngang trên mặt, cái nốt ruồi bằng đầu ngón tay đen xì có mấy sợi lông dưới cằm kia...

Phút chốc bà thấy lạnh cứng người. Mọi thứ quanh bà quay cuồng đảo lộn. Rồi cứ thế bà thẫn thờ bước đi. Sợi dây thừng rời khỏi tay bà từ lúc nào. Bà không còn biết gì nữa. Vì giờ với bà một con bò, mười con bò hay trăm con bò thì có là gì.

Chiều ấy, người trong vùng thấy một con bò tơ rất đẹp. Nó lần theo đường mòn ngược lên Sán Chải. Nhưng tuyệt không thấy bóng người nào theo sau nó.

N.P

Nguyễn Phú
Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 267

Mới nhất

Thông báo về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí

13/04/2026 lúc 22:15

THÔNG BÁO Về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí Kính gửi quý bạn đọc,

31/07/2025 lúc 15:23

Tạp chí Cửa Việt - 35 năm một chặng đường

28/06/2025 lúc 16:18

Ngày 28/5/2025, Tạp chí Cửa Việt tổ chức lễ kỷ niệm 35 năm tạp chí ra số đầu tiên và gặp mặt cộng tác viên năm 2025. Tại buổi lễ, Phó Tổng biên tập phụ trách Hồ Thanh Thọ đã có bài phát biểu khai mạc...

Vùng trời hoa sim

26/06/2025 lúc 23:29

Những triền sim tím đồi xaBềnh bồng nâng gót mùa qua lặng thầm

Hương xưa; Nắng sớm

26/06/2025 lúc 23:27

Hương xưa… Ta về tìm lại hương xưa

Tạp chí số cũ
Câu chuyện du lịch
tư tưởng Hồ Chí Minh

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

22/04

25° - 27°

Mưa

23/04

24° - 26°

Mưa

24/04

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground