1.
|
K |
hi vua Tần tên là Chính, lên ngôi lấy hiệu là Tần Thuỷ Hoàng đem quân ra miền Sơn Đông... Đại tướng là Mông Điềm, Vương Tiễn, Lý Tín, Chương Hàm ngày đêm miệt mài trên lưng ngựa... Phá Tam Tấn, đánh tan nước Tề, nước Sở. Bắt vua của chủ hầu làm tôi nước Tần. Tần Thuỷ Hoàng khét danh là ông vua bạo ngược.
Nước Yên bé nhỏ nằm phía nam sông Dịch Thuỷ. Phên dậu của nước Yên là nước Hàn, nước Triệu... Quân của đại Tướng Lý Tín áp sát phên dậu nước Hàn nước Triệu. Vua tôi nước Triệu, nước Hàn trong cảnh dầu sôi lửa bỏng đang tìm cách cầu hòa; xưng thần để giữ gìn lăng miếu; bảo vệ con dân khỏi bị tàn sát bởi vó ngựa của chiến binh nước Tần.
Mùa thu năm ấy trời đất nước Yên sùi sụt. Cả ba tháng chỉ thấy mưa bụi giăng mè và gió lạnh thổi thốc lên từng cơn. Chợ Thành Yên buồn ảm đạm.
Trong chợ Thành Yên ngày ấy, kiếm khách Kinh Kha đang say rượu.
Gã uống rượu ly bì, say khướt từ sáng đến chiều cùng tay đánh đàn trúc Cao Tiệm Ly. Hai ngày này, con dân trăm họ ở chợ Thành Yên đã nhẵn mặt.
Bốn phương hồ thỉ còn trơ đó
Một giọng cười khan nát cả lòng
Kinh Kha hát, Cao Tiệm Ly gảy đàn. Cái tiếng đàn của gã họ Cao này buồn lắm. Buồn đứt ruột. Con dân ở chợ Thành Yên nghe tiếng đàn là không cầm được nước mắt. Họ ngồi sát vào nhau như nghe lời kinh cầu về tổ trên ông bà họ, hàng trăm năm trước đã đổ mồ hôi nước mắt và máu để mở đất, để sinh tồn...
Tiếng đàn cất cao chới với như bứt hơi thở họ giữa trùng trùng sấm giật mưa tràn, quần đảo trong cao dày trời xanh bất tận. Tiếng đàn hiển linh trong cõi bờ sinh tử...
Và tiếng đàn lắng xuống, họ thấy mình là con dân nước Yên đang ngồi bên nhau, giữa chợ Thành Yên, bên gã đánh đàn không hề xa lạ. Và gã kiếm khách say mèm vỗ tay hát.
Chiều nay... mưa gió sùi sụt. Kinh Kha vẫn hát. Cao Tiệm Ly vẫn đàn và những người dân Thành Yên vẫn ngồi quanh để nghe.
Gã bán thịt chó vẫn thế! Bao giờ cũng chặt thịt đầy dĩa, đổ rượu tràn bát để chào mừng khách.
Kinh Kha rất kiệm lời, gã kiếm khách này bao giờ mặt cũng lỳ lỳ, gã uống say khướt rồi vỗ tay hát. Gã chưa hề to tiếng với ai, chưa hề chuyện trò với ai quá một câu. Nhưng gã lại là kiếm khách bậc nhất thiên hạ... Từ Trường Thành trở xuống, từ Sông Dịch Thuỷ trở lên. Một dãy Sơn Hà rộng mênh mông bát ngát đi qua sáu nước chư hầu, khó tìm được tay kiếm khách nào là địch thủ của gã.
Thế mà ngày hôm qua, chỉ mới ngày hôm qua, gã chối từ không đấu kiếm với đệ nhất kiếm gia nước Yên: Ca - nhiếp, mà đấu võ mồm với tay kiếm gia này.
- Ta không bao giờ đấu kiếm với người.
Ca - nhiếp râu tóc dựng ngược lên vì tức giận.
- Vì sao?
