Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 21/04/2026 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Về đất

Áo bào thay chiếu anh về đất

                           (Quang Dũng)

T

ừ cầu Hiền Lương, cứ theo bờ nam sông Bến Hải đi về phía tây khoảng hai cây số như hồn đã báo... Tới nơi chưa? Có thấy một cây mít đứng mé chân cái gò cao thưa cây không? Cách gốc mít chếch về tây nam chừng bốn bước chân có một nấm đất phủ đầy cây mua...

Nhà ngoại cảm ngồi cách dăm trăm cây số hướng dẫn qua điện thoại di động giọng tự tin và rắn rỏi y như một vị chỉ huy đánh trận từ xa. Mà bà ta rành “chiến địa” như có ra-đa theo dõi. Tôi nhìn cây mít, hơi hoài nghi, nó chẳng có vẻ đã đứng đấy dư ba chục năm rồi, mà nom “trẻ” hơn nhiều. Tuy vậy, tôi vẫn hi vọng dưới nấm đất kia có xương cốt của Chiến, cho dù chỉ còn mấy mẩu xương tàn. Thân thể của người con trai đồng bằng Bắc bộ vùi quạnh quẽ bên bờ một con sông miền Trung, miền đất nắng nồng gió Lào về mùa hè và buốt lạnh mưa dầm về mùa đông. Liệu linh hồn anh, giả sử là có linh hồn, còn quẩn quanh nơi đây? Tôi không có liên hệ máu mủ gì với Chiến, song…

* * *

Ven đường cái một vùng quê miền Bắc. Căn nhà nhỏ tường đất mái rạ. Đầu này sân, hướng vuông góc với căn nhà, một gian bếp có tấm liếp rộng che hờ cửa ra vào. Đêm. Ánh trăng muộn soi lờ mờ một hố sâu do đạn rốc-két khoét cách sau nhà một khoảng ngắn, kề một nền đất bị ngoạm gần phân nửa. Đây là “cơ ngơi” còn lại của bà Mị bị “đạn lạc” của máy bay Mĩ trong cuộc bắn phá một trận địa phòng không ven thành phố. Bà Mị từ chỗ nấp ngoài đồng chạy về thì ngôi nhà tranh của bà đã văng đâu mất. Ít lâu sau, hợp tác xã và bà con lối xóm đã giúp dựng lại nếp nhà này. Bà chỉ còn một mình, đứa con trai đang đi chiến đấu xa.

Khuya. Một chàng trai đầu đội mũ tai bèo, lưng đeo ba lô, chân đi dép lốp, đứng tần ngần hồi lâu. Anh ta đến trước nhà toan gọi cửa, nhưng rồi chẳng biết nghĩ sao bước đến gian bếp kéo tấm liếp qua một bên rồi đi vào mắc võng nằm, giở tấm đắp trùm kín đầu.

Trời mờ sáng. Cửa nhà trên mở, một người đàn bà còn trẻ bước ra sân làm mấy động tác tập thể dục. Chợt nhìn vào bếp, chị không ngạc nhiên vì ở đây thường có người đi công tác, nhất là bộ đội, nhỡ độ đường đêm hôm ghé nghỉ nhờ. Chị tới gần, dịu dàng hỏi:

- Ai nằm đây nhỉ?

Chị hỏi đến lần thứ hai, nói to hơn, người nằm võng mới cựa quậy, cái đầu ló ra cất giọng yếu ớt:

- Tôi là bộ đội. Tối qua khuya quá, không tiện gọi cửa.

- Chú lên nhà nằm cho kín gió. Ở đây sương xuống lạnh lắm.

- Em nằm nán chút nữa rồi phải đi đây.

- Chú còn phải đi xa không?

- Em về phép. Nhà em trước ở đây.

Người hỏi ngớ ra một chút:

- Chú là Chiến phải không? Đây là nhà chú rồi. Tôi là Mai, giáo viên, sơ tán từ thành phố về, mới chuyển đến đây ở với mẹ chú. Bà cụ nhắc đến chú luôn. Chú lên nhà đi, cứ để võng đấy tôi thu dọn cho.

- Mẹ em thế nào?

- Bà vẫn khỏe, thỉnh thoảng se mình tí chút. Chỉ có điều hay nhớ và lo cho chú. Sao chú chẳng có thư từ gì cả?

- Em gửi, không thấy hồi âm, tưởng đơn vị di chuyển luôn nên thư khó đến. Vậy ra thư em lại bị lạc.

Cô giáo Mai nhìn kĩ anh lính. Một vết sẹo dọc má làm khuôn mặt hơi lệch đi. Miệng khuyết một chiếc răng cửa trên, mỗi khi nói chàng trai như có ý kéo vành môi xuống để che bớt.

- Chú gầy và xanh quá. Để nấu cháo tẩm bổ cho chú.

- Em ăn cơm được. À, chị này! Chị đừng bảo trước với mẹ em nhé. Để xem có nhận ra không?

Cô giáo đưa Chiến lên nhà đến chiếc phản ở góc phía đông rồi đánh thức bà mẹ đang ngủ đầu giường phía tây.

- Bà ạ, có một anh bộ đội về phép ghé qua nghỉ nhờ, trông ốm yếu lắm. Tội quá, hay ta giết gà bồi dưỡng chú ấy, kẻo rồi mẹ chú ấy cũng không nhận ra con.

- Ờ, cô bắt con nào choai choai, ngọt thịt.

- Không. Phải bắt con mái ghẹ béo nhất chuồng cơ. Để bồi dưỡng bà nữa chứ. Đã lâu bà ăn uống kham khổ mãi rồi.

Bà mẹ dậy, bước đến bên chiếc phản nhưng người nằm đó đang trùm kín đầu, hình như ngủ say. Bà đi xuống bếp. Chiến hé chăn nhìn theo. Anh đã toan nhỏm dậy.

Dưới bếp, bà Mị nhóm lửa đun nước, chờ cô Mai đi bắt gà. Ngồi nhìn ánh lửa, bà nhớ đến con trai.

Ngày ấy, Chiến nằng nặc đòi đi bộ đội tuy vào diện được miễn. Bạn bè cùng lứa đều đi cả, cu cậu cảm thấy chán học. Khuyên nhủ con không được, bà cũng không nài ép. Tiễn con lên xe nhà binh rồi, bà về nhà ngồi khóc lặng lẽ.

Mai giúp bà Mị làm cơm xong, bàn với bà mời cả ông Vạn, chú ruột của Chiến. “Chẳng mấy khi ăn tươi bà ạ”.

Chiến được gọi dậy, rửa mặt xong thì mâm cơm đã sẵn sàng. Ông Vạn hỏi chuyện anh bộ đội, không để ý bà mẹ đang chú mắt nhìn “người khách bỗng dưng”. Anh chàng hơi thẻn mẻn nhưng ánh mắt có tia tinh nghịch. Chợt bà mẹ bật khóc.

- Sao vậy bà? - Mai hơi hoảng - Đang vui mà.

- Chẳng biết thằng Chiến bây giờ đang ở đâu? - Bà nghẹn ngào - Hai năm rồi chẳng có tin tức gì cả.

Mai cười giòn, trỏ tay về phía Chiến:

- Bà nhìn kĩ xem ai đây!

Bà mẹ va tay vào mâm làm đổ bát canh. Bà vươn tay run run sờ vết sẹo trên má con.

Ông Vạn hỏi:

- Anh bị thương trong trận nào?

Chiến kể, anh gặp thám báo địch trên đường rừng Trường Sơn. Anh vật lộn với một tên, bị nó đâm, anh né tránh, mũi dao sượt qua má. Địch bỏ chạy lẩn vào rừng khi đồng đội của anh hô nghi binh.

Xong bữa, Mai tranh bà mẹ mang các thứ đi rửa. Ba người ngồi lại, bà Mị hỏi con:

- Con về phép hay là…

- Ra viện, con được nghỉ phép năm ngày.

Chú Vạn bàn:

- Ta tranh thủ cưới vợ cho nó, chị ạ.

- Cháu của chú đấy, chú lo liệu được sao thì tùy chú.

- Chỉ sợ chị trách tôi bao biện thôi. Hà, hà,… Còn đám nào hơn nữa? - Ông chỉ tay ra sân.

Chiến giẫy nẫy:

- Ấy! Chị ấy đáng bậc chị của cháu.

Bà mẹ chép miệng:

- Được người như thế thì còn gì bằng. Chẳng với được. Vả, cô ấy cũng có nơi có chốn rồi.

Ông chú đập tay vào đùi:

- À, cái Thìn xóm bên, giờ đang ở đội bèo hoa dâu của hợp tác xã. Anh Chiến có lẽ chẳng biết đâu, khi anh đi nó hãy còn bé tí.

Chiến cười nụ:

- Thìn con ông Đề hở chú? Bây giờ chẳng biết còn nhận ra nhau không, chứ hồi trước chi đoàn giao cháu phụ trách đội thiếu nhi do cô ấy làm đội trưởng. Hay dỗi mà lại bướng ra phết.

Ông Vạn cười khà:

- Vậy là chỗ quen biết cả. Trưa nay anh đi với tôi.

Chiến đưa tay sờ mặt:

- Cháu bây giờ thì ma nào dám nhận làm chồng.

- Hề, hề, hề,… Anh coi thường tinh thần các cô gái làng ta quá.

Thiện ý của ông chú không thành. Khi biết anh bộ đội đến nhà là anh phụ trách đội thiếu nhi ngày trước, cô cựu đội trưởng thiếu nhi tỏ ra niềm nở. Nhưng Chiến chẳng thể quên ánh mắt cô hơi sững ra lúc vừa chạm mặt mình. “Khi nhận lời yêu là anh bộ đội. Khi sống cùng là người thương binh” - hình như đã có ai nói vậy. Viện cớ ít ngày quá chưa kịp hiểu nhau, Chiến hẹn với mẹ cũng như với “đối tượng” sẽ trao đổi qua thư từ và nếu có gì thì sẽ bàn dứt điểm vào kì nghỉ phép sau. Biết là thêm nỗi buồn cho mẹ, anh tha thiết cậy nhờ cô giáo Mai năng gần gũi mẹ mình.

Trên đường vào lại chiến trường B, Chiến tranh thủ viết cho mẹ. Lá thư viết vội ấy đến tay người nhận sau gần một tháng.

* * *

Mai đang dò sóng trên chiếc đài bán dẫn. Một tiếng đọc giọng nam vừa cất lên “Mời các gia đình…” bị lướt qua. Chị vặn trở lại nút xoay. Tiếp “…xâm nhập Việt Nam cộng hòa nghe nhắn tin”. Chị tò mò lắng tai. Hai cái tên trước với địa chỉ ở đẩu đâu qua đi. Rồi tiếng con gái giọng Nam pha Bắc: “Nhắn gia đình anh Lê Quyết Chiến. Con, Trần Mai Hương. Xin chào má Bùi Thị Mị ở đội 2, hợp tác xã…, xã…, huyện…, tỉnh… Con là vợ anh Chiến. Trong một trận đụng độ gần Khe Sanh, anh bị thương nặng và bị đồng đội bỏ lại. Anh đã lết suốt đêm lạc vào vườn nhà con. Gia đình đã tận tình cứu chữa và nuôi dưỡng. Sau khi bình phục, anh đã gá nghĩa cùng con. Anh tỏ ý ngán chuyện cầm súng tham gia cảnh nồi da nấu thịt. Anh mong muốn được sống hòa bình yên vui. Chỉ cần cộng sản đình mộng xâm lăng thì hết cảnh thịt rơi, máu đổ. Anh bảo con nhắn má là hãy an lòng. Nếu càng nhiều người tỉnh ngộ thì mẹ con ta càng chóng đoàn tụ. Ai nghe được lời nhắn này xin hãy báo lại cho bà…” Mai đứng vụt dậy, định đánh thức bà Mị, nhưng chưa cất bước, chị đã kịp nghĩ lại. Chị tắt đài, ngồi trầm ngâm nghĩ ngợi. Tại sao?

* * *

Cô giáo Mai đến gặp Phòng Thương binh - xã hội tại nơi sơ tán. Cô thay mặt bà Mị hỏi sao đã mấy tháng nay bà không nhận được tiền trợ cấp gia đình bộ đội đi B. Người tiếp chị, sau khi đã biết mối liên hệ giữa chị và bà Mị, đã nói lí do và tiếp:

- Chúng tôi chưa tiện công bố vì sợ ảnh hưởng xấu về chính trị. Chị hẳn cũng hiểu là không thể đem của mồ hôi, nước mắt, cả máu nữa, của nhân dân đi trợ cấp cho gia đình một kẻ phản bội.

- Đích xác như vậy sao?

- Chị là giáo viên, lại ở trong nhà bà Mị, chúng tôi xin nói thật để chị tiện xử trí và giúp chúng tôi liệu việc cho êm thấm trước mắt. Người ta đã nghe chính vợ thằng Chiến nhắn tin qua đài ngụy.

Thì ra họ cũng nghe đài địch, và tin ngay - Mai nghĩ thầm. Chị rất hồ nghi chuyện nhắn nhủ ấy, nhưng nói thế nào để khỏi lộ ra là mình đã lén nghe đài cấm đây? Từng câu nhắn của đài Sài Gòn trở lại trong đầu chị. Chị lựa lời:

- Tại sao không tự mình Chiến nhắn mà phải qua vợ nó? Có thể là một sự bịa đặt chăng!

 - Chắc là thằng này không dám quá muối mặt. Còn thì đích xác rồi. Bịa đặt sao lại có thể chính xác đến tên đội sản xuất.

- Tôi e đó là trò chiến tranh tâm lí. Nắm tên, địa chỉ, hẳn là chẳng khó đối với chúng.

Viên trưởng phòng làm mặt lạnh, trở giọng nghiêm nghị:

- Cấp trên đã cho ý kiến rồi. Không phải việc của chị. Tôi nói với chị để chị liệu cách giải thích cho bà Mị tạm yên tâm. Tuyệt đối, chị không được hở chuyện kia với bất cứ ai!

Mai đạp xe trở về, trong đầu vấn vương bao câu hỏi.

Từ đấy, bà Mị vẫn âm thầm sống mà lo việc đồng áng, liệu việc nhà. Vắng dần sự “ưu tiên”, sự “chiếu cố” của hợp tác xã và xã một cách khó nhận thấy, hoặc có nhận thấy thì người ta chỉ cho là nhiều việc quá nên sao nhãng.

Mai được nhắc nhở nên chuyển nơi trọ, nhưng chị viện cớ để lần lữa.

Sau ngày đất nước tái thống nhất, cô giáo đã chuyển về thành phố, thỉnh thoảng đến thăm bà, song cũng chỉ có thể an ủi và chia sẻ nỗi niềm khốn khó. Một lần, chị đến với bà và ngủ lại. Khuya, chị chợt thức giấc nghe mơ hồ có tiếng sụt sịt. Không thấy bà nằm cạnh, chị soi đèn pin thấy bà đang đứng gục đầu vào bức vách trên đó có đính mấy tấm bằng khen của Chiến thời đi học. Bà chỉ còn mỗi nơi đó để khóc và vào lúc như thế này thôi, chị xót xa nghĩ.

* * *

Năm 199…, Mai đọc được tin phía Mĩ có giao cho ta một số hồ sơ, tài liệu về quân giải phóng họ nhặt được sau các trận đánh. Chị thay bà Mị đề nghị xem có gì liên quan đến Chiến không. Sau bảy tháng, được trả lời. Có di vật của Lê Quyết Chiến, song chỉ là một phong thư gửi mẹ với đầy đủ tên họ, địa chỉ, đề ngày… năm 196…, và lời phỏng đoán của phía Mĩ rằng người này đã chết trong một trận đánh gần sông Bến Hải. Chị tức tốc về địa phương đề nghị xét công nhận liệt sĩ cho Lê Quyết Chiến. Người ta bảo: Đó chưa phải là chứng cứ!

Bà Mị đã yếu lắm. Mong ước duy nhất của bà là đưa được nắm xương của con về quê. Mai tự đứng ra nhận sự ủy thác của bà. Theo cách người ta, chị tìm đến một nhà ngoại cảm tiếng tăm. Bà này sau khi hỏi han mọi nhẽ hẹn ngày đến điện thờ của bà để cầu vong. Và "vong" Chiến đã báo cho biết nơi mình tạm gửi thân xác mà hôm nay, Mai thay mặt bà Mị dẫn đoàn người giúp tìm mộ đến đây. Nhà ngoại cảm ngồi ngoài Bắc vẫn theo sát hướng dẫn, nhắc nhở. Lần đầu, Mai đến bên bờ con sông mà một thời người dân Việt ở cả hai miền cảm thấy như một bức tường ngăn vô hình rất khó vượt qua. Từ sau ngày đất nước hòa bình trở lại, nhiều người đã được trông thấy con sông lịch sử, con sông “nhức nhối”, con sông “chia cắt”, con sông “ao ước”, nhưng thường chỉ được nhìn vút qua khi xe băng cầu Hiền Lương. Mấy ai được thả hồn dõi theo dòng chảy lặng lờ, nhìn ngắm đôi bờ mà hình dung quang cảnh những ngày chia cắt, những ngày bom đạn. Mai chẳng được thong dong để suy tưởng, song chị cũng có những xốn xang khi đến bên con sông, mặc dù mối bận tâm của chị hướng về lòng đất bên bờ sông.

* * *

Mọi thủ tục đã xong xuôi. Nhà chức trách sở tại có nhã ý cử người đi cùng giúp lo liệu, nhưng thấy họ đang bận rộn chuẩn bị cho lễ hội gì đó, chúng tôi cảm ơn và hứa sẽ báo cáo kĩ sau khi xong việc.

Chúng tôi nhanh chóng bắt tay đào nấm mả, theo lời nhà ngoại cảm. Đất pha sỏi hơi khó đào. Sâu xuống chừng hơn một mét gặp một lớp ván gỗ mục gần hết. Nhẹ tay cời lớp gỗ mùn, lộ dần ra một bộ hài cốt hầu như còn nguyên vẹn. Chúng tôi cẩn trọng và tỉ mỉ bốc lên đặt vào tấm vải nhựa trải trên mặt đất gần kề. Sau khi rửa lần cuối bằng nước thơm và lau khô, chúng tôi chuẩn bị xếp vào cái tiểu sành sắm sẵn mang theo.

Thốt nhiên, tôi giật mình, tim muốn đứng. Tôi vừa nhận ra một chi tiết nhỏ nhưng chẳng hề nhẹ: Cái sọ nhe trọn bộ răng đầy đủ, mà Chiến thì… Tôi sờ xem rồi bảo mấy người cũng thử xem kĩ hàm răng trên của cái đầu lâu có chiếc răng cửa nào là răng giả không. Tuyệt đối không! Làm sao đây? Có người hỏi: “Chị chắc chắn là không nhớ nhầm chứ?”. Nhớ nhầm sao được! Có lời bàn: Hay là cứ mang về, ít ra cũng để cho bà mẹ già yên tâm mà nhắm mắt. Không được! - Tôi kiên quyết - Không thể làm chuyện đánh tráo, không đánh lừa lòng mong mỏi của một người mẹ. Có người gợi ý rằng cứ cho thử ADN, biết đâu… Dứt khoát chẳng thể có chuyện “biết đâu” ấy! Chợt một ông lão đi tới:

- Các anh chị đến bốc mộ người thân à? Sao biết mà tìm đến đây? Ờ, phải rồi! Tháng trước có người đến hỏi lai lịch cái mả này. Dân làng chẳng mấy ai thật tường ngọn nguồn.

- Cụ bảo sao cơ?

- Trận lụt lịch sử ở tỉnh ta năm Thân ấy mà. Sau khi nước rút, xác anh thanh niên này mắc vào đám tre đằng kia kìa. Chúng tôi đợi người tới nhận về. Hồi ấy, chưa dùng đài truyền hình để thông báo rộng rãi. Chúng tôi cứ trông mãi… Đến khi cái xác bốc mùi phải xin với trên cho chôn cất.

Thì ra đây là mộ vô chủ. Có người đến hỏi lai lịch… Tôi nghĩ là mình đã vỡ lẽ. Quả là nhà ngoại cảm cao tay thật!

* * *

Bà Mị không chờ được để đón hài cốt đứa con trở về. Mai coi đây là niềm ân hận lớn nhất đời mình.

Hơn một năm sau ngày bà mẹ đi tìm con trai ở thế giới bên kia, một người con gái nói giọng miền Nam tìm về xã hỏi nhà bà Mị, nói là người thân của Chiến. Cô tên là Lê Hoài Bắc. Người của địa phương chỉ cho cô đến nhà ông Vạn.

Hoài Bắc không biết thật rõ nguồn gốc của mình. Những gì cô còn có thể nhớ được là câu trả lời của má “cha con ở xa lắm” với lời dặn “chớ hỏi mà cũng chớ nói với ai những câu như rứa”. Chắp nối những gì cô gái tự biết và nghe mẹ kể, cô giáo Mai hình dung ra bước luân lạc của một câu chuyện đậm mùi tiểu thuyết.

Bệnh xá của “cứ” trong rừng. Cô y tá Vi được phân công chăm nom mấy thương binh đang hồi phục sức khỏe trong đó có Chiến. Ngày chàng lính trinh sát xuất viện cũng là ngày cưới của hai người. Một lễ cưới giản tiện, vì chỉ như là một sự công nhận được ngủ với nhau hợp lệ. Quà cưới sang nhất là mấy kiểu ảnh được một phó nháy bệnh binh chụp giúp. Họ chỉ chung sống với nhau vỏn vẹn ba ngày. Chiến tìm về với đồng đội rồi bặt tin luôn, song đã kịp gửi lại một giọt máu nơi người vợ trẻ. Khi cô y tá đã có dáng ậm ạch, trạm xá bị kẻ địch “săn sóc” quá phải di chuyển luôn, người ta tìm cách gửi cô cho một gia đình cơ sở cách mạng, đâu như ở vùng Vĩnh Linh. Chẳng hiểu sao, gia đình này phải phiêu bạt và rồi di tản về phía nam mang theo mẹ con bé Bắc, lúc bé mới chừng ba tuổi.

Hai miền hợp nhất, chị Vi muốn đưa con tìm về quê nội theo địa chỉ cha nó để lại. Chị đến ban quân quản nhờ giúp đỡ, chị nghĩ chồng chị, cả chị nữa, đều cùng từng là bộ đội cụ Hồ như họ, chắc dễ được cảm thông. Nhưng người ta nhìn chị ngờ vực. Chị chỉ còn giữ được tấm ảnh cưới. Chị kể tên đơn vị cũ và tên một số đồng đội cũ của chị, tên đơn vị cũ của chồng. “Mù mờ quá! Để chúng tôi còn thẩm tra”. Chị nhờ mục nhắn tìm đồng đội trên đài, báo, nhưng không thấy kết quả. Chị lưu lạc đã quá lâu! Chị gửi cho bà Mị hai lá thư. Lá đầu bặt tăm, lá thứ hai bị trả lại với dòng ghi nguệch ngoạc ngoài bì “không có người nhận”. Chật vật cuộc mưu sinh, chị phải tạm gác chuyện chắp lại dòng đời cho con, song không nguôi hi vọng. Nhưng rồi chị đã phải nằm xuống. Trước khi ra đi vĩnh viễn, người mẹ dặn lời cuối cùng: “Con cố tìm về quê cha để họ hàng biết đến sự có mặt của con trên cõi đời này”.

Chẳng dễ mà Hoài Bắc được nhận họ ngay. Người trong tấm ảnh cưới mà cô mang theo đúng là Chiến với cái sẹo bên má chẳng thể lẩn với ai khác, nhưng vẫn có ý kiến nghi ngại: “Nhận vơ chăng!”. Nhưng mà để làm gì? Phải đâu để đòi gia tài như chuyện từng xẩy ra trong phim, cả trong đời thường. Cô giáo Mai được ông Vạn gọi điện báo cho biết. Cô sực nhớ đến lá thư cuối cùng Chiến viết cho mẹ mà không kịp gửi, trong đó có nói về lễ cưới của mình với cô y tá Vi tại một bệnh xá trong rừng. Khớp với những gì mà đứa con “rơi” của anh đã kể lại.

Cuộc họp họ long trọng chào đón một người thân phiêu bạt trở về. Cuộc đoàn viên bất thường có mặt cả bà con chòm xóm đến chia vui. Ai đó bỗng nói to: “Bây giờ có nên truy xét chính sách đối với bà Mị và anh Chiến không nhỉ?” Câu hỏi không có câu trả lời.

* * *

Ngồi bên Hoài Bắc trong cuộc họp mặt, tôi càng thấm thía nỗi ân hận của mình.

Bây giờ nắm xương tàn của Chiến lạc nơi đâu trong lòng đất Quảng Trị? Tôi nghĩ đến cái tên mà vợ anh đã đặt cho đứa con không may của chị. Phải chăng di cốt của anh cũng đang “hoài bắc”! Thôi thì anh đã về đất, đâu cũng là đất mẹ, đâu cũng là quê mình. Nghĩ vậy mà lòng tôi se lại.

K.N

KHẢI NGUYÊN
Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 239

Mới nhất

Thông báo về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí

13/04/2026 lúc 22:15

THÔNG BÁO Về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí Kính gửi quý bạn đọc,

31/07/2025 lúc 15:23

Tạp chí Cửa Việt - 35 năm một chặng đường

28/06/2025 lúc 16:18

Ngày 28/5/2025, Tạp chí Cửa Việt tổ chức lễ kỷ niệm 35 năm tạp chí ra số đầu tiên và gặp mặt cộng tác viên năm 2025. Tại buổi lễ, Phó Tổng biên tập phụ trách Hồ Thanh Thọ đã có bài phát biểu khai mạc...

Vùng trời hoa sim

26/06/2025 lúc 23:29

Những triền sim tím đồi xaBềnh bồng nâng gót mùa qua lặng thầm

Hương xưa; Nắng sớm

26/06/2025 lúc 23:27

Hương xưa… Ta về tìm lại hương xưa

Tạp chí số cũ
Câu chuyện du lịch
tư tưởng Hồ Chí Minh

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

22/04

25° - 27°

Mưa

23/04

24° - 26°

Mưa

24/04

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground