|
T |
ôi gặp em trên bến phà Xuân Sơn. Em là đội viên đội thanh niên xung phong 15 Thanh Hóa vừa được biệt phái sang quân đội thuộc binh trạm 14 anh hùng. Đội thanh niên xung phong của em được trao nhiệm vụ bảo đảm giao thông trên quốc lộ 15 dài chừng sáu mươi cây số, từ phà Xuân Sơn đến phà Long Đại (Quảng Bình). Phà Xuân Sơn là cửa ngõ của tuyến đường chi viện cho Tây Nguyên, Liên khu V, khu VI, Nam Bộ, Trung và Hạ Lào. Phà Long Đại là cửa ngõ của tuyến đường 10 và 16 chi viện cho các tỉnh từ đèo Hải Vân đổ ra. Đây là những tuyến vượt khẩu mang tính chất sống còn của chiến trường, đặc biệt là phà Xuân Sơn. Hầu như mọi người lính vào chiến trường đều phải qua đây. Vậy mà mãi sau này tôi mới biết vì sao em cứ nằng nặc xin được ở trọng điểm này.
Năm ấy tôi hai mươi tuổi, đã có hai tuổi quân, đã chiến đấu ở Thượng Lào rồi được về trường sĩ quan lục quân Sơn Tây học một năm. Do yêu cầu của chiến trường, trường Lục Quân đã rút từ ba năm xuống một năm. Khi ra trường, ai chưa qua chiến đấu được đeo lon chuẩn úy, ai đã qua chiến đấu được phong thiếu úy trở lên. Khi vào trường tôi là thượng sĩ. Ra trường được bớt hai sao thêm một gạch và được điều vào công tác tại đoàn thanh niên xung phong 15 thuộc BT14 này (Binh trạm 14).
Lúc đầu tôi cứ ngỡ em là người xứ Thanh, vì đội thanh niên xung phong 15 là của Thanh Hóa. Sau mới biết em người Thái Bình, đồng hương với tôi. Cùng đồng hương với chúng tôi còn có anh Lưu Minh, đội phó đội thanh niên xung phong 15 cùng vài anh nữa. Nhưng các anh đều ở xa, ít khi gặp nhau. Chỉ có tôi và em hoạt động trên bến phà Xuân Sơn, ngày nào cũng bên nhau. Tôi hơn em ba tuổi. Tuy ở cái tuổi "gái mười bảy bẻ gãy sừng bò", nhưng trông em mảnh mai và hơi lả lướt. Em có nét buồn vừa mênh mang vừa thăm thẳm và vừa quê quê. Đôi môi lúc nào cũng mọng đỏ cùng cái răng duyên và cái lúm đồng tiền trên má đã đổ bùa cho bao chàng trai qua bến Xuân Sơn này.
Tôi cũng không rõ tôi đã ăn phải bùa của em từ lúc nào. Có nhiều đêm chúng tôi được làm "cọc tiêu sống" cho xe vượt ngầm Bùng, tôi cứ muốn đứng mãi bên em. Những đêm không được đứng làm cọc tiêu tôi cứ thấy sao sao ấy. Nhiều đêm không ngủ được, tôi dậy đi thơ thẩn trong cứ nghe tiếng pháo từ phía Do Linh dội về, tiếng bom từ dốc Ba Thang dội đến trong lòng rộn nên nỗi buồn buồn. Tự nhiên lại ước chi có tiếng súng báo hiệu có xe vượt ngầm để được ra nắm tay em. Nỗi mong đợi ấy cứ triền miên ngày qua ngày nên chả bao giờ để tâm đến sự ác liệt tại nơi đây. Cũng với tâm trạng ấy nên chả mấy chốc đã hết năm 1968. Nhưng với em, em lại tìm đủ mọi cách để tránh xa tôi. Nơi xuống và lên phà Xuân Sơn là đường độc đạo. Một bên vách núi dựng đứng, một bên vực sâu thăm thẳm. Địch dùng đủ các loại bom; bom nổ ngay, nổ chậm, bom bi, bom vướng, bom từ trường...dội xuống mặt đường và tên lửa phôn-pớt phóng vào ta-luy để đá lăn xuống lấp đường, lấp hầm. Chúng đánh phá suốt ngày đêm. Không ngày nào không có thương vong. Nhưng quái lạ, sự hy sinh của đồng đội lúc ấy chỉ là nỗi buồn thoáng qua. Vì ngay khi đồng đội hy sinh, chúng tôi đã phải nhảy ra mặt đường, tâm trí để cả vào việc đánh mìn cho đá tung khỏi mặt đường lăn xuống vực hoặc hố bom. Mau chóng giải phóng mặt đường với cả những gì của cơ thể còn lại. Mồm mũi tranh nhau thở. Một lần em dùng hết sức mình ẩy được tảng đá xuống vực thì nằm lăn ra mặt đường thiếp đi. Anh lái phải phanh "đánh kít" cho xe dừng lại rồi xồ xuống bế em tựa vào ta-luy để "giải phóng" mặt đường lần thứ hai cho xe qua. Trong chúng tôi đã có cậu mượn tứ thơ của Tố Hữu nói về anh Trỗi làm tặng em hai câu thơ "con cóc" thế này:
Em còn sống hay em đã chết
Hỡi người em đẩy đá kia ơi!
Chúng tôi cười ré lên. Em đuổi đấm thùm thụp. Một điều hết sức lạ ở nơi trọng điểm này trong những ngày này, chả bao giờ chúng tôi thấy ác liệt cả. Nhưng những ngày tạm ngừng bắn. Tết năm ấy lại thấy rờn rợn. Bất giác tôi nghĩ đến chuyện mẹ kể cho nghe ngày nào. Mẹ bảo những ngày phải van đây lạy đó cho chúng tôi bữa đói, bữa no thì chả nghĩ ngợi gì. Đến lúc ấm áo no cơm nghĩ lại mới thấy nhục. Thì ra, trong lúc ta lớn lên ta chẳng biết. Trưa mồng một tết Kỷ Dậu ấy, anh Lưu Minh lại chơi. Đã từ lâu tôi và em mến anh như người anh cả hơn là người thủ trưởng của mình. Sau khi đơn vị mới ăn tết và chúc tụng nhân dịp năm mới, anh và hai chúng tôi ra khu rừng bên bờ sông vắng. Tôi sờ sợ, một cái sợ kỳ kỳ. Nỗi sợ ấy không giống như khi mình không hoàn thành nhiệm vụ, cũng không giống như hồi còn nhỏ nghịch ngợm bị cha xách tai bạt má, mà là cái sợ vương vướng của nỗi niềm riêng tư tôi dành cho em và chỉ có em thôi. Tôi đi theo anh mà như đi vào nơi xa lắc xa lơ. Tới bờ sông Son, mùa này nước sông trong xanh ngắt. Hai khối núi hai bờ đứng sừng sững như bao tháng ngày mà hôm nay như có hồn đang trông tôi soi mói. Anh cầm bao Tam Đảo rút một điếu rồi đưa cả cho tôi. Anh lại móc túi kia lấy ra gói kẹo bạc hà đưa cho em. Chúng tôi cùng ngồi xuống phiến đá dài, lơ đãng nhìn dòng sông lơ lững chảy... Mẩu thuốc trên tay anh đã tắt ngấm từ lâu mà anh vẫn bập bờ. Chắc em cũng bồn chồn như tôi. Lúc lâu anh mới lên tiếng, tiếng anh trầm như nói với dòng sông:
- Thu và Dịu này - chúng tôi cùng "dạ" - mình biết các cậu mến nhau lâu rồi. Các cậu cứ coi mình như anh cả trong gia đình. Ở nơi trọng điểm này, cái sống và cái chết chỉ cách nhau một sợi dây. Các cậu không hề sợ nó. Nhưng các cậu còn trẻ quá, nhất là Dịu. Tết này Dịu mới mười tám. Đúng không? - "Dạ" - Các cậu ở trọng điểm này cả một năm cũng tạm đủ rồi. Mình là đồng hương với các cậu, là anh cả, lại là người chỉ huy. Mình thấy mình cần phải có cái gì cao hơn trách nhiệm, thiêng liêng hơn (có tiếng khóc thút thít của Dịu) nên mình muốn chuyển các cậu tới Tổng kho A của BT14. Hôm qua anh Hoàng Trá, binh trạm trưởng BT14 bảo mình cử cho mười đồng chí về bổ sung cho Tổng kho A. Các cậu về đấy đỡ ác liệt hơn rồi dần dà sẽ...
Dịu càng khóc già. Tôi cứ ngỡ đó là nước mắt của vui mừng. Nhưng khi anh Minh đứng lên và bảo "cứ thế nhé" thì Dịu nấc lên. Tôi và anh đều ớ ra. Anh Minh đưa mắt qua tôi, ý chừng bảo tôi hãy đi khuất để Dịu tiện nói niềm riêng tư của mình.
- Nào! Thu có gì không phải với em?
Dịu lau nước mắt:
- Dạ không. Nhưng các anh chả hiểu gì về em cả. Em thất vọng một năm mà chả anh nào động viên lấy một câu...
- Nhưng động viên cái gì chớ?
- Em không biết. Nhưng đúng là anh không hiểu rồi. Có ai bắt em phải ở cái trọng điểm này đâu. Nhưng em vẫn ở. Ở để đón anh ấy vào!
Anh Minh ngỡ ngàng. Bao câu hỏi cứ chập chờn đến với anh: "Anh ấy là anh nào? Vậy Thu không phải là người yêu của Dịu hay sao? Nhưng rồi, với năm tháng ở chiến trường. Năm tháng ở cương vị chỉ huy và năm tháng phải giải quyết những tình cảm bồng bột, uốn éo, thơ ngây và cả đành hanh của con gái, anh đã hiểu một phần về Dịu. Anh bảo:
- À à. Bây giờ thì anh biết rồi. Vậy chú ấy ở đơn vị nào? Có gần đây không?
- Em cũng không rõ. Ngày em vào đây anh ấy còn huấn luyện ở Hà Bắc. Chắc chắn anh ấy sẽ đi B. Em nghe nói ai đi B cũng phải qua bến Xuân Sơn này nên em vào đây để chờ ngày chúng em gặp nhau...
- Trời đất!
Thì ra, em ở trọng điểm này là vậy. Tôi bàng hoàng. Một cú sốc quá đột ngột.
Tôi nằm liệt mấy ngày, người sọm hẳn đi. Sự việc đã hiển nhiên như vậy mà tôi cứ cho là không phải, cho đó là sự hoảng loạn của mình. Hình bóng em cứ lởn vởn trong tôi. Tôi không thể mất em được. Nếu không có em những ngày còn lại của cuộc đời sẽ nhạt thếch. Ôi! Chả lẽ mối tình đầu lại là mối tình một phía được sao? Nhưng chao ôi! Đó là sự thật. Ai sẽ là người giải bùa cho tôi đây? Sự thật rồi mà hình bóng em vẫn cứ ám ảnh quanh tôi. Có lúc tôi thấy mình cao vời vợi và tự thấy trách nhiệm của người anh phải bảo vệ hạnh phúc cho em. Một lần tôi tò mò hỏi:
- Vậy các em tổ chức được bao lâu rồi?
- Chưa anh ạ. Chuyện của chúng em thật là kỳ. Để em đầu cuối anh nghe. Em ở làng Đăng - làng Đăng thì anh biết. Anh có bà cô lấy chồng ở làng ấy. - Vâng. Em biết cô anh rồi. Năm kia anh về thăm cô, em có trông thấy. Như anh biết đấy, gái làng em toàn xe tơ dệt lụa nên ít khi lấy chồng thiên hạ. Anh của em là Tiêm, Ngô Văn Tiêm, người cùng làng, nhưng anh ấy lại không biết tên em...
- Sao? Vậy ở làng em không phải là Dịu, Lê Dịu Dịu à? Tên em đẹp và mộng mơ thật đấy, giống như tên một cô gái người Hoa.
- Thôi đi anh. Mà xấu hổ lắm. Chả kể cho anh nghe nữa đâu.