- Ta không học kiếm để khoe mẻ, đánh nhau giữa đường giữa chợ để nổi danh tay anh chị.
- Ta đánh với người để định vị ai là vô địch kiếm khách.
Kinh Kha lắc đầu:
- Chẳng tích sự gì cái danh hảo đó.
- Thế người học kiếm để làm gì?
- Thờ một minh chúa. Diệt một bảo chúa, mang thái bình cho thiên hạ.
- Hãy đánh với ta trước khi làm việc đó.
Kinh kha lại lắc đầu:
- Đánh nhau là sinh tử của một đời người. Rút kiếm ra là Tâm kiếm hợp nhất. Phóng kiếm là phải hạ được đối phương. Ta giết được người không vì mục đích cao cả gì thì hoá ra... Ta là kẻ lạm sát. Một kẻ sát nhân. Không giết được người, mà chết dưới tay người, hoá ra... oan uổng cho tấm thân này quá, ta không đem thân ta ra chết cho điều vô bổ đó. Người hãy uống với ta ba bát rồi đi đi.
Râu tóc Ca-nhiếp xẹp xuống không còn dựng ngược nữa.
Nhưng Kinh Kha vẫn chưa tìm ra minh chúa.
Lê đôi giày cỏ đi hết các nước chư hầu. Đến đâu gã cũng gặp những nỗi buồn. Những nỗi buồn làm héo tàn con tim, làm râu tóc bạc trắng. Thế nhưng buồn lắm mà gã kiếm khách này lỳ lợm không khóc, vẫn lỳ lợm cười khan qua những chén rượu đầy.
Những triều đình thối nát của các nước chư hầu. Miệng thì nhân nghĩa đầy trời nhưng trái tim thì hẹp hòi ung thối.
Gã đi từ Trường Thành xuôi qua sông Dịch Thuỷ, gã đi từ Cam Tuyền, Cốc Vũ, xuôi xuống thượng lưu sông Kinh sông Vị, phiêu bạt từ đất lũng đất Hán qua Tam Tấn xuống đất Hàn... Các bọn Triều đình miệng hẹn ước liên minh chống Tần. Nhưng lòng đầy sợ hãi, cứ lần khất ngó mặt nhau, thu quân, giải tướng.
Và bây giờ gã đến đất Yên với tay đánh đàn trúc Cao Tiệm Ly...
Đã bao mùa xuân rồi gã chờ gã đợi. Đã bao mùa xuân rồi én lượn bay và hoa rượu nở. Thế mà tiếng đàn Cao Tiệm Ly và bát rượu đầy của Kinh Kha vẫn ở trong mênh mông đất trời với nỗi buồn khôn xiết...
2.
... Vài năm về trước, Thái tử Đan làm con tin ở Tần trốn về; chính sự triều đình nước Yên từ đây một tay Thái tử Đan lo liệu.
Xưa kia, Thái tử Đan làm con tin ở nước Triệu; ở đó Chính được sinh ra và được nuôi dưỡng đến lớn khôn. Ngày đó, Thái tử Đan và Chính là bạn bè cùng lứa, cùng chia ngọt xẻ bùi. Đến khi Chính được lập làm vua hiệu là Tần Thuỷ Hoàng, Thái tử Đan lại làm con tin ở Tần.
Vì vua Tần là Thuỷ Hoàng quên tình bè bạn xưa cũ, đối xử với Thái tử Đan không tử tế - Thái tử Đan oán hận trốn về Yên, tìm cách báo thù.
Thái tử Đan trốn về được cố quốc của mình lập tức vạch đất chỉ trời thề không đội trời chung với Tần Thuỷ Hoàng.
Nhưng nước Yên nhỏ bé, đất không rộng, người không đông. Bốn trăm năm dựng nghiệp, tổ tiên người nước Yên sống nhờ vào sức cần cù nhẫn nại; Tính tận trung với nước, chỉ hiếu với người thân. Người nước Yên xả thân bảo vệ quê hương, chia ngọt xẻ bùi cùng dòng tộc. Đồng cam cộng khổ cùng lân bang, họ mạc.
Thế mạnh đoàn kết này làm nước Yên nhỏ bé đứng ngang hàng cùng các chủ hầu to lớn như Tề, Sở, Tần Triệu...
Ngày Thái tử Đan về nhiếp chính, trang sử của nước Yên lật qua trang.
Mười năm làm con tin ở Tần, Thái tử Đan đã học được cốt cách của một ông vua lớn. Việc đầu tiên của ngài là cho xây dựng chính điện, hậu điện và các cung A phòng cho cung tần mỹ nữ. Ngài cho rằng Tần Thuỷ Hoàng có đại điện, thì Thái tử Đan cũng có đại điện. Tần Thuỷ Hoàng có cung A phòng thì Thái tử Đan cũng có cung A phòng. Tần Thuỷ Hoàng có ba ngàn cung tần mỹ nữ, thì Thái tử Đan cũng có ba ngàn cung tần mỹ nữ. Người nước Tần có vũ điệu mê-ly mời gọi, thì cung điện nước Yên cũng không thua kém.
Thái tử Đan cho tuyển hàng ngàn mỹ nữ học uốn éo, lả lơi, hát múa gợi tình theo kiểu vương giả của người Tần. Thuần Phong mỹ tục của nước Yên từ đó bị đổi thay.
Vua nước Tần ban thưởng cho các đại tướng của mình khi từ trận mạc trở về, những đào tơ hơ hớ, những mỹ nữ mỹ miều, những nhung gấm lụa là... Thái tử Đan cũng ban thưởng cho các đại tướng của mình như vậy để mưu cầu việc lớn, đánh đổ Tần Vương.
Nhưng nước Yên còn nghèo lắm. Từng lớp bề trên càng phung phí, càng tiêu pha thì từng lớp bề dưới phải thắt lưng buộc bụng.
Chiến tranh lại gần kề!
Tần Thuỷ Hoàng đã cho quân ra khỏi Sơn Đông đánh các nước Tề Sở, Tam Tấn... vó ngựa của đại quân Tần Thuỷ Hoàng đến đâu, thành quách chư hầu sụp đổ đến đó. Các đại tướng của quân Tần ngày đêm trên lưng ngựa; nuốt thẳng một mạch năm mươi thành trì của các nước chư hầu. Các nước Hàn, Nguỵ, Triệu đang run lên cầm cập.
Thái tử Đan lòng như lửa đốt.
Ngài quỳ dưới chân quan tướng quốc Cốc Vũ, xưa là thầy dạy học của mình.
- Xin thầy chỉ cho một kế sách. Tần Thuỷ Hoàng bạo ngược như tằm ăn dâu đã xâm lấn hết các nước chư hầu. Nay mai Triệu xin hàng, Hàn giải giáp thì nước Yên là miếng mồi ngon Tần nhắm tới. Dùng binh lực thì nước Yên chưa đủ sức. Đan này lòng như lửa đốt mà vẫn chưa nghĩ được cách gì?
Quan tướng quốc là Cốc Vũ ngửa mặt lên trời thở dài:
- Thái tử đã bỏ trốn khỏi Tần mà về đã chọc giận Tần Thuỷ Hoàng lắm rồi, cớ gì... vì một chút oán bị khinh rẻ ngài lại đối đầu với nước Tần. Tần đất rộng thênh thang dân đông, quân mạnh. Binh lực dồi dào. Chưa một chư hầu nào chống đỡ nỗi một cuộc chiến tranh với Tần. Nước Yên ta nhờ ân lộc bao đời của tổ tiên mới có được ngày hôm nay. Kế sách bây giờ: Thân là thượng sách- Hoà là trung sách. Hạ sách là chiến. Chiến với Tần. Đối đầu với Tần là diệt vong. Mong Thái tử nghĩ cho sâu... Thái tử hãy nép mình trước Tần Vương, chờ thời cơ cùng chư hầu nổi dậy. Có như thế mới giữ gìn được tôn miếu, bảo toàn được tính mạng của trăm vạn con dân.
Thái tử Đan lắng nghe mà lòng đầy bực bội. Cái chí trả trận Tần Thuỷ Hoàng của Thái tử Đan đã làm cho ngài hao tổn bao tâm lực. Dưới gầm trời này, có một Tần Thuỷ Hoàng ngạo nghễ, thì cũng có một Thái tử Đan không hề biết sợ là gì!
Dẫu đem hết giang sơn nước Yên, sinh mạng trăm họ con dân nước Yên để quyết đấu với Tần Thuỷ Hoàng thì Thái tử Đan này cũng không ngán...
Tần Thuỷ Hoàng xưng hùng đại bá, thì Thái tử Đan xưng hùng tiền bá. Trận chiến này Thái tử Đan vẫn còn ngoan cố chưa ngã lòng; vẫn cố tìm mưu kiếm kế với cái nước Tần bạo tàn ngang ngược kia, với cái ông vua sớm quên tình bằng hữu kia. Hắn tưởng chỉ mình hắn làm được vua nước Tần là sai khiến được cả thiên hạ thôi ư! Thái tử Đan này sẽ băm vằm cái cái triều đình của hắn, sẽ làm cho hắn biết, cõi bờ phương
Thái tử Đan đã tìm đến Điền Quang để xin hợp sức. Nhưng Điền Quang đã già rồi. Một thời oanh liệt của Điền Quang đã đi vào qúa khứ, đã ngủ yên dưới lớp bụi thời gian. Điền Quang bây giờ chỉ là một ông già lụ khụ. Ôi tuổi già!
Điền Quang quì gối xin thưa:
- Quang này một thời chinh chiến, từng vào sinh ra tử, làm nên bao công trạng. Nhưng ngày đó xa rồi. Thái tử chỉ nghe tiếng con ngựa thiên lý chạy một ngày ngàn dặm mà chưa nhìn thấy con ngựa ấy về già, chân run không đứng nổi. Tâm thịnh tình này của Thái tử, Điền Quang tôi xin ghi lòng tạc dạ. Điền Quang tôi xin tiến cử một người có thể nhận lãnh trọng trách mà Thái tử cậy nhờ.
Cái người mà Điền Quang tiến của với Thái tử Đan buổi ấy chính là Khinh-Kha.
3.
Kinh Kha không còn ngồi giữa chợ...
Kinh Kha bây giờ là thượng khách của Thái tử Đan.
Đánh nhau bằng quân lực, nước Yên tập trung quân không có tới mười vạn mà nước Tần có đến một trăm vạn quân. Thái tử Đan không thể đối đầu với nước Tần bằng những trận chiến quân hai bên mặt-đối-mặt, đánh nhau khốc liệt được. Ngài đang ra sức tìm kiếm một trận chiến khác. Phải giết Tần Thuỷ Hoàng ngay trong hang ổ của hắn. Phải diệt tên bạo chúa hung tàn này ngay trong điện đài cung tẩm của hắn...
Kế sách này phải có một tráng sĩ gan lỳ, một tay kiếm khách hảo hạng.
Điền Quang đã dâng Kinh-Kha cho Thái tử Đan trong lúc này để đi làm việc đó. Việc đi giết Tần Thuỷ Hoàng được sử sách lúc này gọi là: Đi hành thích vua Tần.
Đi hành thích vua Tần là một kế sách tối ư cơ mật! Không có người thứ ba được biết- Điền Quang đã tự nguyện đâm cổ mình để chết, vì Điền Quang là người thứ ba biết được kế sách tối ư cơ mật này.
Tháng giêng năm đó mùa xuân lại về...
Đội quân viễn chinh của đại tướng Chương Hàm tràn qua đất nghiệp đánh chiếm một vùng tây bắc rộng lớn, áp sát xuống dòng sông Dịch Thuỷ; Đội quân của tướng Lý Tín tràn vào nước Triệu, vua tôi nước Triệu dâng đất, dâng thành xin hàng. Chỉ còn bên này bờ
Kịp khi Phàn Ô Kỳ một phản tướng của Tần Thuỷ Hoàng bị quân Tần truy sát; tên tướng này đã hết đất dung thân, đã chạy vào nước Yên để mong được Thái tử Đan bảo bọc.
Một nhà gần cả trăm mạng người, thân nhân của tướng Phàn Ô Kỳ bị mắc kẹt lại ở Tần, bị Tần Thuỷ Hoàng cho người giết sạch không chừa một móng.
Tướng quốc của nước Yên là Cốc Vũ khuyên Thái tử Đan đuổi tướng Phàn Ô Kỳ ra khỏi bờ cõi nước Yên để tránh trận lôi đình của Tần Thuỷ Hoàng; nhưng Thái tử Đan đã không nghe. Cốc Vũ đã thở dài; chỉ vì kết thân với một người mà mang họa cho cả dân tộc...
Đó là mùa xuân an bình cuối cùng cho cả nước Yên...
Thái tử Đan ba ngày dâng tiểu yến- bảy ngày dâng đại yến cho tráng sĩ Kinh Kha.
Kinh Kha được ở trong lầu son gác tía, đại diện của Thái tử Đan. Vây quanh gã là những gái đẹp trong mọi miền đất nước. Những giai nhân này được học đàn, học hát, học múa. Họ hát những điệu ca xuất phát từ lầu xanh, ổ điếm nước Triệu, nước Tần... Họ múa những điệu lố lăng, gợi dục mà binh lính viễn chinh, sau khi thắng trận đã bắt gái chư hầu, phục vụ những điệu mê tơi, điên cuồng bên những đống lửa bập bùng còn vương mùi chiến trận.
Thái tử Đan đã mang về đây tất cả những sản phẩm truỵ lạc mà vó ngựa chiến chinh của các đoàn quân viễn chinh gầy dựng được.
Ngài cho đây là những qùa tặng để chiêu đãi những chiến binh của mình trước khi đi lập công trạng.
Trong điện đài lầu son, gác tía này... Kinh Kha bỗng thấy mình chơ vơ lạc lõng. Nỗi bất an từ đâu ập tới. Gã thấy một nước Yên của các bậc vương giả ra đời dâm ô và hoang phí. Gã thấy một nước Yên bị phân hóa và chia ly có hai tầng lớp hiện hữu. Một tầng lớp của bậc trưởng giả và một tầng lớp của con dân đầu đen dãi dầu trên đồng đất của họ.
Những ngày dài ở đây, tay kiếm của Kinh Kha bỗng run run. Bao lần thử kiếm gã thấy mình phóng kiếm rất chậm. Tâm cơ gã rối loạn. Kiếm và ý không hợp nhất được. Hình ảnh của một Minh chúa đã tan dần như ảo ảnh. Gã sẽ sang Tần như một sát thủ đâm thuê chém mướn.
Kinh Kha bỗng nhớ đến Cao Tiệm Ly và tiếng đàn trúc của hắn.
Tiếng đàn trúc của hắn lướt nhẹ trên sông nước; bàng bạc trôi, như tơ như sương, len lõi vào lòng người...
Cái tiếng đàn trúc ấy là điệu tâm ca, là sự giao hòa giữa trời và đất và người. Nó mang hình bóng của hàng vạn hoa xuân, cùng chim chóc cây cỏ. Trong tiếng đàn dìu dịu đó có hình ảnh của khói lam chiều, có hình bóng của luỹ tre làng, có tiếng cười của trẻ thơ, có tiếng ầu ơ của mẹ ru con qua năm dài tháng rộng.
Tiếng đàn đó đã vút lên, vút lên... vút lên cao ngất! Nó mang khát vọng không bến không bờ của vạn vạn người dân cày đất vỡ hoang, dựng làng, dựng nước, dựng những lăng tẩm, điện đài, những thành quách cao ngất...
Trong những tháng ngày lê đôi giày cỏ, đi ngược xuôi khắp các nước chư hầu. Cao Tiệm Ly đã ôm cây đàn trúc để hát. Hắn hát giữa thịnh suy hoang phế của kiếp người. Hắn phổ được tiếng khóc của người mẹ mất con giữa tuyến trận tiền. Tiếng đàn của hắn rưng rức... Nỗi niềm ấy đi vào từng thôn xóm; Hóa trong cuộc bể dâu hoang tàn bởi trận mạc triền miên xảy ra- triền miên mang nỗi đau vợ mất chồng, con mất cha, mẹ mất con, em mất anh, người thân mất người thân...
Hình như trời sinh ra hắn để ôm đàn mà gãy... cũng như trời sinh ra Kinh Kha này để học đánh gươm. Để mang gươm đi khắp cùng trời đất.
Cao Tiệm Ly khi uống say đã cười:
- Nhà ngươi học đánh gươm có thể đâm chết một người, hai người và vài chục người... còn ta học đàn, ta có thể làm một người, hai người và hàng trăm người, hàng vạn người ngồi lại bên nhau, hà hơi ấm cho nhau, làm nên thành quách chống lại mọi đổi đau thương...
Nhưng hãy nhớ điều này: Sẽ không bao giờ, mãi mãi không bao giờ ta làm hoen ố mặt đất này bởi tiếng đàn của ta. Ta sẽ đàn cho cây nở hoa, cho người thêm sức sống.
Và nhà ngươi cũng vậy! Hãy dùng kiếm của mình làm mặt đất bớt đi tiếng khóc, có nhiều nụ cười. Nếu không làm được như vậy. Núp sau bóng một bọn cường đồ, phục vụ cho lợi ích xấu xa ích kỷ ác độc của chúng; xa lìa đồng loại, dẫm đạp lên nỗi đau của bá tánh... Thì nhà ngươi cũng chỉ là kẻ đâm thuê chém mướn mà thôi!
Kinh Kha đã bật khóc...
Lần đầu tiên trong đời đã khóc. Tiếng khóc nghẹn ngào của một kẻ sĩ, không sợ an nguy cho tính mạng, không sợ đói nghèo cho bản thân, không sợ nhọc nhằn cho cuộc sống... mà tiếng khóc kiêu thương cho hoài bảo của mình bị huỷ hoại, tiết tháo của mình bị hoen ố.
Ngày mai, Kinh Kha qua sông Dịch Thuỷ
Sóng gió sông Dịch Thuỷ ầm ầm cuồng nộ bao nhiêu cũng không bằng sóng gió trong lòng Kinh Kha bây giờ. Một bản đồ nước Yên với ba mươi quận huyện đem dâng nạp cho vua Tần. Một cái đầu của phản tướng Phàm Ô Kỳ mà Tần Thuỷ Hoàng phải nhìn tận mắt mới nguôi đi cơn phẫn nộ... Và một cây dao Chuỷ Thuỷ mà Thái tử Đan phải đem một trăm lạng vàng để mua từ tay phu nhân nước Triệu về. Cây dao Chuỷ Thuỷ được tẩm độc cực mạnh, chỉ cần đụng nhẹ là chảy máu. Máu chỉ ứa như sợi tóc, độc cũng đủ thấm vào tận tim.
Ngày mai, Kinh Kha là sứ giả của nước Yên sang Tần để xin đầu hàng, xin nạp đất đai. Xin nạp đầu kẻ thù của hoàng đế.
Và trong cái giờ khắc trọng đại đó. Được yết kiến dung nhan của Tần Thuỷ Hoàng. Được nghe vị Hoàng đế khét tiếng từ cổ chí kim này nói...Thì nhiệm vụ của Kinh Kha là phải đâm chết Tần Thuỷ Hoàng.
Tần Thuỷ Hoàng chết. Các đại tướng của nó ở ngoài, chẳng còn ai chịu nghe ai, sẽ sinh loạn. Đó là thời cơ cho chư hầu nổi dậy. Đó là thời cơ cho Thái tử Đan phất cờ hiệu triệu chư hầu xưng hùng xưng bá...
Kinh Kha lại rùng mình.
Giữa cái triều đình nước Tần to lớn đầy bất trắc, Kinh Kha sẽ rút cây dao Chuỷ Thuỷ giấu dưới bức địa đồ và đâm thẳng vào tim Tần Thuỷ Hoàng. Một nhát đâm phải cực nhanh và Tần Thuỷ Hoàng đổ xuống.
Trước mặt phải là Tần Thuỷ Hoàng đổ xuống! Một bạo chúa phải đổ xuống! Nhưng mà sau lưng không có hình bóng của một minh quân nào hết! Sau lưng là cái bóng đen thật to của Thái tử Đan bao phủ. Cái bóng của một hôn quân...
Và tiếng khóc của bá tánh vẫn nghẹn ngào tức tưởi. Và khói lửa chiến tranh vẫn ngùn ngụt đầy trời...
Và Kinh Kha... Người vẫn không làm cho mặt đất nở hoa. Người vẫn không làm cho mặt đất có nhiều tiếng cười. Người hạ bệ một thế lực đen tối xuống, và phò một thế lực đen tối khác lên ngôi... Người chỉ là kẻ đâm thuê chém mướn mà thôi...
Kinh Kha đã đổ vật ra bất tỉnh...
Dẫu ngày mai gã phải làm sứ giả nước Yên lên đường qua Tần Quốc, thực hiện âm mưu giết Tần Thuỷ Hoàng
4. Đoạn kết.
Kinh Kha đã chết rồi.
Cuộc hành thích vua Tần đã thất bại.
Nguồn tin này bay về nước Yên như một tin bão dữ. Nó xô đổ sự an lành của người dân nước Yên đến tận hang cùng, ngõ hẻm; làng mạc xa xôi...
Nước Yên trải mình trong một màn tang tóc hãi hùng kinh sợ
Cả thành Yên im lặng như tờ.
Quan tướng quốc nước Yên nói với Thái tử Đan:
- Cơ sự đến nỗi này rồi, Thái tử hãy đi đi... Hãy mang triều đình cùng bá tánh chạy về phía Liêu Đông; đất kế- Hay vào núi thẳm rừng sâu tìm thời cơ phục quốc.
Xin ngài hãy nhớ cho: Là người cầm vận mệnh quốc gia, nhất cử nhất động đều có liên quan đến sự an-nguy tồn- vong của cả dân tộc. Xin ngài hãy nghĩ cho sâu và thương dân như con đẻ.
Tôi là quanTướng quốc, Tướng của các đại tướng, tôi phải ở lại giữ thành. Dù có hy sinh đến người cuối cùng, đạo quân tình nguyện này cũng phải đánh một trận tưng bừng... Để mai này khi kể lại chiến trận Thành Yên, những người lính Tần viễn chinh còn giật mình kinh sợ- còn nói với con cháu của mình: Dân tộc Yên là một dân tộc anh hùng.
Thái tử Đan gạt lệ ra đi...
Quan Tướng quốc râu tóc bạc phơ đứng trên kỳ đài Thành Yên; uy nghi, lẫm liệt.
Bên kia bờ Bắc sông Dịch Thuỷ, bụi mù ngàn dặm. Vó ngựa của những đoàn quân viễn chinh ùn ùn kéo đến. Từ thượng lưu sông Dịch Thuỷ đổ dài xuống hạ lưu, đâu đâu cũng nghe tiếng ngựa hí quân reo.
Tần Thuỷ Hoàng đã cho thêm quân vào nước Triệu, mượn đường đổ xuống đồng bằng sông Dịch Thuỷ. Một đạo quân khác từ mạn Tây Bắc đổ về. Một đạo quân nữa, từ phía Đông Bắc đổ xuống hạ lưu sông Dịch.
Tướng vương Tiểu được lệnh Tổng chỉ huy cả ba đạo quân, làm sạch nước Yên không chừa một móng.
Bên này bờ Nam, con dân Thành Yên tình nguyện ở lại chiến đấu giữ thành không đầy một vạn; đối mặt với năm mươi vạn quân Tần bên kia bờ Bắc. Lực lượng quá so le... Nhưng khí thế hung hãn của đạo quân viễn chinh bên kia bờ bắc không làm những người lính giữ thành sợ hãi. Họ đã tình nguyện chết. Đánh đến hơi thở cuối cùng, để cầm chân cái đạo quân bách chiến bách thắng kia lại... Để triều đình và trăm họ bá tánh con dân nước Yên bồng bế nhau đi...
Bảo toàn quân lực là chủ trương đứng đắn của quan Tướng quốc, vạn bất đắc dĩ mới đem quân ra đánh...
Nhưng hôm nay, quan Tướng quốc phải đem quân tình nguyện ra đánh và phải đánh cho tưng bừng và chết cho có khí phách anh hùng- không làm nhục tổ tông, chết hiên ngang, ngửng cao đầu lên cùng trời đất.
Cái thần đó được lan truyền vào ba quân tướng sĩ nước Yên. Cả một cõi bờ phía Nam Sông Dịch ngùn ngụt khí thế bất khuất. Tất cả đều ngửng cao đầu...
Chính trong cái thời khắc lịch sử đó...
... Giữa đất trời mênh mang của hai bờ Sông Dịch, tiếng đàn trúc: lâng lâng, thanh thoát, nhẹ nhàng, vọng đến.
Tiếng đàn trúc vọng đến như từ trời cao- Như từ giữa sông sâu, như từ một cõi xa xăm... Nó mang hình ảnh quê nhà thương mến. Nó chứa cái tính dịu ngọt của những kẻ yêu nhau... Nó giận dỗi hờn trách những cuộc phân ly đành đoạn. Trong tiếng đàn lảnh lót trôi trên sông nước, có tiếng nói của trẻ thơ, tiếng gọi của người vợ hiền, tiếng kêu đứt ruột của mẹ kêu con.
Và tiếng đàn chùng xuống, đó là khúc bi ai cho những người chết trận.
Bên kia bờ Bắc Sông Dịch, tiếng đàn làm dịu sự hung hãn của những người lính viễn chinh.
Bên bờ Nam Sông Dịch, tiếng đàn gợi cho người lính giữ thành một hình bóng quê hương, một mái ấm gia đình... một nỗi nhớ của người dân sắp mất nước.
Đứng trên kỳ đài của Thành Yên. Quan Tướng Quốc Cốc Vũ nói với các tướng sĩ của mình:
- Còn tiếng đàn trúc còn linh hồn của nước Yên. Nước Yên sẽ không mất. Nghe tiếng đàn trúc người dân nước Yên chảy nước mắt mà nhớ về cội nguồn nước Yên. Họ sẽ chiến đấu để tìm về với nhau.
Và cũng chính trong thời khắc đó...
Thống Soái cả ba đội quân Tần, Vương Tiển ra lệnh: Lui quân trăm dặm. Phó Soái Thương Hàm, ghì cương ngựa bên Thống Soái hỏi: Vì sao?
- Vào trận lúc này thì quân ta sẽ tổn thất rất nặng. Ông không nghe tiếng đàn trúc sao. Tiếng đàn trúc làm tinh thần chiến đấu của quân Yên tăng lên, và sức chiến đấu của quân ta suy sụp. Hãy mau lui quân đi!
... Và cũng chính vào đêm đó, Thống Soái Vương, lệnh cho năm ngàn sát thủ qua sông tìm diệt tiếng đàn trúc. Năm ngàn sát thủ lặng lẽ như năm ngàn hồn ma qua sông. Chúng đi tìm diệt tiếng đàn trúc...
Nhưng tiếng đàn đang ở trong máu huyết của người dân nước Yên, ở trên bầu trời cao của nước Yên, ở trong cõi thăm thẳm vô cùng của nước Yên...
Chúng sẽ khốn khổ vô cùng khi đi tìm diệt tiếng đàn.
Thành Cổ Quảng Trị 2006
T.Đ




