Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 15/04/2026 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Viên gạch lạ

Không hẳn anh là người thiếu tài. Tía thường tự nghĩ về mình như thế. Ở ngành điêu khắc và tốt nghiệp Đại học mỹ thuật xong, anh bị ném vào đời với hai bàn tay trắng. Không có cơ quan nhà nước nào nhận cho anh công tác. Người ta đã trả lời: cơ quan cần điêu khắc để làm gì, nếu cần tượng đài hay mô hình thì người ta phôn một tiếng là đã có hàng chục kẻ thầu rồi - mà trong đấu thầu dù “bên B trèo hái suốt ngày” thì là “bên A” thế nào chả được chia phần “khế ngọt”! Tía đành phải tìm bạn bè cùng học hay đàn anh, hay lớp trước. Chỉ cần nhún mình tôn họ lên sư phụ, sư huynh thì vẫn có thể sống được.

Hơn mười năm nay. Tía đã sống như vậy. Cái ước vọng có tác phẩm vừa lòng hay hài lòng cứ mờ dần, mỗi lần nhậu nhẹt cùng bạn bè, câu đầu lưỡi “tác phẩm vĩ đại” cũng được anh hưởng ứng, cũng “dô... dô...” rôm rả trong mùi rượu và khói thuốc lá kín phòng. Nhưng sau đó lại lắng đọng, lại suy nghĩ như “người suy nghĩ” của Rô-đanh! Bởi theo anh, tất cả các tượng đài tôn vinh chiến thắng của chúng ta - anh rất đồng tình với nhiều bạn bè - đều chưa vượt qua cái ngưỡng tượng “áp phích” hay là tượng cổ động (cũng theo từ riêng của anh). Đáng lẽ, đứng trước một tượng đài nghĩa trang, người đến viếng phải được xúc động, phải có một chút đau buồn, thương tiếc và quý trọng trước những con người vĩnh viễn nằm tại đấy! Chừng như chúng ta mãi chấp nhận một cách cổ vũ và gần như công thức đồng điệu khắp các tỉnh, thành, làng, xã. Càng lên với những đơn vị cao thì chất liệu càng có giá - tất nhiên tiền của phải tăng lên rất nhiều lần.

Anh cũng từng nặn tượng chân dung. Anh cho rằng nặn tượng chân dung không khó lắm! Thường thường người ta chỉ chấp nhận “giống” là đủ. Chưa có ai bàn đến cái “thần” của tượng. Cái việc đắp một mớ đất sét lên cái chốt và mớ dây kẽm ngùng ngoằng rồi vo vo hòn đất, ném vào chỗ này, chỗ kia, tay vuốt vuốt, dùng cái bay gỗ xén, gọt, ấn để tạo cho cao thấp của cơ mặt, thật chỉ đúng là một việc “chụp ảnh” bằng đất, sau đó đổ thạch cao, đổ đồng, kể cả đục đá tưởng như không giới thiệu thêm được gì trên cái khối hình ấy.

Thế rồi, Tía lại trở về cái cội nguồn của mình, một cội nguồn có cái biểu tượng rất hay: Non Mai, sông Hãn. Mai là núi Mai Lãnh - chả biết nơi ấy có nhiều hoa mai không, và sông Hãn - sông Thạch Hãn - cũng là một cái tên gây bàn cãi. Người nói hãn là đá chắn, người nói hãn là mồ hôi, bởi các cụ xưa viết chữ nho mỗi người một khác, con cháu biết đâu mà lần. Tía nghĩ điêu khắc thì khó mà diễn đạt được cái non Mai, sông Hãn ấy. Chỉ có con người, con người của quê hương anh, chiến đấu dũng cảm, chịu đựng khắc khổ gió Lào, cát trắng, bão bùng mà đến nay vẫn tồn tại một cách chắc chắn, khoẻ khoắn, bớt dần mọi cơ cực “cơm bữa diếp” như anh từng nghe biết. Mà trung tâm điêu khắc cũng chỉ là con người. Đúng thế! Và anh đi, tiếp tục đi, cứ thế, tìm đề tài...

Và chiều nay, anh đã lên đây. Đến đúng cái làng An Tiêm mà anh định tìm. Anh đã đi nhiều nơi, đã xem rất nhiều sách ảnh, sách truyện kể về những anh hùng liệt sĩ của hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, cả nhiều vị tiền bối đấu tranh cho lịch sử dân tộc và cách mạng. Anh khâm phục họ. Anh còn gặp được rất nhiều anh hùng chiến đấu mà tên tuổi cứ ngời ngời như những vì sao không bao giờ tắt. Những bà mẹ, những em bé đầy chiến công vinh quang. Người còn sống thường ở tuổi già nua, người đã mất dừng ở tuổi của anh, hay ở tuổi lúc anh mới ra trường. Mỗi gương mặt đều khác nhau - tất nhiên - nhưng lại giống nhau về chiến tích, chiến công - cái điều mà anh thấy rất khó khăn trong biểu hiện một chân dung. Mà tượng chân dung, hay cả tượng đài, đâu phải là nơi để kể chuyện! Giá mà anh là nhà văn, nhà tiểu thuyết!

Tía đã có mặt tại đây, trong ngôi nhà bác Mẫn. Một lão nông thực thụ, chiếc áo sơ mi chắc là màu trắng đã chuyển sang màu vàng, và chiếc quần tây cũn cỡn lên đến nửa cẳng chân, hẳn là “thời trang” cách đây ba, bốn thập kỷ. Hàng ria mép lưa thưa, và râu cằm cũng chỉ lún phún đủ giới thiệu cái khoảng tuổi trên sáu mươi hay chừng đó. Bác mở đầu, với cách nói của người hơn tuổi:

- Ngồi chơi.

- Dạ…

Tía ngồi xuống theo lời bác. Trong khi bác Mẫn rót nước ra chén, Tía lướt mắt xung quanh. Nhà cũng xuềnh xoàng, lớp phibrô xam xám màu tro bếp. Phía phải có một chiếc giường con, có chiếc màn cũ vắt gọn lên. Phía trái, bên trong là buồng, ngoài kê một giường to phủ chiếc chiếu hoa màu đã nhạt. Tất cả nói lên rằng tất cả đã thuộc về quá khứ.

- Mời nước - lại vẫn cách nói không chủ từ ấy. Nước chè tươi, vườn nhà trồng đấy, đất này trồng được. Tất “diên” không bằng cái chè chợ Do, chợ Vĩnh được. Ngoài ấy là đất đỏ mà! Bác vẫn quen với một số tiếng đặc Quảng Trị “nh” thành “d”!

- Thưa bác, cháu ở ban Thương binh xã hội xã về! Nghe nói bác biết chuyện về một liệt sĩ mà bác đang thờ.

- Ờ phải. Đó... viên gạch đó!

Và bác chỉ tay lên đúng cái bàn thờ nhỏ xây bằng gạch bên cạnh chiếc bàn thờ lớn, cao hơn bằng gỗ. Bàn thờ lớn có bát hương to ở giữa và hai bên có hai cây đèn bằng đồng. Phía sau một cây đèn có một lọ hoa bằng sứ màu xanh, bên trên đã rũ những cành hoa khô quắt lại. Có một chiếc khung kính phủ một tấm vải đỏ, không biết bên trong là ảnh hay chữ viết. Bàn thờ nhà thấp hơn, cũng có hai cây đèn, một bát hương, và thay vào chiếc khung kính như bàn thờ lớn là một viên gạch. Đúng hơn là một khối gạch vuông liền - giống như năm sáu viên chồng lên nhau, liền mặt, có rãnh vạch dấu như từng viên xếp lại.

- Tôi thờ “anh” lâu rồi. Rứa anh làm việc chi. Nhà báo à?

- Thưa bác, cháu là điêu khắc,... là đắp tượng, nặn tượng... cũng nhiều việc lắm.

  - Thì cũng là đúc tượng chơ chi. Giỏi! Cục đất, cục đá mà thành ông này, ông kia, các anh thiệt giỏi. Chắc học hành nhiều lắm. Thế anh là người đâu?

- Dạ, cháu là người Bích La, cũng gần đây thôi!

- Ừ, tôi biết! Đây An Tiêm, xuống Nại Cửu rồi xuống Bích La. Đó là đường ngoài. Còn phía sông thì gần hơn. Cùng sông Vĩnh Định cả mà. Bắt múi từ sông Thạch Hãn - chỗ chợ Sãi ấy - sông đào thôi, đến cuối An Tiêm thì chia hai, ngã về Ngô Xá, ngã qua Bích La rồi về Phú Liêu. Ngày trước cũng rộng, nhưng bây giờ hẹp nhỏ đi nhiều. Lại có cái cầu kênh đập Trấm chặn ngang, nên từ thị xã về Bích La đi qua cũng được

Tía cảm thấy như sốt ruột với điều mình mong chờ, mà với bài địa lí sông núi của bác Mẫn, Tía cũng đã có biết một phần, nên Tía lễ phép thưa:

- Cháu muốn bác cho biết nguyên do hay sự tích về viên gạch mà bác đang thờ.

- Được thôi! Cũng may mà còn đó, chứ như đem chôn viên gạch ấy ngoài nghĩa trang, thì bây giờ làm chi có chuyện anh đến đây mà hỏi tôi nữa! May là còn! Cũng nhờ ông Lự ngày xưa làm gạch ở lò bà Trùm Điềm ở Ba Bến. Lò gạch của bà lớn lắm, nhiều thợ lắm, trước kia cả cái vùng Triệu Phong, Hải Lăng, Cam Lộ đều "ăn" gạch của bà. Viên gạch thờ này cũng từ lò gạch bà ấy, qua tay ông Lự thợ gạch mới về đến tôi thờ. Bà cũng có hai người con đi kháng chiến - ông Đẩu, ông Thược, sau ra Bắc, nghe làm chi cũng to, nhưng rồi chẳng ai nối nghề làm gạch của bà cả. Tội nghiệp ông Lự mới chết gần đây thôi. Chuyện xa xưa lắm rồi. Từ năm ‘46, ‘47. Đúng là ‘47. Cách đây hơn năm chục năm! Tôi hồi ấy là con nít, nhưng rồi nghe ông già kể lại và cũng là nguyện vọng của ông kiếm được viên gạch ấy mà thờ.

Bác Mẫn như mở từng nút, từng nút trên một sợi dây thừng dài. Tía đôi lúc muốn cắt ngang để hỏi ngay sự việc, nhưng cũng lại sợ mình mất lịch sự, nhỡ bác ngừng ngay câu chuyện thì cái đích của mình muốn đến khó đạt. Anh đành kiên nhẫn, uống từ từ vài ngụm nước trong cái chén nước chưa được rót thêm.

- Chà, ham nói chuyện rồi quên uống nước!

Hình như cái máy nói của bác đã bắt đầu vận hành, không còn nhát gừng như trước.

- Phải nói về ông già tôi trước đã. Cha tôi trước ở làng, họ hay gọi là ông Binh Tập, có chữ binh là do ngày trước ông đi lính mộ sang Pháp đánh Đức. Nói là đi lính, chẳng qua là một thứ phu phen sang đào hầm, đào hào với khiêng xác chết lính Pháp mà thôi. Tưởng họ mạnh hoá ra họ có đánh đấm gì đâu, chưa mấy chốc đã đầu hàng. Nên ông già tôi cũng được về sớm.

