Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 15/04/2026 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Tình người

                - Chị cứ để em đi! Còn ở lại đây với chị… chị thì khó xử mà em thì khổ tâm.

- Mi cứ ở lại đây! Sống chết có tau. Tau không có chi là khó xử, mi cũng không làm chi mà phải khổ tâm. Người chị cương quyết một cách nóng giận. Còn người em vẫn nằng nặc đòi đi. Giằng co mãi, rồi hai người ôm lấy nhau mà khóc. Cả hai tấm thân còm cõi, cứ rung lên từng đợt, từng đợt. Những tiếng khóc nghèn nghẹn, nhọc nhằn ngắt quãng. Những giọt nước mắt ứa ra, òa vỡ khi leo qua các nếp nhăn, tràn lênh láng trên lớp da dày cộm rồi rơi xuống nền đất. Hai mái đầu bạc trắng như cước dựa vào nhau, mãi như chẳng thể rời nhau ra được. Khi nắng chiều hắt vào thì cả hai mái tóc cùng biến thành một màu lửa.

***

Cách đây đã lâu lắm. Ngày ấy, miền Nam vừa được giải phóng. Cả khu Thành Cổ gần như còn chìm trong cỏ dại. Đứng từ xa trông về chỉ thấy một màu trắng của cỏ lau. Bông lau ở đây sao mà trắng đến thế, trắng đến nao lòng.

Giữa một miền cỏ hoang mênh mông ấy, người ta thấy có bóng người. Đó là một người đàn bà ăn vận mang dáng dấp của một phụ nữ Nam Bộ. Bà có khuôn mặt tròn, nom phúc hậu. Ở trong đáy mắt luôn đọng một nỗi u buồn vời vợi.

Ban đầu, những người dân nơi đây thấy người đàn bà ấy cứ lặng lẽ, thẩn thơ bên những đống gạch ngói đổ nát, loanh quanh ở gốc những bụi lau, bụi đót… Nơi ấy xưa là phố xá, là đường đi, là trường học, là Giáo đường… mọi người tưởng bà là dân gốc ở nơi này, đã đi đâu xa, bây giờ mới trở lại. Hay bà có họ hàng thân thích ở nơi đây, muốn tìm gặp lại người quen. “Bà tìm nhà ai? Muốn gặp ai?” Bà “dạ không” nhẹ như gió thoảng. Ai hỏi gì bà cũng một mức lắc đầu. Hình như bà rất ngại tiếp xúc với mọi người. Thấy bà có vẻ hiền lành nhút nhát, nên người ta cứ để cho bà tha hồ nhẩn nha dạo khắp khu này.

Sau đó, mọi người thấy bà đi đào nhôm và sắt vụn. Dưới nắng như đổ lửa, gió lào thổi ràn rạt, người đàn bà ấy, ước chừng độ năm chục tuổi, cũng mải miết bới tìm… như mọi người. Cái công việc đào tìm phế liệu đã trở thành một kế sinh nhai, thậm chí có thể gọi là “nghề” của một số người, gia đình sau khi chiến tranh kết thúc.

Rồi cái nghề này không chỉ mang lại cơm áo hàng ngày, mà nó còn giúp người ta tìm thấy một thứ “của” vô giá. Tưởng như đã bị lãng quên, mà trong cái lẽ thường tình nhất, đến một ngàn lẻ một đời sau, vẫn không được phép quên. Đó là xác người. Xác của những người đã nằm xuống trong một cuộc đọ sức. Đâu phải chỉ có những người ở xứ sở này mà còn bao nhiêu người ở nhiều miền quê khác nữa. Mỗi khi nhớ lại vẫn chưa hết thấy kinh hoàng. Và mới hiểu được cái giá của những cái chết ấy đối với cuộc sống này.

Hầu như ngày nào cũng như ngày nào, những người bới tìm phế liệu cũng gặp xương người. Lại có nhiều chỗ còn thấy cả di vật. Những bộ hài cốt ấy, được đưa về nghĩa trang liệt sĩ. Có Danh và cả Vô Danh.

Thế là trong cuộc sống nhọc nhằn, thậm chí vẫn còn đối mặt với cả tử thần nữa, mọi người cũng có một niềm vui. Ở trong cõi tâm linh sâu thẳm của những cuộc đời vừa thoát qua cơn binh lửa, với tư cách là những người còn sống sót, họ thấy có được một niềm an ủi.

Người đàn bà xa lạ trên, lặng lẽ hòa nhập vào cuộc sống nơi đây. Cũng lam lũ, cũng dải dầm mưa nắng, cũng chịu đựng… Giờ nhiều người đã biết tên bà là Út Tám. Bà không có gia đình, không có họ hàng thân thích. Người ta cũng chỉ biết về bà có như vậy.

Rồi mọi người giật mình nhận ra, bà Út Tám không chỉ là một người đi tìm phế liệu, mà bà còn đi tìm xương. Nói đúng ra, bà là một người đi mót, đi thu nhặt xương người.

Bà tìm và nhặt nhạnh từng tí xương, chỉ bằng hạt thóc, hạt ngô, đến những mảnh, những đoạn xương còn lẫn trong đất cát, lẫn với mảnh đạn, mãnh bom. Nhôm và sắt  vụn, bà đem đổi lấy bữa ăn trong ngày, xương bà giữ lại. Bà còn mang những phế liệu để đổi lấy từng tí mảnh xương mà những người cùng nghề nhặt được.

Có khi bà Út Tám lại cùng đi làm với những người thợ đào móng nhà. Ở đây, bà cũng hay tìm nhặt được từ những mảnh xương tí xíu. Bà cần mẫn, xông xáo ở mọi nơi, mọi việc, chăm chăm với một mục đích là tìm xương, mải mê như một người thợ săn tìm mồi.

Về nhà, bà cặm cụi lau rửa từng tí. Rồi dùng một thứ nước nóng ngào ngạt mùi trầm hương để rửa tráng lại một lần nữa. Xong xuôi, bà phân loại chúng theo sự hiểu biết và sự cảm nhận của bà ra đâu là xương đầu, xương chân, xương tay, xương vè… Mỗi loại bà để vào một cái lọ. Thành lọ bà lót một thứ giấy óng ánh sắc đỏ. Những cái lọ ấy bà đem đặt trên một ngọn đồi. Dân trong vùng gọi quả đồi ấy là “đồi chết”. Đã có rất nhiều người và trâu bò khi bén mảng đến chân đồi đều bị vướng mìn. Vậy mà bà Út Tám vẫn ra vào quả đồi ấy một cách bình an vô sự.

Người dân trong vùng đã bàn tán rất nhiều về bà Út Tám. Có người bảo bà là phù thủy. Có người cho rằng trong tay bà có cả một bản sơ đồ bãi mìn. Người thì quả quyết rằng bà đã được nhiều sinh linh, những sinh linh đã hoàn toàn bị tan xương, nát thịt, phù hộ nâng đỡ. Cũng có người khoe, chính mắt mình trông thấy bà lướt êm ru trên những ngọn cỏ, bụi cây… Rằng bà có phép siêu nhân để vô hiệu hóa các loại mìn. Rằng bà có cả một kho báu giấu trên quả đồi chết…

Thực ra, mọi người chỉ bàn tán nói với nhau câu chuyện phiếm thế thôi. Chứ còn trong cuộc sống, người ta thấy bà cũng phải nhọc nhằn, phải lăn lộn như mọi người, để có lấy miếng ăn trong ngày. Đã nhiều người chú ý đến bà. Có người còn muốn làm quen, muốn chia sẻ. Nhưng hình như bà vẫn muốn xa lánh với tất cả mọi người.

Ngày tháng trôi đi.

***

Đêm đã khuya lắm, trời vẫn mưa. Mưa từ chiều, qua tối đến tận đêm rồi mà vẫn chưa ngớt hạt. Ở mảnh đất này, nắng đã dữ, gió cũng dữ, mưa càng dữ dằn làm sao. Mẹ Thục trằn trọc mãi mà vẫn không ngủ được. Nằm nghe tiếng mưa rơi, tự nhiên lòng mẹ thấy trống vắng lạ. Có một sự mơ hồ, sự mơ hồ về một nỗi cô đơn đã lảng vảng theo mẹ bao năm rồi, giờ mới hiện rõ về xâm chiếm lòng mẹ. Mẹ cảm thấy sợ… mà từ bé đến khi lớn lên, ngay cả những lúc đối mặt với quân thù, mẹ có biết sợ là gì đâu. Vậy mà lúc này, tiếng mưa rơi rền rĩ với tiếng gió gầm gào ở bên ngoài lại làm cho mẹ sợ. Có nỗi cô đơn tràn ngập trong căn nhà nhỏ nhoi của mẹ. Mẹ ngồi bật dậy, ngẫm nghĩ lung tung… về mẹ… về những cuộc đời cũng đang sống trong cô quạnh.

Mẹ lách cửa, bước ra khỏi nhà. Chớp nhoàng nhoàng xé rách màn đêm, sấm đì đoàng nổ tan tứ phía. Con đường trước mặt nhạt nhòa. Những ngôi nhà lớn bé cao thấp thu mình dưới làn mưa tầm tã. Tất cả mọi người đang ngủ yên. Riêng có một mình mẹ, đội mưa mẹ đi. Mẹ tin vào linh cảm của mẹ. Trong lòng trào lên một niềm tin ấm áp, mẹ xăm xăm bước.

Điều linh cảm của mẹ quả không sai. Ở trong một khu hoang vắng, dưới mái lều tạm bợ, bà Út Tám đang nằm co quắp. Khi mẹ Thục tìm tới nơi thì bà ấy không còn biết gì nữa. Bà Út Tám được đưa đi cấp cứu ngay trong đêm mưa gió ấy.

***

- Chị có tin là người ta đều có số phận không?

- Chu cha, sao lúc nào mi cũng chỉ nghĩ tới số mấy phận làm vậy?

- Nhưng chị có tin là có không?

- Ừ thì có tin. Thôi ngủ đi! Mẹ Thục xoay người ôm lấy bà Út Tám. Bà Út Tám co người như muốn nhỏ thêm lại, rúc sâu vào lòng mẹ Thục.

Chỉ một lát, bà Út Tám đã ngáy đều đều, ngủ ngon và yên tâm như một đứa trẻ khi được nằm trong lòng mẹ. Còn mẹ Thục thì lại không ngủ được. Mẹ nằm mà nghĩ vẩn, nghĩ vơ. Có lẽ trên đời này có số phận thật hay sao ấy. Cứ như cái việc mẹ gặp, rồi cứu được bà Út Tám, giờ hai người lại chung sống với nhau dưới một mái nhà, sống hòa thuận và thân thiết như hai chị em ruột thịt. Mẹ cũng lấy làm lạ.

Trước kia, mẹ Thục chẳng bao giờ tin vào số mệnh hay thần thánh một tí nào. Cuộc đời của mẹ lớn lên trong loạn lạc, rồi yêu đương, sinh con đẻ cái trong bom đạn bời bời. Cả một thời, mẹ vừa cầm súng, vừa nuôi con. Rồi đến những đứa con của mẹ lớn lên, lại tiếp tục cầm súng. Cùng nhau bước qua những năm tháng khốc liệt… Đến khi khói bom, khói đạn tan đi. Cuộc sống trở về với bình yên, lúc này mẹ mới giật mình kinh hãi. Chồng và tất tần tật các con của mẹ, ba trai, hai gái đều ngã xuống ngay trên mảnh đất này. Mẹ ngẩn ngơ, trong lòng bầm tím tái tê. Mẹ như muốn gầm lên “Tiên sư cha cái quân giặc. Sao nó không cướp nốt cái mạng của tao đi luôn một thể”. Thế mà mỗi khi đứng trước những lời thăm hỏi, chia sẻ của mọi người, mẹ lại tỉnh bơ “còn may hơn khối nhà chẳng còn một ai”.

Mẹ sống một đời dân, trở về với cuộc sống thường nhật. Bao đau thương mẹ để riêng ở trong cõi lòng. Để hòa cùng với mọi người mà đón lấy niềm vui sum họp, niềm vui hòa bình thống nhất. Cái khát vọng của bao thế hệ, bao kiếp người đã từng đeo đuổi. Giờ đây, niềm mong ước đã đến, mẹ nhìn quanh, ở trên mảnh đất này làm gì có một gia đình nào, một người nào là không phải chịu mất mát đau thương đâu. Đến ngay cả đất cát, cỏ cây, muông thú cũng chả được yên lành, huống chi là con người. Mẹ lại càng yêu đến sắt se cái mảnh đất quê cha đất tổ với những kiếp người, hết đánh vật với đạn bom lại đến thiên tai nghiệt ngã. Nhưng mẹ cũng như mọi người cả thôi, như những cây cỏ nơi đây, vứt vào đâu cũng có thể đâm rể ra, bám lấy đất mà sống.

Cái hồi bà Út Tám mới xuất hiện ở đây. Ban đầu, mẹ thấy gai gai ở trong mắt bởi một sự bực bội. Đâu chỉ có bực bội, mà còn có cả căm tức nữa. Một cảm giác cứ như là những ngày xưa, mỗi khi mẹ đứng trước mũi súng của quân thù. Thế nhưng, cũng lấy làm lạ, càng bực bội, căm tức thì lại có một điều gì đó đang diễn ra trái ngược ở trong lòng mẹ.

Chẳng hiểu người đàn bà ấy quê quán ở nơi nào. Con cái, anh em có còn ai không. Cả miền Nam này, bom đạn ngút trời suốt mấy chục năm những là ly biệt, là lưu tán có thiếu chi. Nhưng bây giờ bình yên rồi, ai cũng tìm về quê quán tiếp tục làm ăn sinh sống. Vậy mà bà ấy, tuổi cũng đâu còn trẻ, sao vẫn cứ bám riết lấy mảnh đất này, sống vật vờ, kín như hũ nút. Nhưng mẹ Thục vốn là một người rất nhạy cảm. Mẹ chắc chắn rằng ở trong con người của bà Út Tám có uẩn khúc chi đây. Thế là trong lòng mẹ lại tràn ngập một sự cảm thông sâu sắc. Một sự cảm thông tự nhiên của những cuộc đời có cùng cảnh ngộ.

Cho nên trong cái đêm mưa gió ấy, nhờ vào sự mách bảo mà mẹ Thục đã cứu được bà Út Tám. Mẹ còn mang bà về nhà, tiếp tục thuốc thang cho đến khi khỏe hẳn. Rồi mẹ lại giữ bà ở lại cùng với mẹ. Ban đầu bà Út Tám đâu dám. Mẹ Thục hỏi “Chừ mi còn định sống trong cảnh màn trời chiếu đất đến khi mô?” Chỉ một lời của mẹ như vậy đã đánh thức vào tận tâm can của bà Út Tám. Là con người, khi về già ai chẳng ý thức được nỗi cơ cực, tủi hổ của cuộc sống vô gia cư. Có khác nào con thuyền ngày đêm lênh đênh giữa trùng trùng sóng vỗ, chỉ mong muốn tìm lấy được một bến bờ để mà neo đậu. Đã bao ngày qua, bà Út Tám đã nếm trải, đã chịu đựng đủ cả… Tự nhiên bà Út Tám nhận ra được mái nhà và tấm lòng của mẹ Thục là nơi nương nhờ tốt nhất cho bà, nhất là trong lúc này.

Làm thân đàn bà con gái, mỗi người có một bến nước, một kiếp phận là cái lẽ rành rành của tạo hóa. Nhưng cùng một nỗi đau, một bất hạnh sao mà cũng đến lắm đa đoan.

Bà Út Tám quê mãi ở trong Mỹ Tho. Một miền quê vốn bình yên với những người dân hiền lành chất phác bao đời. Nhưng ngọn lửa của chiến tranh đã lan đến quê bà. Chồng và cả ba thằng con trai của bà đều không thoát khỏi quân dịch. Người chồng chết trận trong tết Mậu Thân. Thằng lớn chết vào năm bảy mốt. Thằng thứ hai và thằng út đều là lính. Dù đã tham gia vào cuộc tái chiếm Thành Cổ. Bà Út Tám vẫn còn giữ được lá thư của đứa con út gửi về. Trong thư đề ngày hai tư tháng bảy, nó viết ngày mai nó sẽ cắm cờ lên tòa Thành Cổ để được nhận tiền thưởng. Nó sẽ mang về cho bà một món tiền, bà sẽ có một cuộc sống dư dật… Nó còn nói nó rất thương ba, thương má, thương các anh của nó… Chao ôi! Âu cũng là tình thương, lòng hiếu thảo của một đứa con.

Đã bao lần bà Út Tám đứng trên cầu, toan lao xuống lòng sông, muốn tìm cho mình một cái chết để cho yên phận. Nhưng hình như là có một thứ lực vô hình nào đó đã níu kéo bà lại. Để bà tiếp tục sống, rồi ngược tìm về nơi đây. Mảnh đất mà hai đứa con của bà đã bỏ xác lại. Hiểu được về cuộc đời của bà Út Tám, trong lòng mẹ Thục lại tràn ngập một tình thương. Một tình thương tự nhiên, như những đêm nằm vò võ một mình, nghe tiếng côn trùng rên rĩ râm ran, mẹ ngẫm nghĩ mà thương cho cái thân phận của riêng mình.

Từ ngày bà Út Tám về sống ở nơi đây, lúc nào cũng nen nét, u sầu. Bà chẳng dám ngẩng mặt nhìn một ai, như là sợ từ đứa trẻ sợ đi. Ban đầu còn có nhôm và sắt vụn, những thứ đó rồi cũng cạn dần. Bà đã phải sống lay lắt, bữa đói bữa no. Đã có lúc phải nhờ vào sự chia sẻ, lòng thơm thảo của mọi người.

Trước kia, bà cũng đã có những ngày tháng, có thể nói là sống nhàn hạ, nhờ vào những đồng tiền. Những đồng tiền có cái màu xanh nhờn nhợt ấy, sao nó lại có sức hút đến con người ta làm vậy. Chồng và các con của bà, ngoài một sự ép buộc ra, cũng còn phần nào đã lóa mắt, lóa lòng bởi cái màu xanh, cái tiếng loạch xoạch sắc lạnh của những đồng đô la ấy. Nên đã bước vào con đường lầm lạc, tội lỗi.

Giờ đây, từ khi gặp mẹ Thục, bà Út Tám mới như một người được sống lại với đúng cái nghĩa “sống” của một cuộc đời. Bà như muốn làm được một việc gì đó, để có thể chuộc lại những lỗi lầm, do chồng, con của bà gây ra. Một ý nghĩ dù chỉ là lởn vởn một cách mơ hồ, nhưng sao cứ ám ảnh, cứ bám mãi trong đầu bà. Biết đâu đấy, có thể chồng hay chính những đứa con của bà đã bắn chết những người thân yêu trong gia đình mẹ Thục. Nghĩ vậy, nên bà cứ một lòng một dạ, tận tâm tận lực để chăm sóc cho mẹ Thục, cả những ngày mẹ khỏe hay những khi trái nắng trở trời. Nữa là, để bà trả được cái ơn sâu nặng của mẹ Thục. Quả là ông giời đã khéo ghéo hai mảnh đời của hai người mẹ, trước kia đã từng ở hai chiến tuyến. Giờ gặp được nhau, để mà nương tựa vào nhau. Lúc khỏe, lúc yếu, những khi mưa phùn gió bấc, cả hai người cùng thấy bớt đi nỗi cô quạnh. Một sự kỳ diệu như bao điều kỳ diệu vẫn ẩn chứa, nẩy nở trên cuộc sống này.

Cũng có lúc, mẹ Thục định hỏi xem vì sao mà bà Út Tám không về sống ở quê. Con cái không còn nữa nhưng có thể nương tựa được vào anh em, họ hàng, lối xóm… Nhưng mẹ lại thôi. Phần vì mẹ không muốn đụng vào nỗi đau của bà, phần mẹ đã hiểu được lý do gì để cho bà Út Tám ở lại nơi này.

Bà Út Tám đã dẫn mẹ Thục lên quả đồi chết. Bà đi trước, mẹ Thục bước theo sau. Thì ra bà Út Tám cứ lần theo dấu chân của chuột, của chồn cáo mà lên đồi. Lúc bước dò dẫm, lúc phải nhảy. Mẹ Thục đã đứng trước “kho báu” của bà Út Tám. Trước mặt mẹ là chín cái mộ. Cách đặt vị trí của những nấm mộ cũng có một cái gì là lạ, khang khác. Trông như hình của một người nằm thẳng. Bà Út Tám cho biết ở dưới đó là chín cái lọ, đựng chín loại xương.

Mẹ Thục đứng lặng. Chín nấm mộ nhỏ nhoi nằm trên đỉnh một ngọn đồi hoang, giữa bạt ngàn cỏ dại. Chín cái lọ đựng không biết bao nhiêu là những mảnh xương, của bao nhiêu người gộp lại. Một sự tập hợp chắc chỉ có một không hai ở trên thế gian này. Bà Út Tám gần như nằm bò lên từng ngôi mộ. Những ngón tay khô cứng lay nhổ từng nhánh cỏ một cách chậm chạp khó nhọc. Trên gương mặt già nua đến khắc khổ của bà ngời ngợi lên một niềm tin. Dưới những nấm mộ này, thế nào cũng có một phần là hài cốt của con bà.

Mắt mẹ Thục nhòa đi. Nhưng trong lòng mẹ lại thắp lên hình ảnh của một người đàn bà yêu thương con đau đáu. Cũng là một người mẹ, cũng từng mang nặng đẻ đau, cũng là những công sức chăm bẵm, nuôi nấng những đứa con lớn lên. Mẹ bỗng tự so sánh cái nỗi đau của lòng mẹ với nỗi đau của người đàn bà tội nghiệp kia. Chắc cũng đau lắm. Vậy mà tình yêu thương chồng con, nỗi đau của bà luôn phải giấu sâu tận đáy lòng.

Tay mẹ Thục run run khi thắp nhang lên những ngôi mộ. Những làn khói xanh mỏng manh quấn quít vào nhau, tỏa một mùi thơm ngan ngát, quện vào với hương của các loài hoa dại làm xốn xang lòng người. Một cảm giác là lạ trào dâng trong lòng mẹ. Bằng trực giác, lòng mẹ nao nao, có lẽ nào, và có thể lắm chứ. Ở trong những cái lọ đang nằm trong lòng đất này, sẽ có một phần xương cốt những đứa con của mẹ.

Những đứa con, mà mẹ vẫn thường gặp chúng. Đứa nào cũng khỏe mạnh, phổng phao. Giống bố như đúc, đều nhanh nhẹn và có gan cóc tía. Thật là tội cho chúng nó, phải nằm hầm, nằm hố từ lúc mới lọt lòng. Lớn lên một tí là đã phải cùng với cha mẹ vừa chạy giặc, vừa đánh giặc. Đã có đứa nào kịp yêu đương, lấy vợ, lấy chồng đâu… Mẹ cứ nghĩ mà thương, mà thắt ruột, thắt gan. Lúc này chúng đang về cả ngay bên mẹ đây. Nhưng sao chả có đứa nào sà vào lòng mẹ, tranh nhau đòi bế như cái thuở chúng còn bé ấy. Chúng nó cứ đứng từ xa, nhìn mẹ đăm đắm bằng ánh mắt là lạ. Mẹ muốn ôm hết những đứa con của mẹ vào lòng nhưng chúng cứ lảng xa ra. Mẹ nháo nhào rượt đuổi nhưng đều hụt. Mẹ vừa khóc vừa gọi tên của từng đứa mà như là chẳng có đứa nào nghe được. Mẹ càng khóc, càng gào lên… cho đến lúc giật mình bừng tỉnh. Một bên gối đầm đìa nước mắt.

Mẹ ngồi bật dậy, lóng ngóng đốt đèn. Trên bàn thờ của ông ấy và các con của mẹ nhang vẫn đang cháy. Những đốm lửa nhỏ xíu sáng rực lên trong đêm lạnh. Bên ngoài gió khẽ thổi xào xạc. Lòng mẹ chộn rộn, mãi mới thắp được đèn.

Mẹ cầm cầm cây đèn dò soi lên ảnh từng người. Từ chồng đến con, vẫn là những gương mặt thân thương. Tất cả vẫn nhìn mẹ tha thiết vời vợi.

Mẹ Thục thẫn thờ đến một lúc lâu. Rồi mẹ đến bên bà Út Tám cùng nhổ những nhánh cỏ ở trên từng nấm mộ.

Từ đó, những ngày lễ, ngày tết, mẹ Thục đều cùng với bà Út Tám lên ngọn đồi chết. Và mẹ Thục lại đưa cả bà Út Tám lên nghĩa trang liệt sĩ. Hai tấm thân già khô lụi cụi bên những hàng mộ chí. Gió lộng thổi, những chiếc là khô lăn lóc vương vào chân những nén nhang gầy khẳng khiu ngơ ngác. Giữa không gian mênh mang đầy nắng gió, khói nhang lan tỏa gợi niềm thương nhớ khôn nguôi…

Cuộc sống cứ bình lặng trôi. Hai người gắn bó với nhau như hình với bóng.

Vào một ngày cuối năm, anh cán bộ của thôn đến nhà mẹ Thục. Sau khi nghe người cán bộ thôn trình bày xong ý kiến, mẹ Thục thủng thẳng:

- Tui không làm theo các ý của mấy chú như vậy được mô. Người cán bộ còn trẻ gãi đầu.

- Đây là ý kiến, là yêu cầu của Ủy ban…

- Ủy ban nào lại có cái ý kiến, cái yêu cầu thất đức như vậy? Mẹ Thục cướp lời.

- Trời! Sao mẹ lại nói như vậy. Đây là nguyên tắc.

- Cũng không thể có cái nguyên tắc vô đạo như thế được. Anh cán bộ biết không thể nào đấu lý được với mẹ, đành đứng dậy ra về.

