Xe ôm vừa về đến cổng làng, bà Hải đã cảm thấy linh tính của mình không sai. Nhất định có điều gì đó không bình thường đã xảy ra.
Sáu năm qua, viện cớ này, cớ nọ, bà chưa về quê chồng. Đã đành xa cách lâu lắm rồi, nhưng người quen trong làng đâu đã quên mặt bà. Hồi mới giải phóng, bà về thăm quê, đã từng lội xuống đồng cấy gặt với bà con trong họ. Vậy mà bây giờ, gặp lại, sao trong mắt ai cũng ẩn chứa một điều gì đó, nửa như lúng túng, nửa như âu lo, lại có khi như thương cảm. Chuyện gì đây?
Bước chân qua hàng chè tàu, bà Hải vừa bước vào sân, đã thấy bà mẹ chồng lò dò chống gậy ra hiên. Bà cụ nhướng cặp mắt già nhìn một lát, mới nhận ra con dâu đang lừng lững tiến vào. Bà cụ khựng lại, run run, mãi sau mới nói, nghẹn ngào như tiếng nấc: "Con ơi! Con lặn lội vô được răng con?"
Như thế nghĩa là thế nào? Bà Hải ngỡ ngàng thấy bà cụ tám mươi lập cập đỡ nón, đỡ túi cho mình, lập cập dắt bà vào nhà, vẻ chăm chút, nể nang như thể chính bà mới là mẹ chồng, chứ không phải là con dâu. "Mẹ để mặc con." Bà nói, chưa hết băn khoăn thì bà cụ đã mếu máo ngồi xệp xuống bộ ván, cúi đầu thiểu não. "Mạ có lỗi với con trăm phần, con thương chồng con thì bỏ qua cho mạ". Ô hay, bà cụ có lỗi gì? Mấy đứa cháu gọi bà bằng thím, bằng mợ lăng xăng, đứa rót nước, đứa bảo nhau đi gọi ông Hải. Ông đi đâu? Mới vừa về quê hôm qua, nay chắc ông còn bận đi thăm chòm xóm. Kìa, ông đã về đến cổng, nước da ngăm ngăm khỏe mạnh nhưng mái tóc đã bạc nhiều. Chẳng hiểu sao, mắt ông lại đầy vẻ lo âu, và khi nhìn thấy bà, ánh mắt ông chợt cụp xuống, không giống gì với vẻ trầm tư quen thuộc. Lòng đầy hoang mang nhưng bà Hải cũng mở lời nói trước:
- "Hôm kia tiễn mình lên tàu xong, bụng tôi cứ nôn nao, vậy là tôi bảo thằng Việt: việc gì thì việc, cũng lên lấy ngay cho mẹ cái vé nằm đi Quảng Trị gấp".
Giọng bà điềm đạm, chững chạc, bởi thói quen luôn bình tĩnh trước mọi việc. Vẻ tỉnh táo ấy càng làm ông Hải bấn loạn, ông nghĩ đấy là chiến thuật thường ngày của bà, và chưa chi ông đã vội nghĩ ngay đến việc bỏ vũ khí xuống đầu hàng vô điều kiện. Ông nói lúng búng:
- Thì ra mình đã biết. Mình tha tội cho tôi. Không phải tôi dám dấu mình, chỉ vì tôi sợ mình...không sao chịu nổi sự thật.
Chợt ông khóc òa. Một người đàn ông ngoài sáu mươi tuổi mà khóc như thế, thật đủ hiểu là ông Hải đã lâm vào cảnh nan giải, bế tắc đến mức nào. Bao nhiêu năm sống với chồng, bà hiểu rõ tính ông. Cái cơ quan mà hơn mười năm trời ông làm thủ trưởng, thực ra là do bà chỉ đạo. Bởi nhất cử nhất động ông đều hỏi ý kiến bà. Ông quá tình cảm, quá tốt bụng, quá được mọi người yêu mến luôn cần bà tiếp sức cho một chút cương nghị cần thiết. Bây giờ ông đã làm gì mà phải tạ lỗi với bà? Một điều gì không có ý kiến của bà? Khỉ thật, sao mặt ông cứ đỏ rừ, thiểu não chẳng khác gì thằng Việt con trai bà thuở còn bé, mỗi bận ăn vụng bị bắt quả tang!
Bà mẹ chồng đến bên bà, run rẩy: "Mạ biết, đây là lỗi của mạ không ngăn ngừa mà ra. Nhưng mạ cũng không ngờ. Đến khi vỡ lở thì gạo đã thành cơm. Nay con Bưởi đã có mang đến năm tháng. Con nghĩ tình mà cầm lòng, tha thứ cho chồng con."
Bà Hải tưởng như sét nổ ngay trước mặt. Cái gì? Ai có mang? Ai tha thứ? Trời đất ơi! Bà ngả ngồi xuống bộ ván, trời đất tối sầm. Cả nhà xúm lại bên bà, lay gọi, xoa dầu gió. Không, bà chỉ lịm đi chứ không bất tỉnh. Giá bất tỉnh được thì đỡ được biết bao. Đằng này bà vẫn tỉnh. Tỉnh để mà đau đớn. Mà chết điếng, lặng câm. Bên tai bà là tiếng khóc của ông chồng. Chỉ là khóc thôi sao! Cứ làm bậy, làm đổ vỡ hết rồi khóc như trẻ con là xong thôi sao? Nghĩ vậy bà uất lên tận cổ, chợt vô tình gào lên một tiếng: "khốn nạn, ông không biết xấu hổ à?".
***
Suốt đêm bà Hải không ngủ được, lắng nghe tâm tư mình bà thấy hình như không phải sự đau đớn. Mà là nỗi căm hận và cả kinh ngạc. Căm hận vì cái việc làm phản phúc, nhơ nhuốc của ông chồng "già đời mà chưa chịu trót thế". Thời ông còn trẻ, bà đã bỏ bao nhiêu tâm cơ theo sát đỡ đần ông từng bước, vì biết rõ trái tim mềm yếu dễ dàng rung động của ông không đủ sức chống lại những mưu ma quỷ chước giăng quanh ông: những người đàn bà góa bụa trong chiến tranh, những mệnh phụ no cơm rửng mỡ, những cô nhân viên trẻ mong được dựa dẫm vào tình cảm của thủ trưởng mà đi lên. Bà biết, trước bọn họ, ông chồng bà, một người đàn ông thành đạt thông minh và nhân hậu, quả là một con mồi hấp dẫn sẵn sàng sa bẫy. Nhưng bên cạnh ông đã có bà! Từ miếng ăn ngon, từ những ngày kỷ niệm lễ cưới, từ những nguyên tắc thiêng liêng mà bà dựng lên trong cuộc sống chung, tất cả đã giữ ông luôn ở lại trong vòng tay bà. Năm bốn mươi tuổi, ôn lại cuộc đời làm vợ, bà cười: "Giữ chân một nguời đàn ông, cần nhiều thứ lắm: món ăn ngon, phòng ngủ ấm cúng, những thói quen, rồi con cái, đạo đức...Vân vân và vân vân!" Nụ cười bà mãn nguyện, y như vẻ mãn nguyện của một sinh viên đã hoàn tất chương trình học đã nắm được tấm bằng trong tay.
Thế mà bây giờ, giữa lúc bà tưởng cuộc sống đã viên mãn, thì đùng một cái! Bà ngạc nhiên. Nhiều năm qua, bà đã xem ông là một ông già thực sự. Mái tóc rụng đi nhiều và lấm chấm muối tiêu. Từ lúc về hưu, lại bắt đầu quên trước quên sau và lẩm cẩm. Bà không còn lo cô bạn gái này, cô thư ký kia có thể tranh thủ láng cháng với ông chồng mình, nên nhiều khi cũng quên khuấy đi những hàng rào phòng thủ kiên cố đã xây dựng trong suốt mấy mươi năm. Những năm về hưu ông ít nói hẳn đi, đôi khi thầm lặng như cái bóng. Mỗi dịp Tết ông lại thu xếp về thăm mẹ. Bà cụ năm nay đã yếu lắm rồi. Bỗng vừa qua, giữa tháng tư, ông lại rụt rè nói với bà, ông cần vào thăm quê, thu xếp công việc họ hàng gì đấy. Bà không phản đối. Nhưng ông đi rồi, bỗng có gì trong bà thức dậy. Cái nhạy cảm cảnh giác phụ nữ từ lâu ngủ quên trong chiến thắng, bây giờ chợt như còi báo động hú lên giữa ban ngày. Bà nhớ lại thái độ khang khác của ông, đôi mắt nhìn xuống của ông, vẻ săn sóc khác thường của ông đối với bà trước khi ra đi. Đó là dáng vẻ của một người có lỗi.
Bây giờ bà nằm một mình trong căn chái rộng. Những phút chết điếng ban đầu đã qua. Theo thói quen, bà nghĩ ngay "Làm gì trong hoàn cảnh này?"
Mẹ chồng bà vào, sờ soạng cánh tay bà, rụt rè thông báo:
- "Nó" muốn qua chào con. Con cho phép nó mới dám vô.
"Nó"? À! Qua những lời nhỏ to của mẹ chồng, bà đã biết. Đó là chị Bưởi ở cách nhà bà cụ hai ba ngõ gì đó. Người đàn bà đang vào tuổi bốn mươi, người gầy gầy, dáng phờ phạc, có đôi mắt to và rất buồn, trước đây có lần bà đã thấy. Sáu năm rồi, bây giờ chị ta ra sao, có lẽ chỉ có héo hon đi thêm một ít vì lao động vất vả. Rõ khốn nạn, thế mà sao lão già nhà bà cũng...Bà ngọt nhạt trả lời bà cụ:
"Mẹ ơi, con với nguời ta không quen không thuộc, chẳng biết gọi nhau bằng gì, chào hỏi làm sao đây. Mẹ bảo cô ấy về đi là hơn".
Bà cụ ra rồi, ông Hải len lén bước vào bên vợ. Mắt ông đỏ thiểu não. Ông kéo ghế ngồi bên bà.
"Mình ơi, tôi ngàn lần có tội. Mình tha thứ cho tôi. Suốt đời, lúc nào mình cũng nâng đỡ tôi. Còn tôi thì..." giọng ông nghẹn lại.
Bà Hải thấy cơn giận hạ xuống, và thấy ấm lòng. Ông vẫn sợ, vẫn nể bà. Nay bà đã lớn tuổi, nhan sắc không còn, đã đành là thế. Cứ tưởng hai người chỉ còn là hai mảnh đời thừa bên nhau. Cứ tưởng từ nay chỉ có cúng kỵ, khám sức khỏe và những buổi hội họp của hội người cao tuổi. Hóa ra nơi ông lão nhà bà cái chứng đa cảm vẫn còn mà cả cái chứng sợ vợ cũng vẫn còn! Bà nghẹn giọng:
- Sao đến giờ ông mới nhớ ông làm khổ tôi? Còn cái lúc ông sa ngã, sao ông không nhớ? Đã đành tôi khổ mặc kệ tôi - Bà nấc lên - nhưng còn danh dự gia đình, ông nỡ một phút hắt xuống sông? Mặt mũi nào ông nhìn con, nhìn dâu, nhìn rễ?
Ông Hải cúi gầm. Quả thực, mặt mũi nào nhìn các con ông nữa. Chúng nó sẽ cười vào mũi cái ông bố trai lơ, dại gái vào tuổi đã làm ông nội. Nhưng sao lại ma đưa lối, quỷ dẫn đường thế này? Ông nhớ lại những lần gặp Bưởi. Gần mười năm rồi, từ ngày chị ông bị ung thư vú mà mất, anh rể ông đi lấy vợ, mẹ ông vẫn thui thủi với mấy đứa cháu ngoại. Mà Bưởi thì một mình, cám cảnh bà cụ, hay chạy lại, chạy qua. Lúc củ sắn, lúc miếng trầu, thành người thân trong nhà. Mỗi lần dịp tết về thăm, ông Hải qua biếu Bưởi ít quà, gọi là cảm ơn cô có lòng thương mẹ ông già yếu. Chưa bao giờ ông liếc mắt nhìn xem người đàn bà lỡ làng đó nhan sắc thế nào, tuổi tác bao nhiêu. Chỉ biết trước đó cô ta đã có chồng, người chồng đi lái xe cho một công ty gỗ trên thị xã, bị cây đè chết đã chín mười năm nay. Trong làng đồn rằng cô có số sát phu. Bước vào tuổi bốn mươi cô gầy mòn, héo hắt vì vất vả, cô đơn và mặc cảm. Hôm ấy, cuối năm, bất chợt cô đau nặng. Bà cụ giục ông sang xem. "Cứu nó, con ạ, nó chỉ có một thân một mình." Là bác sĩ, ông Hải xem qua, biết ngay không có bệnh gì. Bệnh của cô là bệnh hystérie, một chứng chỉ riêng đàn bà mới có, nó là chứng bệnh của tâm tư chứ không phải là của cơ thể. Ông cho cô uống một thứ thuốc bổ, giả như thuốc chữa bệnh, dặn cô nằm nghĩ rồi định ra về...Nhưng sao ông không đành lòng. Lâu nay, ông vẫn xem cô như cô em chất phác quê mùa. Hình ảnh cô em gái gầy gò, héo hon nằm trơ trọi làm ông bất nhẫn. Chiều cuối năm, gia đình ai cũng sum họp. Còn người đàn bà này, một chút an ủi cũng không. Sao ông trời bất công, nếu ông đã sinh ra tất cả loài người, lại cho người này quá nhiều, người kia lại quá ít?
Tóc đã chuẩn bị bạc mà ông Hải còn chưa hết ngây thơ, chưa hề biết cảnh giác với cái bẫy mà tạo hóa lúc nào cũng giăng sẵn để bẫy những người đàn ông tốt bụng, thương người và đa cảm.
Bây giờ nhớ lại, ông nhăn nhó mặt mày, vò đầu, bứt tóc. Lúc đó ông có vì khoái lạc không? Hình như là không! Mà nếu có, thì cũng rất thoáng qua, khác xa với thời trai trẻ. Ông chỉ cảm thấy tình thương và sự mủi lòng, tất cả những tình cảm ấy chợt bột phát và ông không kiềm chế được nữa.
Bây giờ như một phạm nhân tự khai, ông ấp a ấp úng diễn tả tâm trạng lúc ấy với vợ. Bà Hải điên người.
"Cứ mỗi lúc thương người là lao vào ngủ với họ được sao? Nếu thế thì cả đời ông hủ hóa đến vài vạn chuyến. Vừa hở tay tôi ra, là đã chẳng ra cái gì".
Ông Hải ngồi im. "Bây giờ ông tính sao?" "Mình bảo sao, tôi nghe vậy. Tôi lỡ. Chỉ xin mình giấu đừng cho các con biết." "Còn cái bầu tâm sự của con Bưởi?" ông Hải nhăn mặt như uống một liều thuốc đắng nghét.
- Mình tha thứ cho tôi, tôi sẽ không quay lại cái làng này nữa. Tôi sẽ đem mẹ ra ngoài ấy. Được tin cô ấy có mang, ban đầu tôi không dám nghĩ chuyện vào thăm, nhưng nghĩ lại...không đành bụng nên tôi đành liều lén mình, định vào quê đem cho cô ấy ít tiền bạc và giải quyết dứt điểm. Không ngờ...
À ra thế. Nói dễ nghe nhỉ. Xưa nay bà Hải vẫn nhiều lần tặc lưỡi chán ngán cho cái tính xà quần của ông chồng. Đàn ông, họ làm những việc lớn lao thì tài, chứ cuộc sống riêng của họ thì cứ như một cái túi thủng hai đầu, túm đầu này thì hở đầu nọ. Cứ làm ra những chuyện tày đình, rồi tính chuyện lấp liếm qua quýt là trắng án sao? Hay là ông định nói chiều lòng tôi, để phỉnh tôi! Đừng có hòng!
"Ngày mai, tôi sẽ giải quyết chuyện này. Ông họp cho tôi hội đồng gia tộc!"
"Chết chửa, gì mà nghiêm trọng thế mình?" ông giật nẩy người. Nhưng bà Hải đã ngồi thẳng dậy, nghiêm nét mặt:
- Lại còn không nghiêm trọng à? Hay tôi phải chết đi, mới là nghiêm trọng với anh?
***
Nói là Hội đồng gia tộc, thực chất chỉ là một ông chú, một ông bác và một ông anh họ xa đại diện cho ngành trưởng. Họ nhà ông Hải phát đạt dần dà ra thành thị làm ăn cả. Cả hai ông chú bác đều đã già. Đã sống qua cái thời "Trai năm thê bảy thiếp" nên họ xem chuyện này chẳng có chi là to lớn, nhưng cũng biết lờ mờ là thời bây giờ, một vợ một chồng, đàn ông khổ hơn trước. Cả hai ông cũng rất nể đứa cháu dâu cán bộ nhà nước vừa đức hạnh vừa đảm lược, lúc nào cũng đối xử với họ hàng đâu ra đấy, nên nghe lời mời là đi ngay. Ông anh họ trước là sĩ quan, nay phục viên về làng. Mang tâm trạng bất đắc chí nên ông chẳng thiết một thứ gì ttrên đời trừ rượu. Họp gia tộc, tức là có một bữa rượu kha khá, nhất là hôm nay bà em dâu đảm đang hơn sáu năm mới về làng. Ba khuôn mặt hai già một trẻ, đều bộc lộ một vẻ tỉnh táo dửng dưng, pha chút thỏa mãn: từ lâu rồi mới có một dịp để họ thấy mình quan trọng, có dịp phát biểu, có dịp quyết định cuộc đời của người khác. Trước lúc đến đây họ đã ghé chân nơi quán rượu bên đình làng, làm sơ vài ba chén và bàn qua loa những gì sắp phải quyết. Ông bác vừa khề khà vừa cười móm mém:
- Cứ như ý tôi thì chuyện này dở mà hóa hay. Con Bưởi có con để bồng, bà cụ có dâu gần chăm nom. Anh Hải ở xa, lâu lâu đi về cũng là thêm của thêm con. Đời xưa, có phúc mới được như vậy...
Ông chú rụt rè "Sợ e chị ấy không chịu" "không chịu cái gì? Gần sáu chục tuổi đầu, không lẽ lại còn ghen với tuông?"
Ông sĩ quan phục viên cười nửa miệng:
- Tuổi nào đàn bà cũng là đàn bà...nhất là đàn bà thời bình đẳng ngày nay.
"Mỗi người một ý, rứa thì chút nữa quyết định ra sao đây?"
Mãi tới khi an vị trong căn nhà ba gian, ba người vẫn chưa nhất trí với nhau một cách giải quyết nào tốt đẹp nào. Nhưng cả ba đã lầm. Bà Hải không mời họ đến để lo giúp việc của bà. Bà mời họ đến là để chứng kiến. Cho nên bà cứ để cho họ phát biểu đủ thứ ý kiến, cãi nhau, mâu thuẫn nhau, dạy khôn nhau chán. Bà chỉ ngồi vòng tay nghiêm túc, quan sát những người chung quanh. Bà mẹ chồng dân dấn nước mắt. Ông chồng như đang muốn chui xuống đất cho xong. Cho chết? Ai bảo ngốc nghếch ở cái tuổi đầu đã bạc. Rồi còn cái người bà không muốn nhìn, nhưng vẫn nhìn chòng chọc, cái người đàn bà nhà quê mà nếu hiện ra ở thành phố, còn lâu ông chồng bà mới thèm liếc mắt nhìn. Bà căm hận quay đi, cố giữ vẻ bình thản, nghiêm nghị...
"Thưa Hội đồng gia tộc. Tôi về làm dâu nhà họ Phan, tuy vì hoàn cảnh công tác ở xa xôi, nhưng lòng tôi lúc nào cũng hướng về dòng họ quê hương. Từ trước đến nay, được cô bác thương, tôi chưa có gì sơ suất trong bổn phận làm dâu làm vợ." Bà vừa nói vừa liếc nhìn chồng, hả hê khi thấy ông cúi gầm mặt khổ sở." Nay hoàn cảnh xảy ra không ai ngờ đến, chồng tôi đã có chuyện tư riêng, không còn thương yêu vợ con nữa." - Bà lại liếc nhìn ông, và lại hả hê thấy vẻ hốt hoảng như muốn cải chính mà không sao thốt nên lời - "Biết làm sao đây cho trọn đôi đường..."
Ông bác chừng nóng nảy vì chờ đợi lâu quá, sốt ruột cắt lời:
"Chị Hải ơi, sự đã rồi. Tiếc rằng làng nước chúng tôi đây không biết chứ mà biết thì nhất định khuyên can anh, không để xảy ra sự thể như thế này. Thôi thì gia tộc chúng tôi sẽ quở phạt anh nặng nề, còn chị thì cũng xin nguôi lòng mà tha thứ cho anh đi..."
Bà Hải lắc đầu:
"Thưa bác, con cũng biết bác thương con mà mong cho con vợ chồng được vuông tròn. Nhưng còn người đàn bà kia, lẽ nào bỏ mặc? Thôi thì...con đành phải chấp nhận hy sinh!"
Nói đến đó bà nấc lên, làm ông Hải đứng bật dậy, muốn chạy tới đỡ vợ. Nhưng bà trấn tĩnh ngay, nghiêm nghị xua tay khiến ông chỉ dám ngồi xuống, im thin thít. Ở một góc nhà, chị Bưởi cúi mặt, khóc rưng rức từ đầu buổi đến cuối buổi.
"Vợ chồng đến tuổi này, còn dắt nhau ra tòa ly dị chẳng bõ cho người ta cười. Nhưng từ nay, xem như ân ái đoạn tuyệt. Con xin đi, để cho anh Hải tự do lo lắng cho vợ nhỏ, con riêng. Con lạy từ tạ mẹ. - Bà quay về phía ông Hải: Nay tôi đã già, cam phận sống cô độc. Tôi dặn ông: Tuyệt đối đừng ra tìm mẹ con tôi làm gì nữa. Xin vĩnh biệt!
Bà nói rồi chắp tay cúi chào từ mẹ chồng đến từng người trong họ. Bà cụ khóc ngất, ôm lấy con dâu. Ông Hải mếu máo: "Mình ơi! Mình nói thực sao? Mình bỏ tôi sao mình?" Lẳng lặng không nói một lời, bà gỡ tay mọi người, vào phòng xách túi, đi thẳng ra đầu ngõ. Một chiếc xe đã đợi sẵn, bon bon đưa bà đi...Chuyến đi không trở lại.
Về đến nơi, việc đầu tiên của bà là tường thuật lại tất cả cho hai con nghe. Cô gái út khóc ngất: "Vô lý, vô lý quá, con không thể ngờ ba của con..." Cậu cả tên Việt trầm tĩnh hơn, chỉ ngồi lặng gục đầu. "Mẹ có nôn nóng quá khi giải quyết như vậy không?" Thì con bảo mẹ còn cách nào? Còn cách gì hơn là mẹ đành chịu phần thua thiệt?"
Cô út Nga đang nằm vùi mặt trong chăn vụt ngửng lên, đôi mắt đỏ hoe: "Gặp em, em cũng làm như mẹ. Người đã phản bội, còn gặp lại làm chi?" Cậu cả Việt vẫn trầm ngâm rồi lát sau cậu hỏi, như muốn chấm hết câu chuyện:
- Thế bây giờ, trong đó, ba lấy gì mà sống?
Bà Hải cười khẩy, buông sõng: "Đã có lương hưu! Chuyển lương hưu vào cho ông ấy!"
***
Từ ấy không có ông Hải trong tòa nhà của ông. Cả nhà, không ai nhắc đến. Một nỗi đau, nỗi hận vẫn âm thầm len lỏi trong tâm tư từng người. Nhưng ai cũng lặng lẽ, hình như nói đến ông là nói đến một điều kiêng kỵ lớn. Ngày ngày, cô Nga vẫn đưa con đến gửi mẹ để đi làm. Thằng bé bi bô hỏi ông, bà Hải chỉ bảo: "Ông vào thăm cố, cố ốm nặng". Vợ chồng Việt thì đi làm cả ngày, tối đến lại đi học thêm. Đến chiều, khi đứa cháu ngoại đã theo mẹ về nhà, bà Hải thui thủi một mình vào ra, thấy căn nhà sao mà giá lạnh và hoang vắng. Vợ Việt về thấy mẹ chồng ngồi co ro, vội vã cắm máy sưởi. "Chết nỗi! Mẹ cứ sợ tốn điện làm gì. Sức khỏe là vàng SJC đó mẹ." Mùa đông lạnh căm. Một hôm cô Nga quấn khăn quàng lông cho thằng bé để chuẩn bị về nhà, bất giác buột miệng: "Mình ở đây nhà kín, khăn áo thế này mà còn rét, không biết bố trong ấy..." Như thể lỡ lời, cô vụt nín bặt, vội vã bế con đi...
Với bà Hải, mùa đông năm nay lạnh hơn hẳn mọi năm. Tối tối, trong căn nhà vắng lặng, bỗng bà nghe tiếng ông Hải kêu lên khi bà bước chân đi: "Mình nỡ bỏ tôi sao mình ơi. Mình muốn xem tôi như người đã chết ư?" Chút thương tâm ngậm ngùi vừa dấy lên, thì lòng hận đã như nước sôi dội xuống. "Cho chết! Ngồi nhà nhàn nhã ấm cúng không ưa, thì cho thỏa sức mà giặt khăn giặt tả, mà cúi xuống đi cày, mà ngất ngư với cái cảnh cha già con mọn." Mắt bà đang hằn lên những ý tưởng uất hận, chợt mở to, ngạc nhiên khi tình cờ nhìn thấy mảnh giấy nhỏ trên bàn: Phiếu báo phát gởi cho ông Nguyễn Xuân Việt về số tiền gửi cho ông Nguyễn Xuân Hải...đã đến tay...người nhận ngày...
Thế này thì quá thực! Té ra thằng Việt vẫn lén bà gửi tiền, cung cấp ô xy cho cái ông bố phản bội của nó! Nó chẳng hiểu ý định sâu sắc của bà! "Việt! Con có coi lời mẹ ra gì nữa không? Con có nhớ là giữa chúng ta với ông ấy tình nghĩa đã đoạn tuyệt rồi không? Vợ con mà biết con làm thế này, nó sẽ nghĩ sao? Nó sẽ nghĩ: thế là bố con cùng một duộc..."
Việt im lặng, đi lui đi tới một lát rồi chợt tủm tỉm cười:
"Con gửi tiền cho bố để làm gì mẹ biết không, là để bố thu xếp trở về. Con biết tỏng là mẹ đời nào muốn đoạn tuyệt. Mẹ chỉ muốn trừng phạt bố, đày bố ở lại một cái làng xa xôi thiếu thốn, để cho bố sống dở chết dở rồi mới tha thứ. Thôi mẹ ơi, đủ lắm ôi! Tội nghiệp ông già mẹ ạ, giơ cao đánh sẽ thôi!"
Bà Hải lặng người. Bà nhận ra không thể điều khiển thằng con mình như trước đây đã điều khiển bó nó.
***
Tháng tư, trời ấm, Việt bảo Bà Hải: "Mẹ vẫn thường bảo vợ con, đàn ông là giống không bao giờ chịu thua. Vì vậy đừng nên cương với họ, chỉ tổ thiệt.". Bà Hải yên lặng. Thật ra lời bà dạy con dâu còn có thêm câu này nữa: "Mình phải đối xử với họ với một bàn tay mềm như nhung, nhưng thực ra trong lớp nhung là cốt sắt".
Vì vậy, sự tự do mà bà vứt lại cho ông là sự tự do của một con thú nhà, không buộc không nhốt nhưng cũng chẳng lo gì lạc mất. Hàng tháng bà vẫn âm thầm theo dõi thông tin về ông: Cô Bưởi đã sinh con gái, đứa con sau khi sinh chưa đủ tháng nên nuôi vất vả. Ông Hải thì qua nhiều chấn động tinh thần quá, lại thay đổi nếp sống quá đột ngột, ông chẳng ngó ngàng chi tới đứa nhỏ, ngày nào cũng ra bến đò ngồi cù rũ nhìn nước trôi.
"Đã đến lúc nên tha chưa? Thế đã đủ chưa?" Bà liếc mắt nhìn lên cuốn lịch. Cũng đến lúc cho ông âý mãn hạn được rồi. Đằng nào bà cũng phải vào một chuyến, chính bà phải kết thúc kịch bản mà chính bà đã mở ra...
Mới hơn một năm mà cảnh làng đổi thay nhanh thế, một con đường đổ bê tông đưa bà về đến nhà chồng. Ngôi nhà chẳng có gì khác, cũng mái ngói tường vôi đơn sơ như xưa, nhưng trong sân hình như cây cối mọc nhiều hơn. Một dây bí xanh rì leo kín vòm cổng, trổ đầy hoa vàng, con ong bầu xanh đen đang bay xà quần quanh lũ hoa thấy bà vội vã bay biến.
Ông Hải đang ở trong sân, đứng dưới giàn dưa, chăm chú thụ phấn cho những bông hoa dưa màu tím. Trời ơi, trông ông chồng bà giờ đây chẳng khác gì một nông dân thực thụ! Nhìn thấy bà, ông ngạc nhiên, vẻ mừng hiện ra trên mặt.
Bà Hải cũng mừng, nhưng cố làm nghiêm, thong thả xách túi vào sân. Ông Hải sau phút đầu, chợt như nhớ lại hoàn cảnh hiện tại của mình, thoáng một chút ngập ngừng, rồi cũng ra vẻ nghiêm trang. "Sao mình không báo trước để Bưởi ra đón, xách giùm cho mình đỡ nặng?". Câu nói làm bà hơi chạnh lòng. Sao người ra đón lại không thể chính là ông? Chưa kịp nói gì, đã nghe trong nhà có tiếng chào: "ôi, chị đã vào, trời ơi, lâu lắm rồi!" Bưởi bồng con từ trong nhà băng băng chạy ra. Cô trao vội con cho ông Hải, đỡ lấy cái túi xách trên tay bà rồi lật đật lấy quạt, rót nước.
Bà cụ chống gậy từ trên nhà xuống, móm mém cười:
- Tau đã nói rồi mà, thế mô sau tết hắn cũng vô.
Bà Hải ngồi xuống bên mẹ chồng. Mắt bà khẽ liếc ngang thấy ông Hải đang bồng đứa nhỏ từ ngoài sân vào. Đứa trẻ ốm nhách, trán đúng là trán ông Hải, dô ra trên khuôn mặt nhỏ. Hai con mắt đen thui thao láo. Bà Hải thấy nó xấu, trông như đứa con suy dinh dưỡng của một nông dân nghèo, chứ không phải là con của ông bác sĩ Hải nguyên viện trưởng viện X...Ông Hải tưng tưng đứa bé trên tay, âu yếm cầm hai tay nó xếp lại: "Chào bác đi con!" Con bé chưa hiểu gì, chỉ thấy nhột, nó cười lên vui tươi.
Mâm cơm chiều dọn lên, nhiều món thịnh soạn, nếm món nào bà Hải cũng thấy mùi mắm ruốc phảng phất. "Chết nỗi! Nấu ăn thế này, mà ông ấy ăn làm sao cả năm qua?" Thế nhưng ông Hải, Bưởi và bà cụ cứ nói cười ríu ran, ai cũng gắp thức ăn cho bà, làm bà chẳng tiện nói ra ý nghĩ của mình. Bà cũng đắn đo không biết làm sao mở đầu cái quyết định "tha bỗng, mãn hạn" như thế nào cho hợp lý, hợp tình. Bà chờ một lời than thở, một vẻ hối tiếc, một chút bực bội của ông để tỏ vẻ cảm thông tha thứ nhưng mãi không thấy, thành ra cứ đắn đo mãi sợ mở lời trước thì hóa ra mất uy.
***
Cơm nước xong, bà Hải vừa ngồi uống trà với mẹ chồng, vừa cân nhắc đường đi nước bước. Chợt nghe tiếng Bưởi nói với ai đó ngoài hiên:
- Hôm nay nhà em bận, không khám bệnh cho ai đâu. Chị chịu khó đợi đến mai nghe!
Ông Hải ngồi cạnh bà ngoái lui:
- Khám bệnh mà hẹn sao được, em cứ để tôi ra xem cho người ta.
Nói rồi ông tất tả đi ra. Có tiếng Bưởi nhỏ nhẹ trách cứ:
- Kìa mình...
Em cứ soạn sẵn túi thuốc cho tôi như mọi hôm đi. Trời đang trở gió trẻ con mười đứa cảm mạo hết chín, không chữa sớm là viêm phổi đấy.
Bà Hải cười nửa miệng. Đã hơn mười năm, từ ngày trở thành thủ trưởng, ông Hải đã không trực tiếp khám bệnh. Nay bỗng dưng lại giở các thứ ống nghe, cặp nhiệt? Bà cụ vừa nhai trầu vừa đưa bàn tay nhăn nheo run run chạm vào vai bà:
- Cái mùa đông năm ngoái thiệt đáo để, con bé mới sinh thì èo uột, mạ thì đau yếu, thằng Hải thì như một người khờ, một mình con Bưởi chạy tới chạy lui. Thấy vất vả quá, thằng Hải không đành bỏ liều, rồi cũng gượng dậy nhúc nhắc...Ít lâu sau người trong làng nghe tiếng hắn là thầy thuốc giỏi, đau ốm chi cũng chạy tới nhờ. Lần lần hắn mới vui lên, chăm lo tới nhà cửa, con cái. Cả làng này ai cũng coi hắn như ông Thánh sống, cứu mạng được bao nhiêu người.
Bà Hải bậm môi:
- Khám bệnh ở làng...Thu nhập có khấm khá không?
Bà cụ cười móm mém:
- Ai có thì đưa, không thì thôi, người mô nghèo quá còn phải cho thêm thuốc nữa là.
Hừ. Bà Hải nghĩ thầm. Thảo nào mà thấy lặng phắc im hơi, thì ra đóng vai y sư cứu nhân độ thế. Bên ngoài tiếng trẻ ốm khóc rề rề, tiếng ông Hải dỗ dành đứa bé há mồm để khám, những âm thanh phức tạp ấy làm bà Hải cảm thấy ngán ngẩm.
"Mình ơi!..." Tiếng Bưởi ngập ngừng. "Gì hở mình?" "Tối nay em bồng con qua ngủ nhà ngoại nghe?" "Sao lại phải thế?" Hôm qua tôi sờ trán con thấy hơi ấm, em đừng bế nó đi đêm, sương xuống rồi lại nhiễm lạnh". Giọng ông Hải giờ đây sao khác thế, nghe rắn rỏi, âu yếm. Có tiếng trẻ ú ớ mấy tiếng, như đang làm nũng trong cơn ngái ngủ. Tiếng Bưởi "Dạ" Nghe rất hiền...Tất cả những giọng tiếng ấy quấn quýt lấy nhau như vẽ lên một bức tranh bằng âm thanh, ngọt ngào và mộc mạc...
Tim bà Hải bỗng đập thình thịch, máu bà dồn hết lên mặt. May mà mấy phút sau, bà thấy Bưởi ôm con quấn trong chăn, một tay cầm cái nón che sương, len lén băng qua vườn theo lối sau đi thẳng ra đường xóm. Bà thấy nhẹ người, đồng thời lại thấy buồn. Nhẹ người vì như thế đêm nay có điều kiện thuận lợi để phân tích thiệt hơn với chồng; buồn vì bỗng nhiên cái quyền được ở bên chồng lại có vẻ như một ân huệ của địch thủ...
Đêm ấy, dưới ánh trăng mát dịu xuyên qua những khe lá của giàn thiên lý, ông Hải cầm tay bà, trầm ngâm nhớ lại:
"Mình quyết xem tôi như đã chết nên tôi đành chấp nhận chết. Ngờ đâu, trong cõi chết lại mở ra một cuộc sống mới."
Ông siết chặt tay bà, mỉm cười. Ông nhìn bà, người đàn bà đã từng làm chủ đời ông; nhớ tới ngôi nhà ba tầng, nhớ tới các con ông, giờ đây chúng đã có vợ có chồng, đã đầy đủ với cuộc sống. Có thể giờ đây, chúng chẳng thực sự cần đến ông nữa. Còn bà? Bà cứng cỏi và ít bộc lộ mình quá. Bà vững chãi, luôn sắp xếp mọi chuyện trong đời đâu ra đấy, dường như có thể bà luôn tồn tại theo ý mình và tồn tại một mình trên đời. Nhưng có chắc như thế không? Có chắc trong cái vỏ cứng rắn này bà không cần dựa vào ai không?
Ông Hải chợt ái ngại cho bà, bởi giờ đây ông đã biết lúc nào trong đời con người cũng cần tình yêu. Nhưng giờ đây ông còn làm gì được cho bà nữa? Bà đã đẩy ông vào một thế giới và giờ đây ông đã gắn chặt với thế giới ấy, đã ràng buộc với nó bằng những sợi dây thân thương không thể dứt lìa. Ngập ngừng, ông không nỡ nói ra điều ấy.
Nhưng bà Hải đã hiểu rồi, khi nhìn khuôn mặt thanh thản và hiền hòa của ông dưới trăng. Giống như một cây kiểng trong chậu giờ được thả vào đất rộng, không còn đài các, sang trọng nữa nhưng lại được cái hồn tự nhiên của thảo mộc. Thế mà trước đây, bà nghe nói cây đã quen sống với những điều kiện và môi trường trong chậu kiểng sẽ không thể thích nghi với cuộc sống ngoài thiên nhiên nữa. Hóa ra, nhà sinh học vớ vẩn nào đó đã vô tình làm cháy tiêu mất kịch bản của bà!
Bà Hải nghiến răng. Theo thói quen cố hữu, bà nhủ thầm như ra lệnh cho chính mình: "Đã thế thì chẳng cần màu mè nữa, thế nào ngày mai ta cũng ra oai bắt lão về!"
T.T.M