Không có việc làm, lại ruộng nương ít, ông sinh ra cái nghề ăn trộm. Anh đừng cười, nghe đâu ông cũng “nổi tiếng” cả một vùng. Mà cũng lạ, người làng cũng không ai ghét ông lắm. Hoá ra cái làng này họ ghét quan quyền với người giàu. Nên ông già tôi thường nói “tau lấy bớt của người giàu, chớ tau có lấy của người nghèo đâu!" Bây giờ nói đến chuyện ăn trộm, ăn cắp thì xấu hổ đáng ghét, chứ hồi ấy xem ra họ cũng thương. Mà hồi ấy, hình như cả nước đều ghét Tây. Có dạo một thằng Tây đoan hay gọi là Tây Thương Chánh về làng với vài thằng lính bắt rượu “lậu”. Buồn cười là rượu mình nấu ra, hắn gọi là rượu lậu. Hoá ra để cho bọn độc quyền bán rượu của chúng. Dân làng ghét và ùa ra đánh cho một trận tơi bời, vứt cả xe đạp thằng Tây xuống bùn, họ lột giày, lột tất, hắn phải chạy bộ vô Phủ. Nhưng Tri Phủ Nguyễn Văn Định cũng không bênh vực gì lắm, vì ông ta bảo về khám xét mà không thông báo cho Phủ biết. Chính là làng có lãnh đạo cách mạng rồi, nên mới dám thế. Cha tôi cũng có xông vô đánh thằng Tây ấy. Ông hay nói “Tau ở bên Tây, chúng nó nhát như cáy”.

Tía nhân đó cũng như góp vào cái hào hứng của bác:

- Làng ta có tinh thần cách mạng lắm, có cả nhà thơ viết bài thơ “tau với mi…” À nhà thơ Vĩnh Mai “tau với mi hẹn nhau từ khu bộ, cả hai thằng cố sáng tác văn chương...” trong “Khóc Hoài”.

- Ông Hoằng đó, chớ ai! Rồi như nhớ đang kể chuyện về cha mình, bác tiếp:

- Thế rồi khởi nghĩa, cách mạng tháng Tám bùng lên. May là cha tôi không việc gì, chứ nghe nói Việt Minh ghét nghề ăn trộm lắm. Rồi ông cũng được tham gia vô dân quân tự vệ, giữ làng, tất nhiên không còn dám đi ăn trộm nữa, một là vì sợ, hai là lo chuyện đánh Tây mà ông cũng đã biết từ trong gan ruột chúng nó…

Câu chuyện của bác như càng thêm những tình tiết hơn và như cũng hấp dẫn hơn. Tía thầm nghĩ “Phải có những người biết được nhiều quá khứ, thế mới phong phú cho cuộc đời chứ!”

- Lúc chúng chiếm được Huế rồi - vẫn lời bác - chúng tiến dần ra chiếm Quảng Trị. Kết hợp với cánh quân từ Lào về qua đường Lao Bảo. Mình cũng có đánh nhưng chưa đủ sức, nên cứ rút dần lui vào bí mật, để tổ chức đánh du kích. Giặc bắt đầu củng cố rồi tràn dần ra các nơi bằng càn quét. Ba bửu bối ban đầu của chúng là “đốt sạch, cướp sạch, giết sạch”. Về cái làng Mỹ Thuỷ, chúng bắn giết một lúc ba trăm người, từ người già, đàn bà, trẻ con không chừa ai! Về sau làng có một ngày giỗ chung là vì thế.

Khi chúng về làng này, nhân dân đã tản cư sớm, chúng cũng chạy xuống ngả Bích La, hay gì đó. Nhưng chúng đã bắt được hai người, một nam, một nữ - đều là cánh du kích cả. Người nam - chính là anh Đồng và nữ là o Thỏn. Chúng cho bọn Tây đen bắn giết, còn Tây trắng thì ít khi làm việc đó. Hình như chúng để cho dân mình ghét Tây đen hơn Tây trắng. Thì ra đó là trò lừa mị dân, chính chúng là những thằng gây ra tội ác. Sự thực thì Tây đen cũng bị nô lệ như mình mà thôi, nên về sau, Tây đen chạy sang hàng ngũ ta càng ngày càng nhiều.

Đây là lúc cha tôi liên quan đến việc anh Đồng và viên gạch về sau ít ngày chi đó. Số là khi bắt được hai người, chúng tra khảo anh Đồng để tìm ra cơ sở du kích và chính quyền, nhưng chúng không moi ra được một chút tin tức nào. Và thế là chúng đã chặt đầu anh Đồng. Còn o Thỏn - là nữ, chắc anh cũng đoán biết chúng sẽ làm gì!!!

Xác anh Đồng, cái xác cụt đầu chúng đem trói vào một cọc tre chôn xuống đất ở đầu làng để khủng bố dân. Nhưng ngay đêm du kích với dân quân đã mang về mai táng - người ta biết cái đầu của anh, chúng cũng lại cắm lên một cọc tre, và dựng phía trước đồn của chúng. An táng cái xác không đầu, người ta phải lấy một cái gối bông thay vào và gọi hồn nhập xác. Trong đêm lặng lẽ ấy không ai là cầm được nước mắt. Nhưng như bắt đầu quen với sự bí mật, người ta không khóc gào lên như thường thấy. Có lẽ lòng căm thù đã nén sâu tiếng khóc vào trong.

 Và đội du kích họp ngay “phải lấy được đầu anh Đồng về”. Đó là quyết tâm và cũng như là khẩu hiệu lúc này.

Bác Mẫn cứ nói thao thao như theo đà, nhưng Tía thì như uất nghẹn. Anh hình dung một cái đầu, một tượng chân dung tóc bù lên, mắt trợn trừng với hai hàm răng xiết chặt căm hận và đau đớn. Anh thở mạnh, hồi hộp trong khi bác Mẫn cứ nói, cứ nói... và chính anh cũng nghiến chặt răng lại. “Lịch sử chiến tranh - hay kháng chiến là như thế, và cội nguồn, con người quê hương anh là như thế...” Rất nhiều suy tưởng đến trong anh cùng một lúc...

- Phải gọi Binh Tập đến! Đội trưởng du kích nói. Có ý kiến cho rằng “Binh Tập là...” chưa hết câu, đội trưởng đã tiếp “chính cái nghề ăn trộm của anh ta là có thể làm được việc này. Bò, trườn trong đêm chắc anh ta quen lắm nên, nên”.

Cha tôi đến. Ông xin thêm một ý kiến:

- Làm sao mà đánh lạc hướng bọn trong “bốt” thì tôi lấy cái “trôốc” - à cái đầu anh Đồng mới dễ.

Một du kích khác nói ngay, cho thằng Tún giả làm tiếng chó sủa sau đồi, để phía trước này mình bò vô bưng “ trôốc” anh về.

- Hay, hay, phải đó.

Đúng y như kế hoạch, may đêm không trăng sao, Tún lẻn ra phía đằng sau đồn, bắt đầu sủa, rồi cắn, rồi gầm gừ tưởng cả một đàn chó đang tranh ăn hay cấu xé. Tiếng sủa lúc gần, lúc xa, inh ỏi.

Tên đồn trưởng ra lệnh bắn rào rào về phía ấy. Và hắn nói:

- Tưởng du kích diệt hết chó rồi, hoá ra vẫn còn. Bắn rát vào, có con nào chết, mai ra xách vô mà thịt. Hay là chó hoang càng hay, có thằng du kích nào lò mò đi, cho chúng mày sủa toáng lên, tau càng dễ trị.

Nhưng rồi tiếng chó sủa cũng im hẳn. Bỗng tên gác đồn phía cổng trước bắn mấy phát súng báo động, vì khi hắn nằm xuống nhìn ra cái đầu cắm cọc đã biến mất, không thấy bóng in lên nền trời.

Tên đồn trưởng gầm lên khi được báo cáo. Hắn dẫm chân thình thịch xuống đất:

- À chúng mày giương đông kích tây, ừ mẹo Khổng Minh, mẹo du kích đây. Đợi đấy! Thì ra trước lúc tên gác phát hiện ra, chính cha tôi và ông Lự đã bò giữa ruộng và đến tận chân cổng đồn ôm cái đầu của liệt sĩ mình về.

Nhưng cha tôi với ông Lự lại bàn nhau đánh lạc hướng chúng một lần nữa. Cha tôi giao cái đầu anh Đồng cho ông Lự rồi chạy ngược lên hướng khác. ông Lự ôm cái đầu bọc trong tấm khăn trùm đầu đen mượn của mẹ ông. Đó cũng là cái ý của cha tôi dặn ông Lự, vì cha tôi đã quen với việc đi đêm, và bảo thế cho nó khỏi lộ.

Gần sáng thì cha tôi về tới nhà và đến báo cáo với đội trưởng du kích. Đội trưởng hỏi luôn:

- Sao không đưa về đây?

- Dạ, ông Lự sợ đưa về đây ngay, nhỡ bọn giặc biết nó càn cướp lại thì mang tội với anh Đồng!

- Ừ cũng phải, cần thì mình về miệt dưới, có cái chiến khu đồng bằng chợ Cạn mình làm lễ truy điệu rồi tạm chôn ở dưới ấy sau yên rồi về ráp lại.

Qua một hồi dài kể lể câu chuyện, bác Mẫn như đã chuyển giọng:

- Đến đây, là đoạn ông Lự kể với tôi.

Ông ôm cái đầu trong bọc khăn đen trước bụng và chạy thẳng theo bờ sông, rồi lặng lẽ bơi qua. Đây gọi là Ba Bến. Ban ngày đò chèo cứ theo Ba Bến mà qua lại. Nếu bắt đầu từ bến Tả hữu qua Tri Bưu để khách lên thị xã lại vòng qua bến An Tiêm rồi vòng lại Tả hữu, nơi có lò gạch bà Trùm Điềm như trên tui đã nói. Ông Lự vốn là thợ gạch ở đó, nên năng đi về. Ông lại là tay bơi giỏi, nên có lúc đợi đò lâu, ông cứ bơi sang rất dễ dàng như người đi tắm. Nên hôm nay, mang cái “đầu liệt sĩ mình” ông cũng bơi luôn sang, vì lúc này trời chưa sáng hẳn, nên cũng chưa có đò chèo! Hơn nữa mấy bữa giặc càn, đò nôốc bà con nhấn chìm xuống sông hết.

Vừa lên đến bến được một lúc, tưởng yên ắng ông ngồi nghỉ thở, bởi cả đêm thức suốt rồi. Bất ngờ, tiếng súng rộ lên phía bên kia, thì ra bọn giặc đoán chừng, đã đuổi theo. Chả biết chúng cướp đâu được một chiếc đò, túm tụm nhau ngồi chĩa súng ra xung quanh, một vài thằng chèo.

Ông Lự cũng hơi hốt hoảng. Chạy nữa, chúng đuổi kịp thì nguy, ông vội vàng chui vào một bụi rậm, lách vào phía trong mấy lò gạch. Ông cho rằng chúng sẽ đuổi thẳng về miệt dưới, chứ không nghĩ ông sẽ nấp lại đâu đây.Và đúng thế thật, chúng không vào lò gạch mà cứ chạy thẳng theo đường cái. Thật là may.

Lại một bóng người ló ra từ trong lò gạch. Tưởng như mình bị lộ, nhưng đó là bạn lò gạch với nhau: ông Quán. Ngày ông bán quán ở ngoài, tối vào bảo vệ lò cho bà Trùm Điềm. Ông Lự với ông bèn nấp vào phía sau những đống đất sét to như những đụn rơm có phủ kín.

Sau khi đã ngớt tiếng súng ở ngoài. Ông Quán hỏi:

- Tìm chỗ nào, chôn cái đầu đi chứ! Để lâu tội nghiệp lắm!

Phải giữ cho được để mang về, nhưng đang nhốn nháo, giặc đang ráo riết lùng, bây giờ sẵn đất sét đây, ta bọc lại vuông vức, vạch đường kẻ như những viên gạch xếp lại rồi cho vào lò. Chèn gạch mộc vào xung quanh, chẳng ai biết được khi ra mẻ gạch mới.

Rồi đến lúc ông Lự đi làm lò gạch lại, ông đã tìm ra viên gạch này. Ông mang về nhà, nhưng cũng chỉ dám để ngoài vườn, không phải sợ anh Đồng, mà sợ bọn mật thám chỉ điểm dò biết thì sinh chuyện. Chỉ có ông Quán, ông Lự biết, rồi ông Lự kể chuyện đầu đuôi cho cha tôi - cha tôi cứ dặn, " Khi nào hoà bình rồi, tới xin ông Lự thỉnh anh Đồng về mà thờ, bởi phía anh Đồng không còn có ai cả. Tội nghiệp thế đó, chết rồi mà cái xác cũng không được nguyên vẹn!”

Tía cứ ngồi lặng đi trong câu chuyện bác Mẫn kể. Câu chuyện cứ dẫn dắt như đi vào huyền thoại, lúc ảo, lúc thực. Tưởng có lúc muốn đứng lên, thét vào mặt bọn man rợ. Mấy tiếng “Lũ dã man”!

- Sau khi cha tôi mất ít lâu, tôi tìm đến ông Lự nói với ông điều cha tôi dặn. Chừng như ông suy nghĩ một hồi rồi ông cho hay, để tau ra ủy ban báo cáo đã. Mấy ngày sau, ông Lự gọi tôi lên và bảo “Cho mi mang về thờ, dù sao ba mi cũng có công trong việc này là đưa được anh Đồng về! Sống khôn thác thiêng chắc ba mi cũng muốn anh phù hộ cho mi đó”. Ông còn nói một chuyện mà tôi chưa hề biết. Là ngày xưa, người làm "nghề ăn trộm" lúc nào cũng muốn có một cái đầu lâu người bị sét đánh về mà thờ. Sau này, chắc ba mi muốn thờ anh Đồng không phải vì cớ đó, mà chỉ thương người làng, người đồng đội thôi, chứ cách mạng rồi ba mi có làm cái trò ăn trộm nữa đâu! Nhà mi đáng cũng được bằng khen nhưng cha mi cứ xin rút lui vì bảo không có công chi mấy. Thôi, thế cũng được, chỉ có tao với ba mi biết việc này thôi, chứ có mấy ai biết. Với lại đội du kích thuở ấy bây giờ có còn ai nữa. Cũng là việc nghĩa cả thôi.

Hoàng hôn như đang lồng vào câu chuyện của bác Mẫn. Bác chỉ tay ra xa xa, nơi còn một chút nắng mờ trên những ngọn cây xa:

- Chuyện này bắt đầu cũng có o Thỏn nữa. O bị bắt cùng với anh Đồng mà. Anh điêu khắc có muốn gặp o Thỏn, mai tôi dẫn đi. O giờ cũng như ngọn đèn sắp tắt, ít tuổi hơn cha tôi, mà cũng vào du kích sớm "giặc đến nhà đàn bà, con gái cũng đánh!" Thế đó.

Rồi bác đến bên chiếc bàn thờ nhỏ đốt mấy nén hương cắm vào bát hương, vái mấy vái trước viên gạch chiến tích. Tía cũng làm theo như bác Mẫn. Tía vừa cảm phục người anh hùng liệt sĩ, nhưng có cả cảm tưởng nghề nghiệp mình liên quan đến cái khối gạch "đầu tượng đài" kia. Và Tía không quên thắp hương trước bàn thờ tổ tiên của bác Mẫn trong đó có ông Binh Tập - người ăn trộm xa xưa đã được giác ngộ cách mạng! Và cũng chợt nhận ra mình đang phát hiện một tượng chân dung lạ chứ không phải những chân dung bình thường mà anh gọi là “chụp ảnh đất sét”...

Và đúng như dự định, bác Mẫn đã đưa tía đến với o Thỏn - như cách bác gọi. Một bà già, tóc đã bạc gần hết bước ra. Tía cúi đầu xuống:

- Cháu chào mệ.

Anh nói theo cách Quảng Trị để thay tiếng “bà” mà anh đã quen dùng ở nhiều nơi khác, vừa như để gần gũi thân mật hơn vừa gián tiếp giới thiệu mình là người đồng hương.

Ngôi nhà nhỏ, chừng hai gian lợp tôn, ở các cạnh đã rỉ rét màu nâu đất. Có một khu vườn trồng mấy luống khoai lang, ít cây sắn khẳng khiu gầy guộc. Tía nghĩ thầm chắc là loại gia đình nằm trong diện xoá đói giảm nghèo của tỉnh và nhà nước đang còn hỗ trợ.

Bà bước gần lại bác Mẫn:

- Ai như anh Mẫn con bác Binh Tập đây?

- Tôi chứ ai nữa?

- Đi mô ra ri?

Câu hỏi hoàn toàn bằng thổ ngữ địa phương như thể nói bà không quên gốc gác.

- Có anh "đục tượng"- à... (Tía nhắc bác - Dạ, điêu khắc...). Ừ, điêu khắc tới thăm o để hỏi chuyện ngày xưa. O theo đội du kích với anh Đồng mà Tây chặt "trôốc" đó!

- Lâu ngày rồi, tội nghiệp anh Đồng! Vô nhà đã.

- Nuôi ơi, rót nước con.

Một cô gái trạc bốn mươi "dạ" bước ra chào, lại lui vào cánh cửa sau nhà thông xuống bếp nhỏ.

Bác Mẫn cũng nhanh nhẩu giới thiệu với Tía:

- Con nuôi o đó. O có lấy chồng ở chợ Sãi này, nhưng không có con nên xin o nhỏ đó về nuôi. Ông ấy quá vãng lâu rồi. O Nuôi lấy chồng cũng có đứa con gái, chắc chạy chơi đâu ngoài.

O Thỏn bảo “hắn đi học. Còn cha hắn đi làm thợ hồ”.

Tía vào đề, cố tìm những chữ giản dị, mộc mạc để bà hiểu.

- Cháu đi tìm những gương anh hùng, liệt sĩ dũng cảm chiến đấu hay hy sinh vì Tổ quốc để làm tượng cho họ. Nghe trước kia, mẹ chiến đấu với ông Đồng ...

- Ừ, có, cả đội du kích nhiều người trong đó có anh Đồng. Nhưng rồi bị chúng bắt cả hai người một lúc, anh Đồng với tôi đã ném hai quả lựu đạn nhưng chỉ nổ một quả. Hình như cũng có một thằng chết. Chúng tôi chạy, bị cả bọn rượt theo và bắt. Dẫn đi một đoạn, chúng tách anh Đồng ra, còn tôi...

Bà ngần ngừ một lúc rồi hình như lòng hận thù xưa đã vượt lên cùng tuổi tác bà nghiến chặt hai hàm răng lại và tiếp... "chúng hãm hiếp". Kéo vạt áo lên chấm vào mắt... Giờ già rồi, có nói ra cũng không xấu hổ chi hết, cũng chẳng phải tội lỗi do mình gây ra, phải không anh Mẫn, phải không cháu! Có thế, nên tuy có lấy chồng - làm bạn với ông được mươi năm thì ông qua đời, nên phải xin con nuôi về nuôi. Hắn mới được đứa con gái mà “bộn” tuổi rồi! Không biết có còn kiếm được chút con trai mô sau thắp hương cho tôi với...

Bỗng bà đứng lên, lùi vào phía buồng. Tía ngồi như nghẹn thở. Đâu như gần đây, Tía có đọc trên báo hay xem trên truyền hình gì đó những người đàn bà Trung Quốc và Hàn Quốc bị phát xít Nhật bắt đi để phục vụ binh lính của chúng cũng đã đòi bồi thường nhân phẩm kể cả sinh mạng. Dân ta hiền quá chăng, độ lượng, khoan hồng quá chăng?

Người con gái nuôi của bà bưng khay nước ra. Bà quay lại:

- Con đi chợ đi, mạ ở nhà nói chuyện với bác Mẫn và với anh đúc tượng.

- Dạ.

O Nuôi cầm nón và đi ra ngoài sau khi lễ phép chào hai người khách.

Bà Thỏn nhìn theo rồi mới thong thả nói:

Tôi cho hắn đi chợ rồi tôi đưa cái này ra cho bác và anh xem. Bà nhếch nhẹ mép, nửa như muốn cười mà không cười. Mắt bà như không chớp. Bà rút trong túi áo ra một chiếc ảnh cỡ bằng hai phần bàn tay. Đây, tội ác của giặc đây. Chiếc ảnh đã cũ, hơi ố vàng nhưng còn rõ nét. Chiếc ảnh được chụp theo chiều dọc có hai người. Nói là hai con quỷ mới đúng, hay đúng hơn là một con quỷ đực và một người con gái trần truồng, mắt bị che mặt bằng vải đen. Tên quỷ đực chính là một tên lính da đen, tay phải dắt tay người con gái, và tay trái xách một chiếc đầu bị chặt, máu như còn nhỏ giọt xuống. Và cả hắn cũng là một con quỷ trần trụi.

Tía như bủn rủn cả người. Không phải anh không quen với những hình ảnh đàn bà hay cô gái khoả thân khi anh đang học ở trường mỹ thuật. Nhưng đó là những hình khối trong sáng, đẹp đẽ mà anh học tỉ lệ, học khối hình của cấu tạo hoàn mỹ của con người. Nhưng giờ đây thì khác, khác một trăm phần trăm. Đây là sự man rợ, là khủng khiếp trái với nhân loại đạo đức. Người ta thường đổ lỗi cho chiến tranh, nhưng chiến tranh vì nhân dân, vì chính nghĩa thì chẳng hề bao giờ mang những hình ảnh như thế.

Bà Thỏn, hình như muốn thổ lộ cho hết tâm sự:

- Tôi đó... tôi đó.. đứa con gái đó là tôi đó. Và cái đầu... cái đầu anh Đồng đó. Như là bà không nói về mình.

Bà nấc nấc lên mấy tiếng như muốn khóc, nhưng hình như bà không khóc nổi. Có lẽ bà đã khóc nhiều lần về tấm ảnh đó. Bà dịu xuống:

- Nhiều lúc tôi muốn xé, muốn bỏ tấm ảnh ấy đi, nhưng lại thương anh Đồng, nên giữ lại. Tôi giấu hết cả chồng tôi, cả con Nuôi - con gái. Chỉ có một người biết là anh chỉ huy Tiểu đoàn 14 hồi đánh bọn Tây đi càn và giải phóng cho tôi. Rồi tôi kể cho nghe.

Số là khi tôi bị bắt cùng anh Đồng, và sau chúng tách chúng tôi ra. Trong khi chúng đưa tôi vào nhà, thì chúng đem anh Đồng đi chặt đầu. Sau đó chúng bịt mắt tôi lại và dắt đi. Tôi chẳng còn biết trời đất chi nữa, thì chúng ném tôi vào một phòng nhỏ giam lại. Chúng đã tháo băng bịt mắt và mình chỉ biết là một con tù của chúng. Cái cô Thúy Kiều bị một mụ Tú bà với thằng Sở Khanh, nhưng tôi thì bị trăm con Tú bà và Sở Khanh Tây đen, trắng ấy. Đàn ông như anh Đồng, chúng chặt đầu là hết, con gái, đàn bà, chúng không chặt đầu, nhưng lại làm ô nhục gấp trăm, gấp ngàn.

Bác Mẫn cũng cúi đầu xuống:

- Ông già tôi trước cũng không cho tôi biết các chuyện ấy, ông chỉ kể o với anh Đồng bị bắt thôi.

Bà Thỏn tiếp.

- Mấy ngày sau, tất nhiên chúng cũng đã cho áo quần mặc. Vào một buổi sáng có một thằng nào đó không biết Tây hay ta, luồn qua song sắt tấm ảnh này. Qua khe ánh sáng của cánh cửa, tôi nhận ra là mình trong tấm ảnh và cái đầu anh Đồng. Sau khi tôi bị làm nhục và chúng bịt mắt lại rồi dắt đi, nên cũng chẳng biết chúng đã ác độc như thế nào. Không biết xác và đầu anh về sau có được chôn cất tử tế không? Đến lúc này thì bác Mẫn đã đứng lên, một cách lễ phép:

- Từ lâu nay, cha tôi và ông Lự đều giấu o việc này. Giờ tôi xin kể hết, nói hết cho o hay.

Rồi bác bắt đầu kể cho bà Thỏn mọi sự việc về chuyện mai táng xác anh Đồng, về cái đầu được "chôn" trong viên gạch ra sao. Viên gạch - hay khối gạch đã được nung ở lò bà trùm Điềm, rồi về nhà ông Lự và cuối cùng là đến nhà bác.

Nhưng bác vẫn nhắc lại là do cha và ông Lự đã kể và dặn dò đúng như bác từng nghe. Hai ông còn nhắc, nếu có gặp o đừng nói cho o biết, sợ o đau buồn!

- Nhiều lúc tôi muốn vứt tấm ảnh đi, o nhắc lại, bởi với cái thân tôi thì xem như đã bỏ. Nhưng còn có cái hình đầu của anh Đồng, nên tôi cất giấu mãi. Thậm chí giấu cả chồng cả con... Nhưng lúc nãy nói là anh chỉ huy tiểu đoàn 14 là thế này...

Một hôm, chừng sau một tháng, bọn giặc đi càn. Lần này chúng đi hai xe, súng ống đầy đủ. Chúng mang cả tôi và một chị nữa, tôi không biết tên hay làng nào của chị ấy. Chúng ngồi vây quanh trên thùng xe, hai chúng tôi ngồi giữa. Thì cũng chỉ biết âu sầu với nhau, chứ chúng không cho nói chuyện. Nghĩ muốn nhào xuống mà chết, nhưng nào có được. Ai ngờ “trời có mắt”. Một quả bom chôn nổ tung, và bộ đội mình nhảy lên diệt gọn cả trung đội của chúng. Tội nghiệp chị cùng ngồi với tôi, bị trúng thương và chết ngay trên xe. Một anh bộ đội nhảy lên dìu tôi xuống. Đưa về, tôi khai hết, đi trình cả tấm ảnh này ra trước anh chỉ huy. Anh cầm xem lâu lắm. Hình như anh cũng rất xúc động. Cuối cùng anh đưa lại cho tôi và bảo:

- Chị cứ giữ tấm ảnh này, chị đừng xấu hổ gì cả. Chị chỉ là nạn nhân, đây là tội ác của bọn giặc và chúng đã bị tiêu diệt, tuy chưa là tất cả. Chúng ta còn đánh giặc, còn tiếp tục đánh giặc để cho đất nước độc lập. Tất nhiên chị hãy tham gia công tác như chị đã từng tham gia. Tôi thưa với anh rằng bây giờ vùng quê tôi tề đã kiểm soát cả rồi, tôi xin đi theo đơn vị của anh, làm gì cũng được. Thế là anh cho tôi đi theo để làm cấp dưỡng. Ít lâu, đơn vị rút lên chiến khu Ba Lòng. Lên đến đây, với miền rừng núi lạ, vừa thiếu thốn, tôi bị sốt rét, đau ốm luôn cũng do thời bị giặc bắt, chúng đã hành hạ tôi quá nhiều. Anh chỉ huy liên hệ với địa phương và cho tôi về nghỉ ở đấy. Thế là tôi trở thành người dân Ba Lòng. Thì ra nơi này, chính là nơi ngày trước làng tôi đã nhiều người lên buôn bắp và thuốc lá mà họ gọi là bắp nguồn và thuốc lá mọi - tên khinh bỉ người ta gọi đồng bào thiểu số. Nhưng sau mới biết thêm là có người lên đây để liên lạc và hoạt động cách mạng. Tại Ba Lòng, tôi cũng tham gia cùng đoàn thể phụ nữ đi vận động gạo cẩm, vũ khí cho bộ đội, nhưng chủ yếu là sản xuất trồng sắn, trồng bắp, đậu để kiếm cái ăn hàng ngày. Sau gặp anh thương binh và xây dựng với anh. Nhưng rồi chẳng con cái gì - có lẽ do phía tôi, và anh cũng qua đời, nên đành xin một đứa con nuôi. Hắn vừa đi chợ đó... Rồi bà nói như kết luận câu chuyện của bà.

- Chuyện đã qua thì cho qua. Bây giờ tôi xin phép anh Mẫn cho tôi về chỗ anh thắp hương cho vong linh anh Đồng, dù sao cũng là tình nghĩa... đồng đội!

Bà ngừng sau chữ tình nghĩa rồi mới thêm hai từ đồng đội. Tía không dám nghĩ thêm ý khác.

* * *

Việc của Tía còn cần phải làm là, tạo lại cho được chân dung dương bản của anh Đồng. Vâng, viên gạch - hay khối gạch đó chắc chắn là một âm bản của bức tượng. Anh nghĩ đến những mẫu phim âm bản. Người ta có thể đưa ra sau khi in tráng cái âm bản kia những chiếc ảnh. Và viên gạch, hay cái vỏ bọc đất sét đã qua lò lửa của bà Trùm Điềm hẳn là khuôn hình của chiếc đầu. Tía hơi đau buồn rằng với độ nung chín thì nguyên bản đầu anh Đồng chắc đã trở thành tro than. Anh bỗng nhớ về hình ảnh “tượng táng” của hai chú cháu nhà sư ở chùa Đậu và chùa Bút Tháp. Đấy là nguyên bản của họ dưới lớp sơn phủ cách đây hàng trăm năm. Và cả xác ướp các pha-ra-ông Ai Cập. Nhưng đấy là xác ướp có chủ định, cái đầu anh Đồng là một “xác ướp” bất ngờ do yêu thương đồng đội, - nói một cách khác - một sáng tạo mới của những người thợ làm gạch trong điều kiện đánh giặc. Nhưng tiếc thay, nó đã bị hoả thiêu?

Tía lại đến với bác Mẫn. Lần này thì anh phải lỉnh kỉnh đồ đạc nghề nghiệp bằng một chiếc ba lô đầy những bột thạch cao, tủ đay và bao nhiêu thứ khác.

Anh xin phép và bàn bạc rất lâu cách anh làm cho bác Mẫn biết. Anh tránh dùng những từ chuyên môn trong ngành mà muốn để bác Mẫn trực tiếp thấy. Anh cùng bác thỉnh "anh Đồng" ra (lời của bác nói về viên gạch). Bác Mẫn tuy có phân vân nhưng cũng tin tưởng những điều anh nói.

Anh trải một tấm ni lông rộng ra nhà. Anh cũng mượn bác một chiếc bình gốm để sẵn bên cạnh vì anh tin rằng sẽ là tro ở trong viên gạch.

Hai người cũng cưa viên gạch ra làm đôi. Ban đầu bác Mẫn run run cánh tay, hình như theo đà của Tía, bác đã bình tĩnh lại. Hai nửa viên gạch đã rời ra. Đúng là tất cả đều bị thiêu cháy.

- Coi như ông Đồng đã được hoả táng! Thế là siêu thoát rồi đó.

Một nửa viên gạch lộ rõ cái mặt như được ấn lõm vào khuôn. Rõ nhất là hõm mũi, và mắt thì chỉ là hai hố sâu không có mi mắt, kiểu như nhắm lại.

Bác Mẫn vội vàng đến thắp hương vào bát hương bàn thờ anh Đồng. Tía đặt hai nửa mẩu khuôn ra ngoài tấm ni lông. Anh lại lấy cái chổi nhỏ quét mớ bụi gạch vừa cưa ra hai nửa, xong đám tro anh cho vào cái bình gốm bác Mẫn và đặt lên bàn thờ nhỏ.

Bất thần, o Thỏn - bà Thỏn bước vào nhà. O mặc chiếc áo dài màu nâu bằng lụa. Tay trái xách một bịch ni lông hoa quả. Rồi o mượn đĩa bày lên chiếc bàn thờ. Bác Mẫn quay lại lấy hai nửa khuôn gạch cùng đặt lên đó. Bác nói:

- O đến đúng lúc quá, hai bác cháu vừa làm xong! Bà Thỏn lấy ở túi áo trong một chiếc khăn tang và bịt lên đầu. O chậm rãi vừa thắp hương vừa nói:

- Cho tôi bịt khăn cho anh Đồng, anh Mẫn ạ. Hơn năm mươi năm nay, đêm qua chiêm bao thấy anh về, nên sớm nay, tôi mới qua đây!

Bác Mẫn cùng Tía đứng chắp tay bên cạnh như những người đứng trong một buổi lễ truy điệu. Bà Thỏn ngồi giữa chiếc chiếu xếp đôi đã được trải, một chân gập phía trước, một phía sau để lên nhau - kiểu ngồi của phụ nữ khi làm lễ - hai tay chắp lại, bà lạy rất nhiều lần, lên lên xuống xuống giữa chiếu trước bàn thờ. Bà khóc rất to và kể lể bằng một thứ giọng líu ríu khó nhận rõ.

Nước mắt Tía đổ xuống, và cả bác Mẫn cũng thế.

Hình như không còn cái không khí trầm mặc lúc nãy nữa. Trên môi bà Thỏn đã có nét cười. Và bác Mẫn cũng có vẻ nhanh nhẹn hơn. Bác vào buồng tìm một cái nắp và lấy một chiếc túi ni lông. Bác đậy nắp bình tro lên bàn thờ, rồi bỏ vào túi. Bác đến bên bà Thỏn, với một giọng nói đầy nghiêm túc:

- Đây là di cốt của anh Đồng, o đưa về nhà thờ cho anh ấy, lâu nay  tôi đã thờ, nhưng chỉ là thờ trong viên gạch này. Bây giờ, trăm sự là nhờ anh điêu khắc sẽ làm. Chắc là anh sẽ đúc lại được tượng cái đầu.

Bà Thỏn đưa hai tay đỡ lấy bình và nói với Tía:

- Nếu đúc được, cháu đúc cho o một cái để o thờ luôn thể!

- Dạ, nếu cháu làm được.

Và khi Tía nhìn theo bà Thỏn ra khỏi cổng nhà bác Mẫn, Tía vụt nhớ lại là đã từng thấy bức ảnh của bà đưa ra trong một tập sách ảnh về thời kỳ đầu chống Pháp. Đúng rồi, bức ảnh có ghi chú, lấy từ trong báo nhân đạo (Humanlte) của Pháp, tố cáo tội ác của thực dân Pháp trên đất Việt Nam lúc chiến tranh xâm lược bắt đầu. Có lẽ lâu quá, Tía quên mất, nhưng như qua hồi ức của bác Mẫn, bà Thỏn, mà Tía được nhớ lại. Lịch sử đôi khi tàn nhẫn là thế, nếu không có một sự bắt gặp hay gợi ý nào đó, lớp người sau có thể bỏ qua, có thể quên đi. Thật đáng hổ thẹn!

Không, không. Tía đang trở lại với sự trung trinh của mình, với quê hương mình.

- Thưa bác - Tía nói rất từ tốn - cháu sẽ làm hết sức mình để vừa lòng bác và mẹ Thỏn. Cháu xin hứa.

Cái huyền thoại nguyên mẫu của viên gạch lạ lại trở về với nguyên mẫu của nguyên mẫu trong công việc đầy bận rộn của Tía những ngày tiếp theo.

T.H

Tấn Hoài
Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 134 tháng 11/2005

Mới nhất

Thông báo về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí

13/04/2026 lúc 22:15

THÔNG BÁO Về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí Kính gửi quý bạn đọc,

31/07/2025 lúc 15:23

Tạp chí Cửa Việt - 35 năm một chặng đường

28/06/2025 lúc 16:18

Ngày 28/5/2025, Tạp chí Cửa Việt tổ chức lễ kỷ niệm 35 năm tạp chí ra số đầu tiên và gặp mặt cộng tác viên năm 2025. Tại buổi lễ, Phó Tổng biên tập phụ trách Hồ Thanh Thọ đã có bài phát biểu khai mạc...

Vùng trời hoa sim

26/06/2025 lúc 23:29

Những triền sim tím đồi xaBềnh bồng nâng gót mùa qua lặng thầm

Hương xưa; Nắng sớm

26/06/2025 lúc 23:27

Hương xưa… Ta về tìm lại hương xưa

Tạp chí số cũ
Câu chuyện du lịch
tư tưởng Hồ Chí Minh

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

16/04

25° - 27°

Mưa

17/04

24° - 26°

Mưa

18/04

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground