Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 15/04/2026 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Tù binh mặt trận

C

òn hai hôm đến ngày kỉ niệm giải phóng miền Nam, tôi sực nhớ cần thay một lá cờ Tổ quốc mới đẻ treo tại nhà nhưng chưa biết tìm mua ở đâu. Tôi hỏi một người bạn cùng phố và được ông chỉ: “ Đằng ấy, xuống đầu đường cách mạng tháng Tám, Quận một, cờ nhiều tha hồ mà chọn”. Thật không ngờ, quanh vòng quay “ Phù Đổng” người ta bày bán cơ man cờ là cờ, trong tiệm, ngoài hè phố, đủ loại. Tôi xuống xe dắt bộ, đi một đoạn dài và mải mê ngắm nên chưa biết chọn cái nào, chợt nge có tiếng người gọi : “Cán bộ, Cán bộ”. Thoạt đầu, tôi nghĩ như một sự tình cờ, vu vơ. Tôi tiếp tục bước, nhưng không, tiếng người ấy vẫn gọi, lần này giọng vừa nhanh, vừa da diết: “ Cán bộ, Cán bộ ”. Bây giờ cái cảm giác đó không thể chối bỏ được, buộc tôi phải quay đầu lại. Một người đàn ông gần năm chục tuổi từ trong tiệm bán cờ đang vội vàng bước về phía tôi. Anh ta thuộc típ người bình dị pha chút thời thượng, không mập, không gầy, để hàng ria đen ngồ ngộ kiểu nghệ sĩ miệt vườn. Khi cách tôi chừng hai mét, người đàn ông hơi cúi xuống, rồi ngẩng lên nhìn thẳng vào mắt tôi vẻ tự tin, nói: “ Cán bộ còn nhớ em không?”. Câu hỏi của anh làm tôi bối rối. Tôi cố nhớ, bao nhiêu khuôn mặt thoắt ẩn, thoắt hiện lướt qua trong đầu “Ai nhỉ”? Tôi tự hỏi, nhưng cũng phải tự thú với anh ta “Chịu”. Không ngờ câu trả lời của tôi làm anh rưng rưng nước mắt. Lúc sau giọng anh buồn buồn “Anh quên là phải, lâu lắm rồi. Em lính quân lực Việt Nam cộng hoà đây, ở mặt trận Tây Quảng Trị, vùng chiến thuật một”. Tôi lặng đi một hồi lâu, rồi cũng đã nhớ. Chính cậu ta. Thật kỳ lạ, hơn ba chục năm có ít gì đâu”.

