Làng nằm bên sông Bến Hải, ruộng thì xanh đất thì đỏ. Bây chừ, cứ tháng sáu là vào mùa tiêu. Tới mùa em qua phụ dì bắc thang ngẩng cổ hái cả buổi. Dì nói chắc em mắc nợ với đất này rồi, mắc nợ dì với người ở đây nữa, nên chi bao sự chọn lựa tốt lành mà không ở lại nơi thành phố ngọt ngào kia, lầm lũi về cái đất nắng gió này làm chi. Mạ cũng nói y chang dì, mạ nghi có hồn nào đó đang trói em, buộc em cằn cỗi trước tuổi, qua ba mươi mà chưa ai ngó ngàng, khiến em khắng khít nơi đây với những chuyện tủn mủn thời mô tê của dì.
Dì hò hay, giọng dì bắt loa, lên phát thanh vang ra khắp dòng sông, vang vọng hai chiều sâu thẳm bờ này bờ kia. Dì bảo, dượng thương dì cũng là thương giọng hò trước nhất. Hồi ấy, thanh niên đi tát mương, làm mệt cứ hò qua đáp lại. Dượng hiền, thương mà chẳng nói chi. Chỉ ấp úng bảo rằng, nếu tui đi bộ đội, Yến có thương tui không. Dì kể lại mà mặt ưng ửng đỏ. Chẳng hiểu răng, lúc ấy dạn lắm, dì đáp lại rằng, chẳng thương, chỉ nhớ thôi. Rứa là nên duyên. Nên duyên với câu ước hẹn lấp lửng rằng sau này có con, mình sẽ đặt tên là Hiền Lương Thương Nhớ Mãi, năm đứa cho vui… Dì đẻ được chị Hiền và anh Lương thì dượng đi biệt. Chị Hiền sốt rồi mất năm lên hai. Anh Lương lúc ấy mới mấy tháng, cũng èo lên uột xuống, nom thảm lắm. Mà ngày xưa, chẳng ai sướng sung gì. Trong làng, thanh niên trai tráng đều đi bộ đội, làng chỉ còn đàn bà, con gái, trẻ nhỏ với ông bà già. Chừng ấy người cứ dắt díu nhau sống và âm thầm chiến đấu.
Dì cúi mặt ngậm ngùi rằng, người của cách mạng phải trọn tình trọn nghĩa. Không có giấy báo tử của dượng, nhưng một năm, hai năm, bốn năm rồi năm năm không có lấy một tin tức, niềm hy vọng nhen lên bao nhiêu rồi cũng tắt ngúm đi chừng ấy. Rồi tại thằng Lương cứ thèm ba mà con Viên thì thèm mạ, nên chi thấy cảnh cha con Viên lầm lũi bên nhà, dì gật đầu để bốn người về chung mái. Năm mười tuổi, anh Lương mất khi đi tắm với bạn. Người làng bảo số dì sát, sát chồng sát con bởi cái gò má xương xẩu ấy. Chồng mất, con đẻ cũng mất giờ cúi lưng nuôi con người ta. Hồi ấy, em nhỏ xíu, mạ cho em lẽo đẽo quấn chân dì, cho những lần dì ra sông, có em bi bô ở bên dì không nghĩ quẩn. Những lúc về nhà, mạ ngồi chồm hổm bên em rồi hỏi dồn: Dì dắt con ra sông mần chi? Em bảo: Dì hò.
Em lớn lên, kỷ niệm với dì nhiều hơn với mạ, ngủ với dì nhiều hơn ngủ với mạ. Hồi trước, Viên ghét em lắm, bảo em giành mạ của chị, rồi sau, lớn nghe người này người kia nói ra nói vào, Viên bảo đằng nào cũng chẳng ruột rà thân thích nên đâm ra khoảng cách với dì. Viên chẳng biết rằng có những chiều, nhiều khi thơ thẩn, dì đội nón găng ra bờ mà trông. Nhất là từ sau hôm Viên lấy chồng. Ai cũng khen dì trọn tình trọn nghĩa, ba Viên mất cả chục năm nay, mình dì nuôi Viên bằng mấy gốc tiêu sum trái, bằng đàn lợn tròn ĩnh và mấy con bò lông vàng óng. Thế mà Viên học hành xong xuôi, lấy chồng đường hoàng.
Dạo này, dì lẫn đi nhiều, cứ lúc nhớ lúc quên. Nên những khi rảnh rỗi, dì bảo em lấy giấy tờ ra chép, dì hò chừng nào, em cắm cúi ghi lại. Ngước mặt lên trời, dì bảo thèm có đứa con gái, về già thế này tha hồ nhỏ to tâm sự những chuyện đàn bà hay chỉ để truyền lại những điệu hò xưa cũ. Viên luôn tạo khoảng cách với dì, dù rằng dì luôn coi Viên là con gái. Mắt dì ướt nước khi nhắc đến chị Hiền, anh Lương và những anh chị Thương, Nhớ, Mãi nào đó không có mặt trên đời. Em chỉ tiếc hùi hụi, nếu dì có con gái, hay nếu chị Hiền còn sống, nếu trên đời có chị Thương, chị Nhớ hẳn các chị sẽ giống dì đôi mắt đẹp buồn rượi này, giống cả giọng hò ấm áp nữa. Giọng quê mình nói chuyện nghe rổn rảng, lổn nhổn, sàm sạp nhưng khi hò lại khác. Ấm và trong chẳng nhận ra.
Dì lặng lẽ thu nhặt gom góp những chuyện xưa cũ để kể cho cái đứa chăm chỉ mòn mỏi lắng nghe là em. Dì nhắc tới dượng nhiều hơn, bảo có lỗi nhiều lắm. Mỗi ngày trôi qua là thấy có lỗi. Mỗi tháng trôi qua càng thấy có lỗi. Dần dà, năm tháng chất chồng như thế, lỗi của dì, dì ngỡ chở mấy đò cũng chẳng hết. Mà giả dì có quên rằng mình từng có lỗi thì người làng vẫn âm thầm nhắc lại, nhắc sau lưng dì. Mỗi khi rỗi rãi hay có hoàn cảnh nào tương tự, người ta nhắc đến dì như cái tích lởn vởn thiệt thà đang ở đó. Vợ người ta thờ chồng trọn kiếp, mình dì mới mấy năm đã gấp gáp về chung với người khác. Em an ủi, tại hoàn cảnh, mà nếu có chờ, chờ đến bây chừ đi, cũng chả nghe tăm tích của dượng mô.
Viên có nói mạ dạo ni hay buồn, cứ nhớ dượng. Em buông ra câu nói mà em nghĩ là vô duyên nhất trần đời.
- Dượng mô?
Viên cười chua chát.
- Thì dượng của em chứ ai. Chứ mô chừ mạ ở với ba chỉ vì cái nghĩa.
Những hôm dẫn khách về sớm, em tất tưởi qua nhà dì. Em định kể với dì, hôm qua đây, em đang say sưa kể chuyện vá cờ cho du khách thì nghe một chú cựu chiến binh bật khóc, mắt ông ấy đỏ hoe. Em hồ nghi, có lẽ nào là dượng. Như lâu nay lây cái hồ nghi của dì, hễ thấy ai đó thấp thoáng xúc động tràn trề khi về thăm vùng này, nghe chuyện người mẹ vá cờ, vợ chờ chồng, những câu hò em chép lại của dì, cuộc chiến nối hai bờ an vui, lại hồ nghi có thể người đó là dượng. Mà giả sử là dượng thiệt thì làm chi đây, tay bắt mặt mừng, khóc lóc kể lể hay là nhắm mắt làm ngơ như để vùng quá khứ ấy nằm yên mãi mãi theo ý của người ta. Nghĩ nhiều lắm nên cuối cùng em thôi, làm thinh không kể nữa, gieo thêm phân vân vô lòng dì chi cho tội tình.
Dì nhờ em viết một lá thơ, gởi cho chương trình tìm người lưu lạc, câu cuối nhắn rằng nếu anh còn sống đừng trách cứ em, hãy tha thứ vì em không thể đợi chờ... Em nói chắc người ta không cho phát câu cuối mô, thấy trên ti vi là thông tin thôi, càng nhiều thông tin đầy đủ càng tốt. Dì nói nếu đưa thông tin, sợ Viên buồn, nó lại bảo mạ không nhớ chi ba mà cứ nhớ người ấy.
Tiêu năm rồi được mùa, chập chờn tháng sáu rón rén đi qua đã nghe mùi tiêu thơm từ ngoài ngõ. Em giã tiêu với ớt xanh rồi đi lùng khắp vườn tìm dái mít ngồi chấm. Dì nói cứ thế này, bảo mạ em làm răng vui nổi, con gái Viên đã bốn tuổi rồi mà em còn ngồi đó ăn dái mít. Em nói thực ra có quen một người nhưng chưa quyết định. Dì bảo dắt anh về, là cái hôm trên sông làm lễ thượng cờ rồi tổ chức đua thuyền rôm rả ấy. Dịp đó đông đúc vui vẻ, chộn rộn hơn thường ngày, như thể có thêm nhiều cớ để mà vui.
Dạo này, mấy chuyện dì kể cứ đan xen, lặp đi lặp lại. Em nghe đến thuộc lòng chuyện vài chục năm trước, dì trốn mạ chồng đi hò địch vận khuya lắc khuya lơ mới về. Tới lúc họp hành, té ngửa vì mạ cũng nằm trong đội vá cờ với mệ Diệm. Lúc chị Hiền mất, mạ chồng dì cũng buồn quá mà đi luôn. Chuyện anh Lương đi tắm, người ta vớt lên trên bờ, lúc dì tới thì anh trào máu miệng. Chuyện dượng cứ tha thiết đặt tên con là Hiền Lương Thương Nhớ Mãi… Thế mà, chuyện hôm qua gặp anh dì quên mất, quên như quên cái cài đang cài trên đầu mà hớt hơ hớt hải đi tìm, hay cái khăn tay đã nằm trong bọc mà sấp sãi sai em đi lục khắp nơi.
Em đã bảo xuyến chi với cỏ ngủ thì làm chi có mùa, cứ mưa nắng thì mọc lên thôi. Ven đường từ chỗ làng mình ra, tự dưng mọc ngổn ngang hai thứ hoa ấy, màu trắng màu tím đan nhau quyện tình. Em bảo, em thích chụp ảnh cưới ở đây. Mình ngồi trên triền đê, lấy được cả hình cầu Hiền Lương phía sau. Hôm hai đứa mình thủ thỉ rù rì thương mến mấy chuyện mơ mộng trên trời đó, dì bảo dắt anh về. Dì xúc động thật sự khi thấy anh. Em cười, không lẽ dì phải tỏ vẻ cảm ơn thắm thiết kẻ giúp cháu mình hết ở quá như vậy. Anh cười, dì cũng cười mà ứa nước mắt.
Có câu hò nào đó vang lên trong chiếc cát - sét cũ rích nơi góc nhà. Viên bảo với em trông anh hiền quá, nhiều khi hiền quá cũng là một khuyết điểm, ở với em chắc em làm chồng mất. Em dấm dẳng khi không đi nói tốt cho người dưng. Dì thân mật gửi cho anh chục lon tiêu, nhắn rằng tiêu Vĩnh Linh đây thơm đậm lắm, ăn một lần nhớ mãi, người Vĩnh Linh đi mô cũng không quên mùi tiêu này được! Đất với nước, nắng với gió thấm vào đây cả nên nhai tiêu vùng khác vô trong miệng là biết liền, cứ ăn là nhớ… Dì nhắc tới nhắc lui mấy chữ cuối cùng và nhìn sâu vào mắt anh như nhắn nhủ.
Buổi chiều, dì sai em lấy hạt lúa kẹp nhổ tóc sâu cho dì. Hai dì cháu bắc ghế giữa sân, em xõa tóc dì ra rồi chăm chú tìm, thấy tìm tóc đen khó hơn tìm tóc trắng. Đứng từ vườn nhà mình có thể trông ra hoàng hôn trên cầu. Nắng từ đó hắt vô hàng chè tàu xanh gợn, mấy dây tơ hồng vàng rộm rối rắm lốm đốm lên rất đẹp. Em nói khung cảnh này người ta chụp ảnh chắc đạt giải, còn làm thơ hẳn cũng ra ít nhất ba bài. Hai dì cháu cười nghiêng ngả. Hoàng hôn rớt xuống, vài tia nắng vẫn tha thiết bám lên dây tơ hồng. Dì nghẹn ngào nói luôn một tràng, biểu hiện chỉ khác mấy bà lên đồng là có chảy nước mắt, dì nói rằng dượng còn sống. Dì nói bằng cách nào đó nhân duyên ràng buộc hết thảy mấy người chúng ta. Anh đó, giống dượng như tạc.
Ơ… hờ… ơ… Bước tới bến Hiền Lương răng chặng đường nghẹn lại.
Đáo tới bờ Bến Hải răng gác mái tình ơ duyên.
Hờ hơ hơ… Con sông kia đâu phải để chia cắt đôi miền.
Hiềm vì lòng thù thâm độc nên duyên kiếp đôi bên phải ơ… ơ… đợi chờ
Cứ tới đó dì nói quên mất đoạn cuối. Lúc ngồi một mình thì nhớ, lúc cần lại quên trọi. Em không biết đã hết bài chưa hay kỳ thực là có đoạn cuối mà dì không muốn hò, đành bỏ lửng…
* * *
Viên gấp gáp trong điện thoại, dì yếu lắm, tự nhiên ngủ dậy rồi sững sờ thở chậm rãi. Em vội về để gợi chuyện, gợi hò cho dì đừng ngủ.
Tới lúc anh và dượng về qua cổng me mé hàng chè tàu, kịp nhìn thấy dượng bước khập khiễng trên chiếc nạng gỗ, chỗ tay áo trống trải bị gió thổi bay phần phật, dì cười rồi đi.
Có lẽ câu hò kia mãi mãi chỉ là một nửa. Tiếc rằng em cũng không biết để mà hò cho hết. Anh nhìn em chẳng khóc chẳng cười. Bờ sông lúc ấy vừa tắt nắng.
D.A