Chuyện còn đang dang dở, hy vọng lần khác em sẽ kể cho nghe thì ngay đêm ấy tôi và em phải tới núi U Bò nơi đóng quân của phân ban B để nhận bộc phá. Núi U Bò nằm ở Km 31 đường 20 A, cách chúng tôi chừng bốn mươi cây số. Anh Minh bảo chúng tôi phải đi trong một đêm, ngày hôm sau nghỉ cho lại sức để đêm sau về. Nhưng tới dốc Ba Thang thì dính bom tọa độ. Một quả hất em xuống chân dốc. Tôi vội lao xuống ôm em vào lòng. Sờ khắp người không thấy máu, tôi mừng quýnh gọi tên em. Trông mê sảng em không nhận ra tôi mà cứ gọi là anh Tiêm. Sao lúc đó tôi ngu đần thế, tôi cứ nựng em: "Em ơi! Dịu ơi! Anh là Tiêm của em đây! Tiêm của em đây!". Thế là em dồn hết sức còn lại ghì chặt cổ tôi và hôn tôi như điên như dại. Tôi bàng hoàng, rừng núi quay quay. Một cái gì rất lạ, chưa hề thấy bao giờ đang chảy trong tôi. Tôi như nửa đón nhận nửa từ chối cái nóng hừng hực của ngưòi con gái chảy qua môi em truyền sang tôi. Tôi cứ bàng hoàng như vậy cho tới lúc em lạnh dần, tay rã rời, môi nhàn nhạt rồi em thì thầm nghe xa vời vợi: "Anh Tiêm ơi! Đưa em về làng Đăng anh nhé!". Tôi lặng đi. Thật không sao tin được. Pháo sáng địch nổ bùm bụp trên không. Dốc Ba Thang chảy trong sương đêm mờ mờ ảo ảo. Tôi không khóc mà nước mắt dàn dụa trên má em. Cứ thế, tôi bế em suốt đêm. Đôi chim quy gọi nhau mỗi lúc một gần rồi ánh ngày rõ dần, rõ dần. Có tiếng máy bay từ phía Đông Hà, tôi bế em vào hang. Đặt em nằm hướng về phía bắc rồi hì hục vác đá xếp mộ cho em. Ở nơi sâu hun hút trong hang này, chắc chắn em sẽ không bị bom một lần nào nữa. Sau này, nếu tôi còn sống tôi sẽ đi tìm anh Tiêm cho em để Tiêm đưa em về làng Đăng với mẹ. Tôi cho rằng mối tình giữa em và Tiêm thơ mộng lắm. Nghĩ vậy, tôi càng trân trọng tình cảm của em...
Sau đó ít ngày, tôi xin anh Minh cho về công tác tại một đơn vị ở suối Chà Ang - Km 12 đường 20A - cách nơi em nằm chừng vài cây số. Những lúc rảnh tôi lại tới ngồi với em trong mung lung vời vợi. Hình ảnh mối tình đầu; mối tình một phía cứ đeo đuổi tôi hoài. Tôi ân hận mãi về cái hôn nồng cháy của em dành cho Tiêm mà lại trên môi tôi. Lỗi lầm của tôi đối với một đời con gái là lớn lắm, không gì chuộc lại được. Từ đó tôi đâm liều. Chỗ nào ác liệt nhất là tôi xông vào. Chỉ có sự hy sinh mới chuộc được lỗi lầm với em. Nhưng số phận thật trớ trêu, cuối năm ấy tôi không chết mà chỉ bị thương cụt mất một cánh tay.
Sau ngày em hy sinh, tôi thưa với anh Minh cho tôi được giữ những kỷ vật của em để sau này chuyển tới anh Tiêm. Chắc anh Minh thấy nguyện vọng ấy không chỉ là tình cảm của đồng hương mà còn là những gì thiêng liêng nhất nên anh đồng ý. Anh Minh cùng tôi và đồng chí trung đội trưởng thanh niên xung phong phụ trách phà Xuân Sơn lập biên bản bàn giao kỷ vật của em cho tôi. Ngoài mấy bộ quần áo thông thường của con gái, chỉ có hai chiếc phong bì là đáng giá. Một chiếc là thư gửi cho Nguyễn Thị Xuân nào đó ở làng Đăng. Một chiếc gửi cho người yêu của em là Ngô Văn Tiêm, trong phong bì này duy nhất chỉ có chùm tóc thề ghi hai câu lẩy Kiều rằng:
Tóc thề em cắt ngang vai
Gọi là tạ lỗi với người tình chung!
Anh Minh "Chà chà! Con gái đến là khó hiểu". Mà khó hiểu thật đấy. Tại sao không cắt tóc thề để tặng mà lại là tạ lỗi với người yêu? Tôi chép miệng định cho qua. Nhưng không sao qua được; mối tình của em và Tiêm cứ vương vấn tôi hoài.
Sau một năm điều trị lành vết thương, tôi trở về làng Đăng trao kỷ vật của em cho gia đình và tới thăm cô tôi. Tôi thưa với cô mình những điều băn khoăn về em. Cô tôi lặng đi không nói một lời và đêm nào cũng khóc thút thít. Mấy ngày sau, chắc cô đoán được tình cảm sâu nặng của tôi với em, cô mới nói cho nghe. Vào một đêm mưa dầm dề, cô bảo:
- Rõ khổ. Bà Giáo (mẹ em) sinh tới lần thứ năm mà chỉ toàn "đực rựa", bà mới lần mò vào tận chùa Hương cầu xin một bé gái. Đúng là ông giời cũng có mắt, năm sau bà sinh bé gái thật, đặt tên là Hĩm cho dễ nuôi. Cái Hĩm chưa hết cữ, bà đã to nhỏ với cô mấy câu, nhờ cô nhặt hộ. Bà Giáo vứt nó ở chợ Dành, cô nhặt về nuôi lấy họ dượng mày đặt cho nó là Lê Dịu Dịu. Hai tháng sau, bà Giáo xin nó về làm "con nuôi giả vờ". Nó xinh nhất làng này, nhưng nghịch như quỷ. Năm ấy, thằng Tiêm đi bộ đội về chết mê chết mệt, nhưng hắn rát gái như thỏ đế. Được cái thằng này cũng con nhà tử tế. Hồi tháng ba năm Ất Dậu, bố mẹ nó đưa cả gia đình lên Phú Thọ nên khi về làng nó chả biết ai vào ai và cũng rất ít người biết nó. Năm nó về làng ăn mặc oách lắm. Đi giày đen, áo bốn túi, một bên xắc cốt, một bên súng lục và có cả máy chớp hình. Gái làng ối đứa mê mệt, nhưng nó chỉ để mắt tới cái Dịu. Cái Dịu suốt ngày ở nhà cô, nuốt khỏi cổ là nó chạy sang đây. Nó vẫn gọi cô là mẹ nên anh chàng cũng ngỡ nó con cô. Con Dịu có đứa bạn gái cùng tuổi thân nhau tới mức con chấy cắn đôi, tên là Xuân - (À, thì ra lá thư viết cho Nguyễn Thị Xuân là Xuân này đây) - Một hôm thằng Tiêm lại chào cô để đi trả phép. Lúc ấy cô đang thổi cơm dưới bếp. Cái Dịu đang quay tơ ở nhà trên. Hai đứa hỏi qua đáp lại:
- Tên em là gì?
Con quỷ ấy lại bảo:
- Em là Xuân.
Tưởng chuyện qua đi. Mãi làm ăn cô không cho vào bụng. Ngờ đâu cuối tháng ấy, ông chú bà cô nhà thằng Tiêm mang trầu cau đến hỏi cái Xuân cho nó. Mà cái Xuân là con bé có tật nguyền, chân đi thập thễnh. Hai tháng sau cái Dịu bỏ nhà ra đi. Nghe đâu nó vào với cô ruột ở Thanh Hóa. Cô cứ đinh ninh là nó thất tình. Ngờ đâu cuối năm thằng Tiêm về cưới vợ thì cái Xuân không phải là người nó yêu. Thế có chết không! Thì ra khi thằng Tiêm hỏi cái Dịu: "Em tên gì?". Con quỷ này lại bảo: "Em là Xuân". Lợn gà, cau trầu, thuốc lá cô chú thằng Tiêm mua về đành bán tống bán táng đi hết.
Điều đó cũng chả sao. Nhưng cả làng này đều bảo thằng Tiêm là thằng đểu; chắc nó đã gì gì với cái Xuân. Bịt miệng chum, miệng vại, ai bịt được miệng người. Thế là cái Xuân oan uổng phải lấy bác gẫy gánh giữa đường bên làng Thọ. Bây giờ cái Dịu không còn, ai thanh minh cho cái Xuân đây! Cô biết ngay mà, trai cầu tự không sao, chứ gái cầu tự thì không tật nọ cũng chứng kia. Mấy năm nay cô chỉ mong nó về tạt cho nó mấy cái. Nhưng giời ơi! Cô không tạt được nó nữa rồi. Cô tôi lại khóc hu hu. Không biết cô thương em Dịu hay khóc cho Xuân. Chắc là cả hai.
Tôi hỏi ông chú bà cô nhà anh Tiêm, họ bảo anh đi chiến đấu ở Nam Bộ ngay ngày đó chẳng biết cấp chức thế nào mà vài năm gia đình lại được tăng trợ cấp. Nghe đâu anh là trung đoàn trưởng của một sư đoàn hoạt động ở miền tây Nam Bộ.
Tôi tạm biệt cô mình về quê. Bạn bè thời chăn trâu, thả diều nay hầu như vào hết chiến trường. Cuộc đời trống rỗng thật sự. Trước đây còn một vài kỷ vật của em, khi buồn buồn lại giở ra xem, nay trắng tay cả kỷ vật lẫn tâm hồn. Tôi phờ phạc, đi lên Hà Nội vào trạm sáu sáu (T66) chờ giải quyết chính sách. Tháng sau nhận được hai quyết định cùng một lúc. Một được thăng vượt cấp, từ thiếu úy lên thượng úy. Một quyết định được đi ôn văn hóa thi đại học. Mấy cậu nằm cùng nhà với tôi vỗ tay đôm đốp:
- Khao đi! Khao đi!
Tôi giận cá chém thớt:
- Khao! Khao cái con khỉ!
Chúng nó ớ ra. Buồn quá. Tôi lấy bài vở làm vui. Thi đại học thừa ba điểm, cộng hai điểm ưu tiên. Thế là được đi du học ở Bungari. Tại Xô-phia-a tôi theo học hóa hữu cơ ở trường tổng hợp Đi-mi-tờ-rốp. Sau năm năm nhận bằng đỏ. Khi ấy đất nước đã thanh bình. Nhà trường cho tôi ở lại tiếp tục học phó tiến sĩ. Nhưng em còn nằm ở hốc núi, tôi còn lòng nào ngồi yên mà học.
Việc đầu tiên khi về nước là tôi đã tìm Tiêm. Tới làng Đăng, cô tôi bảo chưa thấy Tiêm về nhưng gia đình có nhận được thư của anh từ Rạch Giá ra. Tôi mừng quýnh lên, thế là Tiêm còn sống!
Tôi tới gia đình bà Giáo xin lại phong thư có tóc thề để đem vào cho Tiêm, chắc Tiêm sẽ mừng lắm. Sau đó tôi sẽ cùng Tiêm đến dốc Ba Thang đưa em về quê. Chắc sự vui mừng của tôi lộ ra mặt, làm cô vui lây. Nhưng cô tôi lại nghĩ tôi vui vì chuyện khác, cô bảo: "Đấy, gái làng này khối ra đấy, ưng đứa nào cô hỏi cho để cô cháu tao qua lại. Nó về quê ngoại được gặp cô, cô về quê ngoại được gặp nó". Chắc mặt tôi xị xuống nên cô mắng: "Cha tiên tật nhà mày, hay là bị con đầm nào lấy mất hồn. Bà bảo cho mà hay tổ tiên nhà này không có chỗ cho đầm ngồi đâu nhá!".Tôi buông thỏng câu:
- Cháu không lấy vợ!
- Cái gì! - Cô té tát cho một mẻ.
Tôi lại thất thểu ra về và ngay ngày hôm sau lên ô tô vào miền tây Nam Bộ. Trong ba lô của tôi chỉ có vật quý nhất là mớ tóc thề của em. Tôi giữ khư khư như thầy giữ ấn. Vì thư của Tiêm gửi cho gia đình không ghi rõ đơn vị nào nên không sao tìm được. Một mình ngồi trên bờ biển Hà Tiên, nước xanh ngăn ngắt, tôi lại nghĩ tới năm tháng đã cùng em ở bến phà Xuân Sơn. Tôi khe khẽ đọc câu kỷ niệm của lính năm nào:
Quảng Bình có động Phong Nha
Có đèo Đá Đẻo có phà Xuân Sơn.
Thế là bao kỷ niệm những năm tháng ở cửa khẩu chi viện cho chiến trường, năm tháng bên em lại ùa về trong tôi, tiếp thêm sức mạnh cho tôi đi tìm anh Tiêm. Chà! Tôi mụ mẫm mất rồi, cứ về cục cán bộ của quân khu 9 là ra hết. Thế là tôi nhảy xe đò về Cần Thơ. Biết tôi cũng là sĩ quan, lại là thương binh, các đồng chí trong quân khu tạo mọi điều kiện tìm anh cho tôi. Nhưng hiện tại, các đơn vị thuộc quân khu không có ai như anh. May sao, một hôm có đồng chí ở cục cán bộ của quân đoàn bốn về làm việc với quân khu. Đồng chí ấy bảo tại sư bảy của quân đoàn có đồng chí trung đoàn trưởng tên là Tiêm, quê Thái Bình. Tôi mừng suýt nữa quên không chào tạm biệt quân khu. Vội về Tây Ninh là nơi đóng quân của sư bảy. Tới Tây Ninh, cả sư đoàn đang đi chiến dịch bốn bảy chín (479). Tôi lại ngán ngẫm về Hà Nội.
Bộ Đại học điều tôi về giảng dạy ở trường đại học Bách khoa. Hai năm đầu làm phụ giảng nên suốt tháng chỉ rong chơi. Một hôm về quê, cô tôi nhắn sang ngay, có việc. Tôi đoán, chắc cô lại bàn chuyện vợ con đây. Tuy vậy, tôi vẫn sang, vừa đặt chân tới, cô tôi òa khóc: " Con ơi! Dịu ơi! Khổ thân con. Con chết mà vong hồn chẳng được yên. Người ta có yêu con đâu mà con lại vào nơi mũi tên hòn đạn để chết oan uổng thế này!". Tuy chưa rõ ngô khoai nhưng nước mắt tôi cũng rỏ tong tong theo tiếng khóc sầu não của cô mình. Hỏi thế nào cô tôi cũng chỉ khóc. Mãi sau tôi mới biết, thì ra Tiêm cho em là người chế diễu mình, gán cho mình đứa què tập tễnh rồi uất lên chẳng những anh bỏ Xuân mà không thèm tìm hiểu việc bỏ nhà ra đi của Dịu. Trời! Thật là trớ trêu! Một sự hiểu lầm quá đắt. Hôm ấy đang là mùa đông. Tiêm chững chạc trong bộ quần áo dạ với quân hàm đại tá cùng vợ là sinh viên Sài Gòn. Tự nhiên tôi lại thấy may cho em. Giá em còn em sẽ không sống nỗi với nghịch cảnh này. Không biết do tự ái thay cho em hay vì ghen gió, tôi không thèm chào Tiêm một câu. Ngay lúc đó, tôi nhảy xe khách về Hà Nội gặp anh Minh. Anh Minh điên lên: "Đồ đểu!". Rồi cùng tôi vào dốc Ba Thang đưa em về nghĩa trang làng Đăng như em đã trăng trối năm nào. Chỉ có khác, ngày ấy em dặn Tiêm, còn bây giờ lại là hai người đồng đội của em. Chắc ở nơi mây vần hạc lội em cũng hiểu chúng tôi. Từ ấy tới nay đã gần hai chục năm. Tôi đã lấy vợ. Vợ tôi cũng là một cô thanh niên xung phong của đội mười lăm, người Hoàng Hóa, xứ Thanh và cũng có một thời ở với Dịu. Tên cô ấy là Thanh. Thanh hiểu được tình cảm của tôi với Dịu nhưng cô ta cứ buồn sao sao ấy. Một phần vì mỗi lần hôn Thanh tôi lại nghĩ đến cái hôn đầu đời vào năm tháng ấy và đặc biệt hơn, không rõ vì sao, đứa con gái đầu lòng của chúng tôi lại có cái lúm đồng tiền bên má phải y như của Dịu ngày nào. Tôi biết tình yêu của tôi với Thanh chỉ là tình yêu một phía! Nhưng đó là lỗi của trái tim, tôi cũng đành phải chịu. Tình yêu của tôi và Thanh cứ nhạt dần theo năm tháng, thay vào đó là những tiếng thở dài não ruột mỗi đêm. Vợ chồng Tiêm cũng chẳng có con cái gì. Cô tôi bảo tình trong thằng Tiêm đã vón thành khối. Phải lấy tóc thề kia hóa thành tro pha nước uống cho nó tan ra thì mới có con được. Tôi đem chuyện ấy kể với anh Minh, anh mắng tôi là đồ vớ vẩn, toàn nói những chuyện huyền thoại đâu đâu. Tôi chống chế:
- Thì mấy ông nhà văn chả bảo cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc là huyền thoại đó sao? Vậy nếu không có những con người với những việc làm huyền thoại thì làm sao có cuộc kháng chiến huyền thoại này?
Anh cắn môi, mơ màng, gật gật:
- Ừ. Nhưng mà khổ cho cái thân. Mà cậu cũng nên trả tóc thề của cái Dịu cho thằng Tiêm, giữ mãi làm gì?...
K.V