* * *

Cuối năm 1973, đại đội tôi đang đóng quân ở đầu nguồn suối Riên, trong khu rừng rậm Thảo Sơn. Suối Riên rộng gần mười hai mét, nước trong và sâu chỉ ngang đầu gối. Buổi trưa ngồi bên bờ suối, tôi thích ngắm đàn cá đá đầu to, dài như ngón tay trỏ, bơi lừ lừ như một đoàn tàu bé tí, điều đó làm tôi thích thú. Một đêm, vào lúc ba giờ sáng, bỗng có lệnh hành quân gấp. Đơn vị nhằm hướng đông đi hai ngày, hai đêm rồi dừng nghỉ một ngày để cấp trên quán triệt nhiệm vụ. Cái nhiệm vụ “đặc biệt” đó khiến chúng tôi phải đi thần tốc chính là Hiệp định Paris vừa được kí kết bốn bên tại thủ đô nước Pháp và có hiệu lực ngừng bắn ngay tại chỗ. Trong buổi nói chuyện, chính trị viên Trần Hảo nói: “Chúng ta phải đấu tranh với địch, giữ vững chủ quyền ranh giới hiện thời. Kiên quyết không cho địch lấn đất, giành dân”. Rất ấn tượng, giọng ông hào khí như ngấm vào da thịt mọi người. Sau cuộc họp gần như bị xé vụn thành nhiều nhóm, mỗi nhóm ba người. Tổ tôi vẫn như cũ có Hải và Vinh. Sáng sớm ngày hôm sau chúng tôi dậy sớm còn mờ đất, ở ban chỉ huy đại đội có một du kích địa phương chờ sẵn để dẫn đường. Lối đi vào điểm chốt tắt qua hai ngọn núi vượt một cái chuông sình lầy, vắt bám chân xanh, hút máu no tròn như hạt đậu đen, xế trưa chúng tôi dừng chân trên một đỉnh đồi. Toàn, tên người du kích quê ở Ba Lòng, khoảng hai mươi ba tuổi đưa tay chỉ về phía trước nói: “Vùng đất này thuộc huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Người địa phương chủ yếu sống bằng nghề nông và buôn bán nhỏ. Bắc giáp sông Thạch Hãn, Đông giáp xã Hải Chánh, Tây giáp huyện Đakrông và Nam giáp huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Từ đó theo hướng đường xuôi nam, đi bộ mười lăm cái ga xép là vào tới Cố đô Huế. Tuyến chiều dài các anh tự chịu trách nhiệm chừng mười ba kilômét nhưng đây là vùng nhạy cảm, điểm chốt trung tâm đặt tại đây” tất cả thông tin chỉ có thế, do Toàn cung cấp. Người du kích trở về trạm ngay sau đó, chỉ còn ba chúng tôi. Trưa miền sơn cước, cảm giác mênh mông choáng ngợp, gợi nhớ xứ Thanh quê tôi miền Trung, xa xa thấp thoáng mái nhà tranh, một hàng cau trước nhà cao vút. Tôi đưa mắt nhìn quanh, đỉnh đồi tròn vo, chỉ rặt một loại cây thân mềm cao lúp xúp. Ngẫu nhiên quá, như có một bàn tay ai đó sắp đặt, bên kia đất địch cũng có đồi tương tự. Đang là mùa xuân hoa sim, hoa mua nở tím, cánh hoa như muôn ngàn con bướm rập rờn bay bay. Thiên nhiên đẹp, lòng dâng trào cảm xúc, tôi liên tưởng tới khuôn ngực trần của người con gái đương độ xuân thì. Đang mải mê ngắm, tiếng Hải khẽ kêu lên, làm tôi giật thốt: “Đồi vú, Đồi vú”. Vinh cũng vừa treo xong lá cờ đầu tiên trên cây búng báng, nó tụt xuống và bước lại bên Hải, miệng tủm tỉm cười, giọng Hà Tĩnh nghe mặn sệt: “Mi cụng dâm lắm hử”. Hải mặt đỏ như quả nhót rồi định bỏ đi, nhưng Vinh đã chụp vai kéo lại. “Cái thằng đầu ốc như một gã phù thuỷ, chắc lại sắp phịa ra cái trò gì đó”. Tôi đã nghĩ đúng, và nhìn theo tay Vinh chỉ xuống chân đồi, Vinh nói: “Suối Trinh”. Không thể tin được, ở đấy có một con suôi nhỏ chạy xẻ hai quả đồi như một vết nứt, ánh lên màu sáng lung linh. “không nhìn thấy hử”?. Vinh nói tiếp. Hải gật đầu, trố mắt nhìn Vinh rồi cười khề khề. “Đồi vú, Suối Trinh”, những cái tên do Hải và Vinh đặt, đã tồn tại cùng chúng tôi trong suốt thời gian dài giữ đất.

Mới bửng sáng tôi gọi Vinh dậy, nhai vội thỏi lương khô rồi uống vội bát nước nguội. Tôi phổ biến ngắn gọn công việc, Hải ở nhà trực, tôi và Vinh đi kiểm tra điểm treo cờ ngày hôm qua. Từ đồi vú tụt xuống, chúng tôi lội qua Suối Trinh rồi ngược hướng Bắc. Đoạn đường này đi tương đối bằng phẳng, sát bên bờ là một màu trắng hoác nên dễ bị lộ. Phía sau lưng trên đồi cao, cờ địch to bằng chiếc chiếu, treo chóp đầu các cột cao vọi. Dưới cờ ba tên lính sài gòn, quân phục nhìn từ xa như ba trụ đá, tay ôm súng, hệt lũ hải tặc đứng trên mũi tàu. Tôi và Vinh rạp người vượt qua đồng củ mì và đến được điểm treo cờ đầu tiên. Chợt tôi sững người thốt lên: “cờ đâu?”. Phút giây hoảng hốt, chúng tôi toả rộng đi tìm xung quanh, nhưng vẫn không thấy. Một lúc lâu, bỗng tiếng Vinh gọi giật: “Lập, Lập”. Tôi chạy đến nhìn theo tay Vinh chỉ. Thật ngạc nhiên, cả một vùng đất rộng dài, đến mấy ngàn mét vuông bị đào xới tung lên, mùi đất, mùi cỏ, bốc bay cay nồng. “Cờ”. Tôi căm phẩm hét lên. Cờ chúng tôi treo ngày hôm qua, bị kẻ nào đó hạ xuống, vết xích xe văng găm qua vải như những mũi lê xuyên thủng. Cả hai tiếp tục đi về phía đông, “Lập, Lập”. Lại tiếng Vinh gọi rồi chỉ lên ngọn cây trám. Thêm lá nữa, lá nữa, cả hai tuyến dài gần ba ki lô mét không một lá cờ nào của chúng tôi treo. Thay vào đó lá cờ chính quyền Sài Gòn vàng khe, ba sọc, như cái gai chọc vào tôi đau nhói. Vinh uất, mặt đỏ bừng, như người say rượu. Bất ngờ nó giương súng trên trời kéo quy lát, một tiếng  “Roạt” khô lạnh, làm tôi giật thót. Thật may, tôi nhào tới nắm được đầu súng của Vinh dúi mạnh xuống đất. Vinh đã nghe tôi, rồi buông cò, nhưng cặp môi vẫn mím chặt, hai bên má bạnh ra phì phì như đầu rắn hổ. Giờ tôi đã hiểu. Đêm qua, Đúng là đêm qua, lúc gần khi phiên tôi trực, địch dùng xe thiết giáp, xe tăng quần đảo ở đây, nhưng tôi cứ nghĩ chúng đi tuần tra như thường lệ. “Đồ đểu”. Hoá ra đó là màn nghi binh. Rồi chúng tôi đã trấn tỉnh lại. Vinh nói với tôi: “Treo cờ”. Tôi suýt bật khóc, cảm giác cô đơn quá, tủi quá, vì công việc gần như phải làm lại từ đầu. Bỗng trời tự dưng đỗ mưa. Một cơn mưa khác thường vào mùa này. Mưa không có sấm, không có chớp. gió thổi ào ào từ biển vào, kéo theo mây đen vần vũ, Mưa đỗ xuống nhanh dần, chốc lát mưa đã trắng trời trắng đất. Cơn mưa như thần hộ mệnh. Mưa tầm tả. Mưa quật vào mặt rát rát, người ướt sũng và lạnh, xế chiều chúng tôi lấy lại được phần đất đã mất và cơn mưa vừa tạnh. Đúng lúc ấy, từ đồi vú vang lên tiếng súng nổ, cả hai lao về hướng đỉnh đồi.