Còn mẹ Thục thì ngồi thừ ra mà nghĩ ngợi… Kể ra thì cũng có ý phải. Chính quyền bỏ tiền ra xây nhà tình nghĩa là để cho mẹ ở, để làm nơi thờ cúng các liệt sĩ. Chứ còn để cho bà Út Tám ở trong ngôi nhà tình nghĩa này thì cũng có cái gì đó như là bất ổn ấy. Đã vậy, từ khi có được ngôi nhà khang trang, ở gian giữa mẹ lập bàn thờ Tổ quốc, có treo ảnh cụ Hồ. Gian bên phải là nơi mẹ thờ chồng cùng các con. Tấm bằng Tổ quốc ghi công của ông ấy mẹ treo ở trên, bên dưới là các con của mẹ được treo theo thứ tự một hàng ngang, từ thằng cả đến đứa út. Còn gian bên trái, mẹ dành cho bà Út Tám lập bàn thờ chồng và con.

Mẹ chỉ nghĩ một cách đơn thuần, chết là hết. Dẫu sao họ cũng là con người cả. Dù cho họ đã lầm đường lạc lối, nhưng xét cho cùng thì cũng chỉ tại cái bọn mắt xanh mũi lọ lạ hoắc lạ huơ kia, đến đây cướp nước mình, xúi bẩy người mình bắn giết lẫn nhau, gây nên cảnh huynh đệ tương tàn.

Ngay trong những năm tháng còn bắn nhau chí mạng, những khi bắt được tù binh, hay gặp địch bị thương, mình còn chạy chữa nuôi ăn tử tế nữa là. Từ xa xưa, cha ông mình vẫn vậy. Đánh thắng thù còn cấp cho gạo, cho ngựa, cho thuyền để mà về nước.

Mẹ cứ nghĩ vậy nên đã chẳng hẹp hòi gì với bà Út Tám, với các vong hồn của chồng, của con bà ấy. Hơn nữa, bà Út Tám rất chăm chú vào việc hương khói lên bàn thờ các liệt sĩ trong nhà mẹ. Một nắm nhang thơm, một bó hoa, những trái cây đầu mùa… rất đều đặn và thành kính. Thế nên mẹ Thục đã chẳng nề hà gì cái việc dành một nơi cho bà Út Tám tưởng nhớ đến chồng, đến con. Mẹ còn muốn những linh hồn ấy cũng được về đây để mà hưởng một chút hoa thơm quả ngọt. Để mà biết ăn năn, biết hối cải. Nếu có được đầu thai làm người lần nữa, thì chớ có dại gì mà đi theo giặc.

Từ ngày về sống với mẹ Thục, bà Út Tám đã bạo dạn, cởi mở với cuộc sống. Nỗi đau trong lòng bà ngày một nguôi ngoai. Để bà có thể sống chan hòa với mọi người. Cuộc sống hàng ngày của hai người chủ yếu là chỉ rau cỏ đạm bạc nhưng thật là ấm áp, chan chứa ân tình.

Thế mà bây giờ không cho bà Út Tám ở trong nhà của mẹ nữa thì mẹ nghĩ sao cho đành. Đến ngay cả những người còn trẻ, để có lấy miếng cơm manh áo còn phải bươn chải, phải đổ mồ hôi sôi nước mắt. Chứ nói chi đến người tuổi đã cao, sức đã yếu. Với mẹ còn có chế độ, còn có sổ này, sổ kia… Nhưng với thân phận của bà Út Tám, đã không có nhà cửa, tiền của, lại còn có sự ghẻ lạnh hắt hủi của một số người vẫn còn giữ thành kiến.

Không! Không thể đuổi bà Út Tám ra khỏi nhà được. Mẹ nhất định sẽ lên Ủy ban trình bày cho các chú ở trên xã, có thể lên tới huyện, tỉnh… để trên hiểu thấu được lòng của mẹ. Còn cái việc rời bàn thờ chồng, con của bà Út Tám ra khỏi ngôi nhà tình nghĩa này thì mẹ đã tính đến. Mẹ chủ tâm định bàn với bà Út Tám là sẽ làm riêng ra một nơi khác. Chắc bà Út Tám cũng sẽ đồng ý. Mẹ sẽ mời một nhà sư trên chùa về để làm lễ cầu siêu cho họ. Như vậy sẽ vẹn cả lý với tình.

Mẹ Thục chưa kịp đi thì bà Út Tám đã biết hết mọi việc. Tủi thân, bà Út Tám lặng lẽ khăn gói xin mẹ Thục ra đi. Nhưng mẹ Thục nhất quyết giữ bà Út Tám ở lại.

***

 

Mặt trời từ từ lặn rồi chìm hẳn xuống. Hoàng hôn buông tím ngắt chân trời. Nền trời từ màu xanh lam dần dần chuyển sang một màu đen huyền bí, loáng thoáng xuất hiện vài ngôi sao, những cánh chim mải miết tìm về tổ.

Khi hai người ngẩng lên thì bóng tối đã ập xuống, nhập nhòa lan chiếm khắp không gian. Trầm lặng và yên ắng kéo dài tưởng như vô tận. Cả hai người vừa như cùng bước qua một cơn ác mộng đằng đẵng bám theo đến gần hết một kiếp người. Một kiếp trần ai với những ngày tháng nối nhau mà khi sống thực thì lại cứ như là sống trong mộng. Đến lúc nằm mộng thì mới lại ý thức được là mình vẫn còn đang sống… Cho đến tận ngày hôm nay, cả hai người vẫn còn ngỡ ngàng, ngơ ngác. Tất cả những gì là của ngày qua thì đã lùi vào xa lắc. Những mất mát… cái vết thương cứ tưởng như đã lành. Mà sao đôi lúc vẫn còn bật ra máu tươi. Hơn bao giờ hết, lúc này đây, mẹ Trần Thị Thục tin rằng mình vẫn minh mẫn, vẫn sáng suốt. Như cả cuộc đời của mẹ luôn chỉ biết làm những điều đúng, những điều tốt lành nhất cho cuộc đời. Bà Út Tám dựa hẳn vào mẹ, trong lòng bà ùa về một niềm tin ấm áp đến lạ.

Từ phía xa, bỗng bừng lên một quầng sáng. Có tới hàng ngàn con đom đóm với muôn vàn giọt lân tinh sáng lạnh bay vần vũ trong đêm tối. Cả hai người bàng hoàng trước một cảnh lạ. Như là có một trò chơi kinh dị đang diễn ra trên đỉnh đồi chết. Phải chăng có sự hiển linh với bao nhiêu là âm hồn đang tham dự. Nào là gương mặt của những người cha, người chồng, người con… Nào là những thân hỉnh tả tơi, những cẳng tay, cẳng chân, đầu mình… dáo dác tìm nhau trong nhạt nhòa sương khói, trong những âm thanh hỗn độn với tiếng gọi, tiếng kêu, tiếng gào thét man dại… lẫn trong tiếng bom gầm đạn xé. Lúc ẩn đi, lúc lại hiển hiện lên những con người lành lặn, khỏe mạnh đang nắm tay nhau hân hoan, ngạo nghễ cười…

Hình như có một sức mạnh vô thường nào đó đang len vào từng đường gân thớ thịt của hai người. Mẹ Thục và bà Út Tám đứng lên, cùng nắm chặt lấy tay nhau như muốn truyền cho nhau sức sống. Biết rằng chẳng còn được là bao nhưng vẫn cứ cố níu giữ. Để mà giữ lấy cái tình người muôn thuở. Bóng của hai người in lừng lững lên nền trời thăm thẳm với muôn vàn ngôi sao li ti, nhấp nháy liên hồi.

 

Thành Cổ Quảng Trị tháng 6.2004

Bắc Ninh tháng 10/2004

Đ.C.T

Đỗ Công Tiềm
Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 125 tháng 02/2005

Mới nhất

Thông báo về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí

13/04/2026 lúc 22:15

THÔNG BÁO Về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí Kính gửi quý bạn đọc,

31/07/2025 lúc 15:23

Tạp chí Cửa Việt - 35 năm một chặng đường

28/06/2025 lúc 16:18

Ngày 28/5/2025, Tạp chí Cửa Việt tổ chức lễ kỷ niệm 35 năm tạp chí ra số đầu tiên và gặp mặt cộng tác viên năm 2025. Tại buổi lễ, Phó Tổng biên tập phụ trách Hồ Thanh Thọ đã có bài phát biểu khai mạc...

Vùng trời hoa sim

26/06/2025 lúc 23:29

Những triền sim tím đồi xaBềnh bồng nâng gót mùa qua lặng thầm

Hương xưa; Nắng sớm

26/06/2025 lúc 23:27

Hương xưa… Ta về tìm lại hương xưa

Tạp chí số cũ
Câu chuyện du lịch
tư tưởng Hồ Chí Minh

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

16/04

25° - 27°

Mưa

17/04

24° - 26°

Mưa

18/04

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground