|
N |
gày mồng một tháng tư năm một chín bảy lăm. Thành phố biển Nha Trang hiền hoà bỗng chốc trở nên hỗn loạn. Chợ Đầm bị đập phá, phát hoả. Tù nhân đủ loại từ các trại giam phá ngục ùa ra đường, túa đi khắp các ngõ, nhập vào những dòng người tất tả, hăm hở đi hôi của. Những quân nhân “cộng hoà” ở các trại lính cũng bỏ hàng ngũ chạy về thành phố, luýnh quýnh và sợ hãi, như rắn mất đầu, cầm cây súng trong tay như khiêng mang một của nợ khủng khiếp. Súng quăng lăn lóc ngoài đường, đạn dược ném vung vãi nơi công viên, bãi biển, trở thành những thứ vũ khí cực kỳ lợi hại đắc dụng cho bọn đầu trộm đuôi cướp đang có mặt khắp các nẻo đường với một bầu máu tham sôi sục. Trong chuỗi giờ thành phố vô chính phủ, vô chính quyền ấy, thành phố như đang cơn ác mộng đầy hiểm hoa, đổ nát và chết chóc, làm cho những người lương thiện, người thật thà và nhát gan phải chui rúc ru rú trong nhà, cửa đóng then cài với những lời cầu nguyện...
Nhà tôi cũng đã đóng cửa, im thin thít. Cha tôi đứng ngồi không yên, đi lên đi xuống như lửa bổng dầu sôi, thỉnh thoảng nhìn qua khe cửa ra sân trước, ngó chừng cổng ngõ. Mẹ tôi ngồi kiết già trước bàn thờ Phật miệng lâm râm những câu kinh câu chú cầu an cho tất cả, tất cả. Tôi cùng hai đứa em ngơ ngác ngồi trong góc nhà không hiểu, không hiểu ngoài đường đã và đang xảy ra vụ việc gì, muốn chạy ra sân cũng không được phép của cha mẹ. Chị dâu tôi sinh đứa con đầu lòng chỉ mới được tám giờ đồng hồ trước biến động, đang nằm ở nơi buồng kín.
Mẹ tôi nghiêm trang căn dặn lũ anh em chúng tôi: “Đứa mô bước chân ra khỏi cửa ngõ thì đi luôn, đừng bước lại vô nhà ni nữa”. Tiếng súng nổ râm ran đây đó, ngoài đường người ta chạy rầm rập, la hét ỏm tỏi, mẹ lo là phải. Cha tôi chỉ bước quanh quẩn bên cánh cửa trước bàn thờ. Nhìn ra sân, chừng như ông đang ngóng trông, chờ đợi một điều gì đó đang làm lòng ông nóng cháy. Và rồi, ông chợt reo lên trong nỗi vui mừng: “Ơ, thằng Hai Hiền đã về đến rồi. Nó về đến nơi rồi, mình ơi!” Mẹ tôi sáng rực đôi mắt thở dài nhẹ nhõm, rồi đưa mắt nhìn lên tượng Phật với vẻ biết ơn đấng từ bi cao cả. Cha tôi vội vàng mở cánh cửa để đón đứa con trai lớn của ông vừa từ chiến trận trở về. Anh Hai tôi bước vào nhà, an toàn nguyên vẹn, với một khẩu M16 tên tay, bộ quân phục đã nhuộm màu đỏ quạch của đất bazan, mặt mũi bơ phờ và đôi mắt còn tràn đầy kinh hoàng. Chúng tôi reo mừng vây lấy anh Hai. Cha mẹ tôi cũng mừng khôn tả, hỏi han anh Hai đủ điều. Mẹ tôi báo tin vui: “Vợ mi mới sinh khi sáng, một thằng con trai!”. Quên hết những chuyện kinh hoàng đã và đang xảy ra, anh chạy ào vào buồng với vợ con. Những nén nhang trầm lại được thắp lên, khói hương lan toả khắp nhà, gia đình tôi đã tề tựu đông đủ, không thiếu vắng ai, cũng không sứt mẻ trầy trụa người nào, ấy là cái phước đức lớn lao an ủi cho mọi người trong giờ phút ngoài đường, ngoài phố, khắp nơi trong tỉnh, và cả nước đang rung chuyển với biết bao buồn vui chen lẫn, biết bao được mất đan xen, và biết bao nước mắt cùng nụ cười hoà lẫn...
* * *
Đêm đến, tiếng súng nổ đã ngớt. Ngoài đường, và khắp nơi trong thành phố, những dòng người đi hôi của vẫn ngược xuôi không nghỉ như những con ong con kiến hăng say trước mật ngọt gạo thơm, đi khuân vác những vật có trọng lượng bằng trọng lượng của mình, cái đang được làm cho sức mạnh, sức dẻo dai bền bĩ tăng lên, những con người điếc không sợ súng đã quên mọi hiểm nguy có thể xảy đến với bất cứ ai, khi mà thành phố đang vô chủ, đang đợi chờ từng giây, từng phút được trông thấy hình bóng của những chiến sĩ giải phóng quân về nắm giữ chính quyền. Anh Hai tôi cũng thuộc loại người điếc không sợ súng. Súng còn chưa sợ, nói đến lời khuyên răn của mẹ, lời nhắc bảo cảnh tỉnh của cha. Anh Hai xách súng chạy ra khỏi nhà, nhập vào dòng người đi vơ vét của cải. Anh Hai không đi đâu xa, chỉ đến tiệm tạp hoá ở đầu đường, tiệm Tân Hoa, dùng súng bắn nát ổ khoá cửa sắt, rồi một mình lẳng lặng khiêng mang đủ thứ về... Mẹ tôi mắng: “Mi lấy của thiên rồi sẽ cho địa!” Anh Hai tôi lạnh lùng đáp trả: “Vợ con của con đang khát thèm mọi thứ. Con phải lo cho đứa con trai đầu lòng. Những thứ con mang về sẽ là vốn liếng sinh sống lâu dài và không mất đi đâu được. Con không hôi của, người khác cũng hôi!” Mẹ tôi nạt: “Nhưng đó là tội lỗi!” Anh Hai tôi không chịu: “Người ta khiêng vác rầm rầm kia. Con không lo tương lai cho vợ con, đó mới là tội lỗi!”. Cha tôi bất bình hỏi: “Nhà người ta có người hay không mà mi vào ngang nhiên như ăn cướp rứa?” Anh Hai tôi ngập ngừng giây lát thưa: “Chỉ có ba, bốn người đàn bà núp trong nhà. Có một người cũng mới sinh xong được một tuần qua. Con đâu đụng chạm gì đến họ. Con cũng mở lời xin đàng hoàng, và họ cũng đồng ý cho rõ ràng chứ đâu phải con ăn cướp!” Cha tôi nạt: “Quá ăn cướp. Người ta là đàn bà yếu tim, mi cầm súng vào tận nhà xin gì họ lại không cho!” Mẹ tôi quay ngoắt giận dữ: “Rồi mi sẽ nhận lấy những hậu quả khi mang những thứ của phù vân này về nhà!” Anh Hai tôi cười khẩy, tiếp tục bước ra khỏi nhà, suốt đêm làm con kiến cần cù lên đường tha những hạt gạo về tổ... Cho đến sáng.
Những ngày đầu thành phố được giải phóng, quân và dân cách mạng tiếp nhận và cai quản, anh Hai tôi ra đầu thú nộp giao vũ khí. Nhờ có bác tôi là một cán bộ cách mạng, tiếng nói lúc bấy giờ có trọng lượng đáng nể, đã đứng ra bảo lãnh cho anh Hai tôi khỏi phải đi học tập cải tạo xa vì lý do vợ mới sinh con trai đầu lòng. Anh Hai tôi chỉ là một lính bộ binh quèn, binh nhì đồ hoa, nên cũng được chính quyền châm chước cho qua. Nhờ vậy anh Hai tôi chỉ học tập cải tạo hai mươi hai ngày tại địa phương. Không những không bị kết tội, làm khó làm khổ, anh Hai tôi còn được biểu dương khen ngợi vì buổi sáng ngày mồng hai tháng tư khi ban quân quản được thành lập, anh Hai tôi đã tham gia vào lực lượng bảo vệ, gìn giữ trật tự trị an cho thành phố, bắt giữ những tên cướp hung hãn, ngăn chặn những kẻ phá hoại, cướp bóc. Có nhiều người làm chứng cho anh Hai tôi cái chuyện này. Cái công lấp cái tội. Không ai biết chuyện anh Hai tôi đã một mình phá cửa vào tiệm tạp hoá Tân Hoa, mang về cả kho hàng hoá cất giấu trên gác. Chỉ trừ những thành viên trong gia đình tôi, và những người đàn bà có mặt trong tiệm Tân Hoa kia. Cha tôi lo lắng, thắc thỏm về chuyện này rất nhiều, cứ gặng hỏi anh Hai tôi luôn. Cuối cùng, anh Hai phải thú thật: Khi anh phá cửa vào, trong nhà không có một ai trừ một thiếu phụ đang nằm ổ. Anh Hai có dò hỏi thì được biết cả gia đình đã sơ tán chạy vào Sài Gòn. Người thiếu phụ mới sinh được đứa con gái đầu lòng non một tháng, không chịu đi, nhất quyết ở lại giữ nhà, đợi người chồng là một thiếu uý nguỵ quân đang ở Tây Ninh chưa về được. Cả nhà nghe vậy thở phào, bớt lo. Khi cuộc sống đã bình lặng, thành phố đi vào nề nếp sinh hoạt mới, hít thở không khí độc lập tự do, qua dò hỏi lân la, anh Hai tôi báo cho mẹ tôi hay: Nhà Tân Hoa hoàn toàn vắng chủ, đã được trưng dụng làm trụ sở Ban nhân dân khóm. Chuyện hôi của mà anh Hai tôi một mình là thủ phạm vậy là chìm nghỉm vào đáy thời gian. Chỉ còn gia đình tôi hay biết, và trời biết. Nhưng mẹ tôi thỉnh thoảng vẫn nhắc: “Rồi của thiên sẽ trả địa!”. Cha tôi cũng ậm ự phụ họa: “Không trả trước cũng trả sau, không chóng thì chầy. Mi hãy lo tu nhơn tích đức cho con cháu, Hai à!” Anh hai tôi gạt bỏ ngoài tai những lời khuyên lơn của cha mẹ, bắt đầu nhảy ra chợ trời kinh doanh buôn bán. Khi chị dâu tôi đã mạnh chân mạnh cẳng, cháu tôi đã biết đi biết chạy, thời gian trôi qua vùn vụt, nhìn quanh thấy nhiều người đói khổ, nhiều nhà tan tành cơ nghiệp đến trắng tay thì vợ chồng anh chị Hai tôi được sống sung túc, dư dả nhờ quầy hàng tạp hóa. Anh Hai tôi có trong tay số vốn liếng khá lớn, phát triển thêm một sạp bán phụ tùng xe đạp. Thời bấy giờ, được buôn bán những mặt hàng thiết yếu ấy thì thật là hốt bạc mà xài. Từ số vốn hôi của ban đầu, anh Hai tôi xây dựng được một cuộc sống vững vàng, ấm cúng cho vợ con cho đến mãi tận sau này. Hai mươi lăm năm trôi đi, anh Hai tậu được căn nhà riêng. Mở tiệm bách hoá gần ngã tư phố xá nhộn nhịp. Vợ cùng ba đứa con của anh sống khoẻ và sung túc. Gia sản của anh Hai ngày càng lớn hơn, nhiều hơn. Anh đã có dâu hiền, con ngoan quây quần bên mình thật hạnh phúc. Cha mẹ tôi đã không còn sống đến hôm nay, hai mươi lăm năm sau ngày giải phóng thành phố biển hiền hoà sống trong hòa bình hạnh phúc và phát triển...
Nhưng riêng gia đình tôi, cái gì phải đến thì nó sẽ đến.
* * *
Đứa con dâu trẻ trung khờ khạo của anh Hai vào buổi tối khi phố xá đã thưa thớt người đi lại, tiệm bách hoá đã đóng cửa trong một lúc bất cẩn với bình xịt muỗi gián, đã xịt ngang qua chiếc đèn dầu nơi bàn thờ ông địa đặt dưới đất ở góc cửa tiệm, thuốc bắt lửa phụt cháy. Hoảng kinh, cô ném chiếc bình vụt khỏi tay, lửa cháy qua hàng hoá, lan nhanh trong tiếng kêu cứu thất thanh quá nhỏ của người gây ra hoả hoạn. Ngọn lửa tàn bạo. Ngọn lửa dã man. Ngọn lửa không chút nương tình đã đốt nung cửa tiệm của anh Hai tôi, cháy rụi hàng hoá, đồ đạc. Vợ chồng, con cháu gia đình anh Hai chỉ kịp cứu lấy thân mạng của mình. Khi xe cứu hoả đến, ngọn lửa đang lan qua hai nhà kế bên, may dập tắt kịp. Cháy sạch, mất trắng, căn nhà của anh Hai, cửa tiệm của anh Hai sau mười năm nỗ lực gây dựng đã tan thành mây khói. Anh Hai lạc hồn ngay đêm ấy, và sang ngày hôm sau trở thành một cái xác biết lê gót trên hè phố. Người ta chỉ biết anh Hai tôi điên vì tiếc của. Không ai biết và nghĩ ra rằng anh Hai tôi đang bị quả báo. Anh lấy của thiên phải trả cho địa. Anh Hai giờ đây đã trắng tay. Vợ của anh cũng lâm cảnh ngặt nghèo.
***
Có một điều mà từ lâu chỉ mỗi mình tôi khám phá ra, biết được nhưng không dám tiết lộ cùng ai. Tôi chỉ có thể nói ra điều này cho cha mẹ tôi hay, nhưng rất tiếc là ông bà không còn sống. Tôi cũng có thể nói ra cho anh Hai tôi biết vào lúc anh đang trong cơn điên loạn. Nhưng nói ra chẳng ích lợi gì và lại quá muộn màng. Tôi tình cờ biết được khi đám cưới của thằng cháu tôi được tiến hành. Tôi nghe người này người nọ nói về nhà gái, tôi lạnh mình hoảng sợ, nhưng rồi nín thinh. Anh Hai tôi không hề hay biết, không nhớ nỗi người sui gia của mình. Bên sui gia của anh Hai chắc cũng quên mất. Đám cưới được tổ chức vui vẻ, thông suốt. Nếu bây giờ tôi tiết lộ điều bí mật ấy cho anh Hai tôi, anh sẽ được tỉnh táo sáng suốt như xưa, thì tôi sẽ mạnh dạn đến bên anh, hét vào tai anh rằng:
- Con dâu của anh là đứa nhỏ của thiếu phụ ở tiệm tạp hoá Tân Hoa cách đây hai mươi lăm năm về trước đó!
H.N.D.C