Đường về ngược dóc trơn ruột, nhiều chỗ chúng tôi phải bám vào gốc cây sim đu người mới lên được. Đi một đoạn, bỗng Vinh ngoái đầu lại phía sau, giơ tay ra hiệu để dừng lại. Kinh nghiệm nhắc tôi, đưa tay vào khẩu A K mở khoá an toàn “Địch”. Tôi đã nhìn thấy chúng Từ cánh trái, Ba tên lính Sài Gòn đang tiến theo hình chóp thẳng lên đồi vú. Tên đi đầu cầm một cây cờ cuốn dọc theo thân cán, ép sát bên hông. Hai tên khác, mỗi tên cầm một khẩu súng AR 15, quanh thắt lưng mắt đen sì nhiều quả lựu đạn tròn, trông giống những quả thông khô. Chúng ép sát đất, màu áo xám xịt, vằn vện, như con cá sấu bò trên cạn. Tôi ngước nhìn Vinh rồi chỉ tay đưa về hướng địch chém mạnh bàn tay xuống. Vinh gật đầu. Tôi đưa khẩu AK lên tỳ vào một ụ mối làm điểm tựa, rẽ mũi súng theo thằng đang lom khom từ góc ngoài xa nhất, điểm xạ, “bằng, bằng”. Phía trên, Vinh cũng thả ba viên rất đẹp. Vì khoảng cách gần nên tôi nghe được cả tiếng “ự” bật ra từ miệng tên lính trước khi gục xuống. Bị đánh bất ngờ, tên cầm cờ hốt hoảng định nhổm dậy quay đầu chạy, nhưng không kịp. Một loạt AK nổ giòn nã từ trên đỉnh đầu xuống, hắn công người đổ chúi đầu về phía chân dốc, hai chân bật lên như một con tôm. “Vậy là Hải còn sống”. Tôi mong gặp Hải. Nhờ nó đồi vú vẫn được giữ vững.

Một ngày nữa trôi qua. Mỗi ngày yên vắng không có tiếng súng, kéo dài cho đến chiều hôm sau, “Chiều đẹp”. Vinh thốt lên bất ngờ khi chúng tôi đứng dưới lá cờ mặt trận phần phật bay trong gió. Chợt Hải vỗ vào vai tôi miệng thì thầm: “Suối Trinh”. Nói xong nó bụm miệng cười khúc khích. Quái thật, cứ như trên trời rơi xuống. Giữa lòng suối có ba cô gái hồn nhiên, trần truồng nằm ngửa, thả người nổi bập bềnh trên mặt nước, như ba cô thiên nga có bộ lông trắng như tuyết. Từng cặp chân thon dài giơ lên, đập xuống, mặt nước bắn bung xoè như những chùm hoa kết bằng thuỷ tinh trắng. “Mẹ khỉ’ tôi như bị ma ám khiến toàn thân tê dại. Bắt đầu từ đỉnh đầu, chạy dọc xuống sống lưng, rồi nhanh chóng lan toả phụ lên bộ hạ. Thật may. Tiếng Vinh rít lên “lũ phượng hoàng”. Cái trò thối tha đó kéo dài khoảng ba mươi phút, rồi có tiếng đề ba nổ “Ục oàng”. Liên tiếp vang lên từ phía bên đồi ụp xuống, căn hầm chao lắc, tiếng va chạm nhẹ cọt cẹt, lách cách, bụi đất đổ vào mái lán rào rào, khói ộc vào mồm vào mũi, tôi khùng khục. Đợt pháo kích chưa đầy năm phút, nhưng hiểm. Bỗng tôi nghe tiếng Vinh gọi giật: “Lập, Lâp”. Tôi bật lên khỏi công sự lao vào phía Vinh. Tôi sững người, thấy Vinh nằm vắt lên ụ đất. “Vinh”.  Tôi gào lớn, nhưng đã muộn. Một mảnh xé toạc người Vinh, to bằng bàn tay xoè, máu tuôn ướt đẫm.

Hải ngồi tựa súng vào vai, mắt nhìn về tảng đá mồ côi, nơi chúng tôi vừa chôn cách Vinh, cách căn hầm khoảng ba mươi mét về phía tây. Hảỉ thương Vinh tôi biết, nước mắt có thể làm cho Hải vơi đi nỗi đau về tình bạn. “Khóc đi Hải, khóc rồi để trả thù cho Vinh”. Tôi nói trong lòng rồi bước lặng lẽ theo chiến hào ngược lên hướng Bắc. Sương đêm bắt đầu rơi, một cơn gió rừng bất chợt thổi lành lạnh. Một khoảng lặng yên tĩnh hiếm hoi kéo dài, chừng hai giờ đồng hồ. Bỗng có ba tiếng tắc kè kêu. Tôi nhận ra tiếng ám hiệu của Hải rồi vội vàng quay về chỗ cũ, “Suối Trinh” Hải chỉ nói. Ba tên, tôi đếm được. Trong đêm trông chúng nó đen trũi như những con gấu đang lò dò nhích lên từng tí một và cách đỉnh độ năm mươi mét. Qúa gần, tôi chỉ vào tên đi đầu và thoát ra hiệu cho Hải, “tạt sườn”. Hải vòng phải thoáng cái đã lẫn vào đêm. Sau mưa trời trong vắt, sao giăng nhấp nháy như bầy cú đêm tinh quái. Hải trườn mình bò sát đất như con thằn lằn, rồi áp vào một gốc cây mua chờ tên địch. Bên kia hắn cũng cẩn trọng nhích lên từng phân. Một hai rồi ba mét hắn chỉ còn cách Hải độ một bước chân, rồi đột nhiên hắn dừng lại. “Mẹ khỉ. Chẳng lẽ…” Tim tôi vỗ thình thịch. Cái bụi mua giờ như một lá chắn mỏng manh của cả hai phía. Thật khủng khiếp giống như hai con hổ sắp vồ lấy nhau. Hắn đặt khẩu AR 15 lên trước mặt, nghiêng người kéo ra một cái cây dài khoảng năm mét, rồi loay hoay buộc cờ. “Thằng ngu” tôi rủa thầm về sự dốt nát của hắn, vì không để ý đến Hải. Bỗng một tiếng “Bập” rất ngọt. Hải xoè tay chém nhát cực mạnh vào gáy tên địch, nó gục xuống, không kịp kêu lên tiếng. “Đẹp chơi ngon”. Tôi khen Hải. Điệu nghệ như một pha đấm nốc ao, chỉ xảy ra không đầy vài giây. Mãi để ý tới Hải, suýt nữa tôi quên hai thằng phía sau. Tôi giương súng, “Bằng, bằng, bằng”, tệ quá, không viên nào trúng đích, chúng hoảng hốt trong đầu chạy lao xuống chân dốc. Trời khuya sương rơi mù đất.

***

Hải dẫn tên tù binh vào trong hầm, bảo hắn xuống rồi đi ra. Ngọn đèn cầy đỏ cạch nhưng để tôi nhìn rõ mặt hắn. Tên lính non choẹt, độ mười chín hoặc hai mươi tuổi. Khuôn mặt đầy đặn thư sinh. Hắn vẫn còn run như người bị bệnh và cố tránh cái nhìn của tôi. Tôi rót cho hắn một bát nước nấu bằng lá cây ngành ngạnh, chúng tôi vẫn uống, loại cây này ở đồi vú rất nhiều. Hắn “Cám ơn” rồi rụt rè bê bát nước uống ừng ực. Tôi chờ, hắn đặt cái bát xuống bàn, hỏi:

- Tên gì, cấp bậc, chức vụ, đơn vị nào?

- Dạ Út ạ - Hắn mới nói đến đó, Hải từ ngoài xồng xộc chạy vào, hét toáng.

- Mẹ kiếp, Út với ít gì, họ tên nghe chưa? - Tên lính run bắn, nhìn Hải líu ríu.

- Dạ, dạ…thưa anh - Hải nhìn tôi cười tủm tỉm rồi gật đầu bước ra khỏi hầm.

- Nào, nói đi.- Tôi nhắc      

- Dạ, em … em là Võ Đình Nhát ạ, Binh Nhất, Đại đội hai, Tiểu đoàn tư, Trung đoàn ba, Sư đoàn năm, vùng chiến thuật một.

- Nhát – Tôi nhắc lại vì cái tên nghe vui vui.

- Dạ, Nhát.

- Cái tên hay nhỉ? – Tôi khen.

- Dạ hổng hay đâu ạ. – tên lính bạo dạn hơn, hắn phân bua:

- Dạ vì em là Út, nhà toàn con gái, ba má chọn cái tên dở đặt cho khỏi xui ạ. – Nghe hắn nói tôi suýt phì cười, nhưng kịp kìm lại. Tôi hỏi tiếp:

- Nhát mà mày đi lính à?

- Không ạ, em bị chúng bắt đi ạ. – Tôi hỏi:

- Nghe nói, tụi mày có biệt tài trốn lính giỏi lắm?- Mắt tên lính sáng lên- Hắn nói:

- Dạ, năm bảy mươi mốt, em mười bảy tuổi đã bị gọi lính, ba má em rầu như nhà có đám, nội em khóc hoài, phải chạy hết ba chục cây vàng bốn số mới tránh được ạ. Tưởng thế là xong, ai dè đến đầu năm bảy mươi hai, vừa qua tú tài em lại bị gọi đi quân dịch. Lần này còn căng dữ, tốn hơn bốn chục cây mà vẫn hổng trôi. Rồi tính liều, ba đem em gửi cho một bà cô tận ngoài Phan Thiết lận, nhưng ngoài đó ông Thiệu bắt lính còn hơn bắt heo à. Trời đất, em sợ lại chạy trở vô Sài Gòn. Vậy là dính, rồi chúng đẩy em ra đây.

- Mày đã đụng trận nào với quân Bắc Việt chưa ? – Nghe tôi hỏi hắn bối rối

- Dạ ba lần. Lần nào em cũng trốn được đi phía sau, nên thoát chết

- Lần này sao mày không làm như thế? – Hắn ấp úng hồi lâu, vẻ hối tiếc, Hắn nói:

- Dạ em bị chúng lừa. Tôi cắt ngang lời hắn.

- Lừa sao?

- Dạ chúng nói Việt Cộng không dám bắn, vì sợ vi phạm Hiệp định Paris- Tôi hỏi:

- Mày có hiểu việc mày làm sai hay đúng ? Hắn lúng túng

- Thưa, sai ạ!

- Sai sao vẫn làm?

- Dạ, nếu em không đi chúng bắn bỏ. -  Tôi đứng vụt dậy làm hắn giật thót. Tôi nói doạ.

- Vậy là mày vi phạm hiệp định Paris, tao sẽ xử mày theo luật.- Nghe tôi nói hắn sợ run bần bật và đổ sụp xuống, nhão nhoẹt như người không xương. Hắn van:

- Em lạy anh, lạy anh, đừng bắn em …

Tiếng hắn rống lên thảm thiết, tôi nhìn vừa thương hại vừa khinh bỉ: “Đồ con Thỏ”.

***

Tôi chọn một ụ đất gồ lên như bướu con trâu đực và ngồi xuống. Hải đứng trong công sự cách tôi ba mét, tay vẫn nắm chặt khẩu AK hướng nòng về phía trước. Hải im lặng, chắc đang nghĩ về tên tù binh. Tôi cũng vậy, những gì tôi biết về hắn chỉ có thế sau lần hỏi cung. Bây giờ việc chúng tôi phải bàn là số phận của hắn. Nhiều câu hỏi đặt ra, nhưng chưa có giải pháp nào khiến tôi hài lòng. Cuối cùng, tôi cũng nghĩ được một cách xem ra là đẹp hơn cả “giải về phía sau?”. Tất nhiên, nếu tôi thực hiện theo cách đó chắc chắn cấp trên sẽ ghi tên công trạng: “đã kiên cường chiến đấu bảo vệ đất, bảo vệ Hiệp định Paris, tiêu diệt địch, bắt sống tù binh”. Những từ ngữ ngắn gọn nhưng sáng choang. Chỉ cần ngần ấy thôi cũng đủ tiêu xài sự vinh quang cho cả đời người. Rồi sau đó, đường quan lộc rộng mở thênh thang biết đâu, lại được điều phóc một phát cho ra Bắc học. Được về nhà, lấy vợ, sinh con. Cơ hội ngàn vàng để rút khỏi chiến trường êm như nhung, bao nhiêu người dù nằm mơ cũng không có. Một niềm vui ùa đến trong đầu. Tôi khẽ mỉm cười, nụ cười trong đêm hoang vắng phảng phất mùi thuốc súng, nhưng rồi cảm giác lâng lâng, ngọt ngào. Mãi nghĩ tôi bỗng giật mình nghe tiếng Hải hỏi: “Tính sao Lập?”. Tôi chưa kịp trả lời hắn, Hải đã hỏi tiếp: “Theo tao tống hắn về tiểu đoàn”. Vậy là Hải cũng nghĩ như tôi, nhưng điều đó vẫn chưa ổn. Tôi hỏi: “Bằng cách nào?”. Hải lặng im. Khó thật, không khó sao được. Lúc đầu chúng tôi còn đủ ba người, giờ đây chỉ có tôi và Hải. Ai sẽ dẫn hắn đi? Ai ở lại? Cuộc chiến vẫn chưa chấm dứt. Một người một cây súng, mỏng manh quá mỏng manh! “Chao ôi! Giá Vinh còn sống”. Chợt hình ảnh Vinh hiện về. Nó kìa, sau buổi họp đại hội thông báo lệnh ngừng bắn. Vinh ôm chầm lấy tôi, nói như reo: “sắp rồi, chúng mình được về thăm mẹ”. Tôi bảo: “ừ, sắp rồi, sắp rồi”. Nói như lời đó, mắt tôi bỗng cay cay, rồi Vinh nói tiếp: “Bố mình mất từ lâu, nhà còn một đứa em gái, năm nay mới mười một tuổi”. Vinh chợt im lặng, lúc sau nói tiếp: “Nó bị câm Lập ạ”. Vinh chỉ nói được có thế. Nó không đủ can đảm để nói cái điều ước muốn cuối cùng cho đứa em tật nguyền. Trời ơi, thế mà Vinh đã mất. Vinh mất trong niềm hi vọng. Mất đi trong niềm tin chiến thắng đang gần kề. Vinh còn rất trẻ. Nếu còn sống, Vinh sẽ trở lại mái trường xưa để học, tương lai đang chờ vinh phía trước “Vinh”. Tôi gọi lớn và bất ngờ vụt dậy. Lao vào trong hầm nơi tù binh đang ngồi đó. Đầu hắn vẫn còn gục xuống, bỗng hoảng hốt ngẩng lên. Tôi ngẩng khẩu AK chĩa thẳng vào mặt tên lính, hắn co dúm người và tru lên ừng ực. Nhưng thật lạ, khi ngón tay tôi đưa vào cái vòng sắt nửa hình bán nguyệt để kéo cái lẫy cò. Chính lúc đó, bên tai tôi như có tiếng ai gọi: “Đừng, đừng bắn” Tôi bàng hoàng. Vinh! Đúng là Vinh. Tiếng nó phát ra từ lòng đất, nghe âm âm, da diết. Bàn tay tôi lỏng ra, cây súng tuột rơi xuống đất. “ùng oàng”, một trái pháo vút qua đỉnh đồi vú làm tôi choàng tỉnh, “ùng oàng” lại một loạt khác tiếp theo nhưng lần này chúng tôi đổi bắn tít vào sâu sát dòng sông Thạch Hãn. Mặc, tôi vẫn ám ảnh bởi tiếng nói của Vinh. Nó nói đúng, tôi không thể…. Chợt tiếng Hải hỏi:

- Cậu sợ phải không? - Tôi trả lời Hải.

- Không - Hải hỏi tiếp:

- Vậy sao không bắn? Tôi buộc thở dài, nói:

- Mình không thể.- Hải quay sang tôi, giọng nghiệt ngã:

- Hắn là kẻ thù.- Lời Hải như quất vào tim tôi đau buốt.

- Hắn đáng tuổi em cậu. - Tiếng tôi rơi vào khoảng không vời vợi. Một làn gió ào qua, trong bóng đêm những cây mua, cây sim, lắc lư như những chú gấu khật khừ say mật. Rồi Hải hỏi:

- Có cần báo về đơn vị? - Tôi trả lời:

- Để làm gì? - Hải nói:

- Chúng có thể bị kỉ luật? Tôi nói với Hải.

- Ở đây là một ốc đảo.- Có tiếng chim tre vét kêu rúc rích trong khóm lau trước mặt, lảnh lót, tội nghiệp, thương, thương.

- Tính sao Lập? Cũng không thể để hắn ở đây. - Tôi đã chờ đợi câu hỏi đó của Hải. giờ tôi có thể nói cái tôi nghĩ.

- Thả!- Hải sửng sốt.

- Cậu thả hổ về rừng. - Tôi nói với Hải:

- Đấy là việc của hắn! - Chúng tôi cùng im lặng. Bất chợt Hải nhoài sang tôi nói.

- Được còn chần chừ gì nữa. - Vậy là Hải tin tôi.

Ba giờ sáng, tôi dẫn tên tù binh ra khỏi hầm. Hắn choánh choáng lo sợ một điều gì đó, bước đi rúm ró, hoảng loạn. Nỗi sợ hãi khiến hắn không là chủ được sự bài tiết theo quy luật tự nhiên. Đủng quần hắn ướt sủng, mùi nước đái và mùi phân cứ rịn ra thối như mùi chuột chết. Tôi trấn an hắn: “Đừng sợ, mày sẽ được sống”. Nhưng hắn không tin và gục xuống chân tôi rên rỉ: “Lạy các ông, đừng giết em”. Tôi suýt phì cười khi nghe hắn đổi ngôi chủ ngữ, gọi tôi bằng ông. Hải mở trói cho tên tù binh, mắt hắn nhìn tôi ngơ ngác. Tôi nói tiếp: “Mày được tự do nhưng hãy câm miệng”. Hắn vái tôi và Hải ba vái rồi vọt xuống chân đồi vú. Bóng đêm mờ đục như chiếc màn giăng khổng lồ phía trước.

*     *

*

Theo địa chỉ tôi đến nhà thăm anh ở đường Võ Văn Tần – quận ba, nhà hướng đông, một trệt, một lầu màu sơn mới vàng chanh xinh xắn. Hôm đó vợ anh đi dạy học, hai đứa con trai đã trưởng thành có nghề nghiệp đi làm vắng. Anh đón tôi từ ngoài cửa rồi cùng bước vào phòng khách. Anh rót nước mời tôi, một lát anh nói: “Không ngờ em gặp được ân nhân”. Tôi nâng ly trà uống một  ngụm rồi đặt ly xuống bàn, nói với anh: “Quả đất tròn phải không?” “Dạ”, tiếng anh lắng xuống và ánh mắt ngước nhìn ra cửa bâng khuâng. Nhìn anh tôi biết, ký ức xưa hiện về: Hổm đó…Anh bắt đầu như thế, giọng anh chầm chậm: … Khi anh quyết định tha em, lúc đầu em sợ. Tôi hỏi: “Vì sao?” Anh tiếp: - Em nghĩ mấy ổng sẽ hổng thả mình dễ dàng như vậy nên em chần chừ. Tới lúc nghe tiếng bạn anh quát lớn thế là em chạy. Em lao bừa, vấp té, va đập lại đứng dậy chạy tiếp, chạy trong ánh sáng mù mờ, lạnh ngắt nhưng người em vẫn đẫm mồ hôi. Em chạy theo lời anh dặn. Nhưng làm sao chớ, em còn hồn vía đâu dám nhìn, dám kêu. Tôi hỏi “Anh đã về bên kia đồi?” – Khi vượt qua con suối, bỗng em nghe có tiếng súng cối bên phía quân đội cộng hoà bắn sang đồi của anh, em sững người thất vọng. Em quyết định không trở về với họ. Vâng, cứ nhắm hướng Nam em chạy, mờ sáng đến được Phong Điền, vào một nhà quen biết cũ, trút bỏ đồ bộ lính cộng hoà bắn sang đồi ở đó thay bằng bộ đồ dân thường, rồi chiều hôm em ra lộ bắt xe đi Huế. Trời đất dọc đường người Chính phủ kiểm soát ngặt dữ, xe phải dừng lại tới bốn năm lần, nửa đêm em mới tới Cố đô. Đói, mệt làm em kiệt sức nên định kiếm một việc gì đó ở Huế chờ thời tính sau. Nhưng nghỉ lại không ổn, ba ngày sau em quyết định nhảy tiếp xe đò thẳng lên Đà Lạt, thiệt may ở đây em xin được việc trồng hoa miết tới ngày giải phóng. Anh chợt lặng, chờ một lúc tôi hỏi tiếp: “Anh đã làm gì sau ngày giải phóng? Ừ nhỉ, sao anh không đi Mỹ?”. Câu hỏi của tôi làm anh bối rối, một lát anh nói: “Không, em không thể. Ngày đó, họ tưởng em đã tử trận”. Giọng anh trầm hẳn xuống”. Thật tình cách đây hơn chục năm, em cũng nghĩ đến chuyện xuất cảnh vì cuộc sống khó khăn quá trời, bây giờ mọi cái đã thay đổi”. Bỗng anh nhìn một lượt khắp nhà như muốn nói với tôi. Tất cả những gì hôm nay anh có là nhờ tôi. Tôi đã cứu anh! Đã sinh ra anh lần thứ hai. Nước mắt anh chảy ràn rụa, rồi bất ngờ anh gập người xuống”, tiếng anh nhẹ bẫng, chân thành: “Em đội ơn anh”. “Không, không”. Tôi thảng thốt. Còn anh như đã nói được cái điều mà mấy chục năm nay lòng anh canh cánh.

Sau ngày giải phóng em làm gì ư? Anh nói và nở nụ cười trở nên tươi tắn. - Em đã qua từng đủ nghề, khuân vác, thợ hồ, thợ đục nhưng chẳng có nghề nào đứng được lâu vì công việc lúc có lúc không, rồi một hôm nhân ngày lễ em đi dạo phố, nhìn thấy cờ. Cả thành phố đỏ rực màu cờ Tổ quốc băng rôn khẩu hiệu. Chợt ý tưởng loé lên trong đầu: “Kinh doanh cờ” từ đấy anh à. Chua cha, mới đó mà đã mấy chục năm em bán cờ trên phố. Anh nâng ly trà nhấp một ngụm rồi đặt ly xuống, bỗng anh hỏi tôi: “Năm 1973 anh còn nhớ không?” Tôi gật đầu. Anh nói tiếp, chúng bắt em đi nhổ cờ Việt cộng rồi cắm cờ của chính quyền ông Thiệu, để lấn đất, thiệt hay ha, sau bao nhiêu công việc không hạp, em lại hạp với nghề bán cờ lạ, anh nói hổng vui sao?. Chuyện anh kể làm tôi nể phục quá, lý thú quá. Tôi nói với anh, “Nhát, mình mừng cho cậu,”. Tôi chợt gọi cái tên cúng cơm của anh. Nghe vậy, Nhát cười khần khật nói: “giờ hông nhát nửa rồi”. Đúng là bây giờ Nhát đã thay đổi, không giống cái anh chàng Nhát tù binh năm xưa. Hiền lành, đôn hậu nhưng rắn rỏi. Rồi bỗng Nhát hỏi tôi: “Cho em hỏi, người em vẫn mạnh giỏi ạ?”. Tôi lặng đi, Nhát nhớ tới Hải. Cái thằng bạn chí cốt của tôi chiến đấu trên các chiến trường Khe Sanh, Đường 9, những ngày tháng gian khổ ở Tây Nam huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị đến Thượng Đức, Nông Sơn ở Quảng Đà. Phải mất mấy phút sau tôi mới nói được:- Hải đã hi sinh khi tiến vào giải phóng Sài Gòn ngay giữa cầu Rạch Chiếc, cách trung tâm thành phố khoảng mười lăm kilomet, rạng sáng ngày 30/4/1975. Một trái pháo của địch nổ hất tung Hải xuống dòng sông. Vì cuộc chiến vô cùng khẩn trương, chúng tôi không kịp tìm kiếm xác Hải. Hôm sau cử người trở lại nhưng suốt nhiều ngày lặn lội, vẫn không có kết quả. Đã hai mươi chín năm, Hải trôi dạt về đâu không biết. Rất có thể xác Hải trôi theo sông Sài Gòn đỗ ra biển đông.

Bất chợt, ngoài kia trời trở gió rồi đổ mưa. Trong tiếng mưa rơi, tiếng Nhát nghẹn ngào: “Tội nghiệp, hôm nào cho em đi cùng ra cầu Rạch Chiếc viếng anh được hông?”. Tôi gật đầu nói: “Được, được, chắc Hải sẽ rất vui”.

Đ.V.N

Đỗ Viết Nghiệm
Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 128 tháng 05/2005

Mới nhất

Thông báo về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí

13/04/2026 lúc 22:15

THÔNG BÁO Về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí Kính gửi quý bạn đọc,

31/07/2025 lúc 15:23

Tạp chí Cửa Việt - 35 năm một chặng đường

28/06/2025 lúc 16:18

Ngày 28/5/2025, Tạp chí Cửa Việt tổ chức lễ kỷ niệm 35 năm tạp chí ra số đầu tiên và gặp mặt cộng tác viên năm 2025. Tại buổi lễ, Phó Tổng biên tập phụ trách Hồ Thanh Thọ đã có bài phát biểu khai mạc...

Vùng trời hoa sim

26/06/2025 lúc 23:29

Những triền sim tím đồi xaBềnh bồng nâng gót mùa qua lặng thầm

Hương xưa; Nắng sớm

26/06/2025 lúc 23:27

Hương xưa… Ta về tìm lại hương xưa

Tạp chí số cũ
Câu chuyện du lịch
tư tưởng Hồ Chí Minh

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

16/04

25° - 27°

Mưa

17/04

24° - 26°

Mưa

18/04

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground