Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 20/01/2022 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Chuyện ở bến cảng giữa rừng đón tàu không số của Sáu Quạng và Hai Tây

Nếu có dịp đến Cà Mau, đi sâu vào những làng rừng,những bến cảng giữa lòng dân đã đi vào lịch sử dân tộc, bạn sẽ được nghe rất nhiều câu chuyện thú vị như vậy. Những người hài hước, thông minh, mưu trí, quả cảm hết lòng vì nước, vì Đảng như ông Sáu Quạng - Hai Tây còn rất nhiều ở xứ Nam bộ này.

(tiếp theo số 326)

Kỳ 1: Chuyện ở bến cảng giữa rừng đón tàu không số của Sáu Quạng và Hai Tây

Sáu Quạng đi công tác một mình trên chiếc xuồng con sức chở không quá hai người, lại khéo bơi chèo. Xuồng Sáu Quạng đi êm như lá đước khô trôi trên mặt sông. Mấy hôm nước rong thuỷ triều dâng cao, Sáu Quạng bơi xuồng tuần tra mênh mang trong rừng không cần luồng lạch, nước trên rừng như đồng bằng mùa nước nổi. Mọi hôm Sáu Quạng đến chỗ Hai Tây bằng đường sông, ghé trước cầu thang nhà Hai Tây. Bữa nay sao bất thình lình bơi xuồng luồn đầu trong rừng rồi chui luôn xuống dưới sàn nhà Hai Tây, thậm chí dưới ghế Hai Tây ngồi, nói vói lên: “Ê, già Hai, bữa nay có trà B’Lao hiệu con khỉ hôn?”. Hai Tây ngớ người: “Trời, bữa nay chơi màn độn thổ chạng vạng nữa ta?”.

Chợt thấy trong xuồng Sáu Quạng cả chục trái dừa khô bèn hỏi tiếp: “Bộ mới đi trên miệt Tân Quảng Đòn Dông về sao dừa khô lủ khủ vậy ta”. Sáu Quạng làm thinh hớp trà ngon lành, hồi lâu nhìn Hai Tây: “Tân với Quảng gì anh. Mấy bữa rày mắc mớ gì tụi da-cô-ta mọi lần tuần biển giờ bay vô sâu trong rừng đảo đi đảo lại khổ mình. Tụi tui thay phiên nhau suốt đêm tuần tra đỏ mắt. Đú hoả, hỏng biết nó nghi gì hay thả gì không.... Còn dừa khô hả? Tui còn chưng hửng huống gì anh. Anh có nghe biết vùng rừng cốc Nhưn Miên Biện Nhạn có chỗ kêu bằng Cạnh Đền, có mộ Bà Xeo con vua Gia Long không. Hồi giờ tui cũng có biết đâu, đợt này luồng sâu tuần kỹ mới diện kiến tá hoả. Có đền thiệt đó anh Hai, đồ kiểu bể nát đi không khéo đứt chưn tới xương như chơi. Còn mấy gò cao thì dừa, toàn dừa lão, từng leo dừa xệ dái như tui còn hỏng dám trèo nữa là, ngước nhìn trợt ót. Được cái dừa khô rụng đầy. Mà uổng thiệt, thúi muốn hết chắc do nước mặn, tui lựa lắc kỹ được bi nhiêu đó. Hỏi để anh Hai cặp mai kèn ốc len húp trơn cổ họng chơi. Còn bao nhiêu, chút ghé má Bảy giao hết cho con Út Lợi chia bà con hầm bí rợ...”.

Rừng Cà Mau  - Ảnh Ngô Trần Hải An

Rừng Cà Mau - Ảnh Ngô Trần Hải An

 Rồi Sáu Quạng quăng bốn trái dừa khô lên sàn nhà. “Tui dìa à anh Hai ơi. Đi hừng đông hôm qua tới giờ sợ nhà anh em trông nói tui bị bà Xeo giấu. Người ta đồn vô đó mà lấy đồ kiểu là bị bà Xeo giấu khỏi về”.

Sáu Quạng biết Hai Tây thế nào cũng mò tới không phải vì kiếm dừa khô mà vì tò mò muốn biết đền vua “dã chiến” ở Viên An ra sao khi bị quân Tây Sơn rượt ra gần biển Đông. Rồi Sáu Quạng ung dung so mái chèo xuôi dòng êm ru, bụng khoái chí thấy chắc mẻm “cá cắn câu”. Sáu Quạng về cho người dò la tin tức, biết Hai Tây có cơm nắm nước mưa theo hướng mình chỉ. Đi cả ngày mới về, mặt tỉnh bơ. Ai hỏi nói đi tuần tra. Sáu Quạng đắc chí nhưng trong bụng cũng lo, sao ổng im re vậy. Hay ổng giận mình bầm gan tím ruột, báo hại thề nghỉ chơi tới chết, thì nguy.

Nóng lòng không kiềm nổi, Sáu Quạng chèo xuồng qua Hai Tây. Hai Tây mừng ra mặt lăng xăng châm trà nhưng thấy có nét buồn tư lự. Sáu Quạng chột dạ lo âu nhưng cũng không quên móc lò: “Bữa vô trỏng có vớt được nhiều dừa không anh Hai?”. Hai Tây cũng đâu vừa, xua tay: “Ối, tươi khô rụng đầy, trên ngọn không còn một trái. Dừa rụng cũng không còn ruột. Khỉ bầy ở đâu ra móc ráo trọi”.

 Sáu Quạng làm như sửng sốt: “Ờ há. Mà hỏng biết sao dạo này khỉ bên rừng bần kéo về vùng kho mình nhiều vô phương kể. Có bầy cả trăm con, ráp nhau quậy phá mấy chục lu nước mưa để dành qua mùa hạn. Hôm rồi mấy nhỏ nấu đầy nồi cơm to chảng để đi tuần về ăn, bầy khỉ vô “liên hoan” sạch không còn một hột nhét kẽ răng. “Đúng là Tề thiên náo loạn lâm hà”.

Hai Tây vỗ đùi tiếp lời vẻ nghiêm nghị: “Phải rồi chú Sáu ơi, B52 bữa ở bển, pháo hạm cũng mưa vào, rồi máy bay rải chất độc nữa. Bom pháo nó chưa thua chớ chất độc hôi quá, chắc nó tạm sơ tán một thời đó mà”. Rồi Hai Tây chợt im, mắt nhìn sâu thẳm rừng già. Sáu Quạng chột dạ, rướn người qua phía Hai Tây: “Bộ anh giận gì tui hả, anh Hai”. Hai Tây cũng không quay lại, giọng buồn xa xăm như mếu: “Giận chú, tui bầu bạn với…”.

 “Vậy chớ... - Sáu Quạng muốn đổi bầu không khí như căng thẳng đan xen giữa đùa và thật nên chuyển giọng hỏi - Ờ mà sao lâu quá không nghe anh nhắc chuyện nhà, chị Hai với mấy cháu... Hỏng ấy kỳ đi rút tân binh tới xin thủ trưởng đi với tui một chuyến. Kỳ này đi huyện Mười Tế (tên bí mật huyện Trần Văn Thời bấy giờ) có anh làm Thổ địa về xứ Nhà Máy, Đá Bạc, miệt Cơi. Có anh sẽ chọn được nhiều lính chiến sau này cho đơn vị...”.

 Bỗng Hai Tây quay phắt lại, mắt trợn tròn như phẫn nộ làm Sáu Quạng hoảng hồn. Hai Tây tiếp lời: “Rút tân binh với chú thì tôi đi liền. Còn thăm con đàn bà phản bội đó, nửa bước cũng hong”.  Sáu Quạng bị bất ngờ, vồn vã: “Con đàn bà nào, hỏng lẽ... chị Hai?”. “Chớ còn ai trồng khoai đất này” - Hai Tây phán luôn câu xanh dờn vậy. 

Sáu Quạng nóng bừng mặt, nắm tay Hai Tây giật mạnh: “Đú hoả thằng nào, thằng nào? Anh nói tui biết, tui khử nó liền”. Hai Tây giọng tức giận: “Hứ! Chú khử hả. Khử nổi không? Chú chưa kịp khử nó mổ bụng chú rồi. Nó đã mổ bụng bao nhiêu đồng bào cán bộ mình rồi. Nó là thằng Hai Đả, trưởng đồn Rạch Cui ác ôn khét tiếng đó”. “Con khỉ - giọng Sáu Quạng giận sôi - Tui về gom anh em du kích xã Khánh Bình lấy đồn, bắt chặt đầu nó anh coi. Hỏng ấy một mình tui ám sát nó giữa chợ cho anh thấy. Đồ Việt gian bán nước. Thứ lưu manh”.

 Hai Tây đắc kế, nói tới luôn: “Chú giỡn. Nó có nghề võ đó. Mà tui dạy chớ ai”. “Nhưng anh cũng đừng quên tui đã từng làm trưởng đồn bên tụi nó” - Nói dứt lời, không từ giã Hai Tây, Sáu Quạng phóng xuống xuồng chèo một mạch.

 

* * *

Sáu Quạng có một thời là trưởng đồn ngụy trong thời sau đình chiến 1954 thiệt. Bè lũ Diệm và tay sai bán nước trắng trợn phá hoại Hiệp định Giơ- ne- vơ ra sức khủng bố người yêu nước, người kháng chiến cũ. Với Luật 10-59, Diệm cho lê máy chém khắp miền Nam chém bất ai mà nó cho là Cộng sản, ai dám nói yêu nước, không treo hình “Ngô tổng thống” cũng cùng số phận. Sáu Quạng là Nguyễn Văn Tĩnh ở Tiểu đoàn 307 được lịnh về Chắc Băng, Thới Bình rồi Rạch Lùn, Sông Đốc chờ ngày tập kết ra Bắc. Nhưng đến trước ngày đi một hôm thì có lịnh ở lại miền Nam, với nhiệm vụ mới đầy ngặt nghèo: Ra đầu hàng giặc!

Sáu Quạng tự nhận là con địa chủ, cũng đi theo kháng chiến nhưng sau biết Việt cộng bắt thủ tiêu cha anh mình, nên giờ phải ra theo chánh nghĩa trả thù. Tông tích ngon nên được địch nạp quân liền. Được ta huấn luyện kỹ, Sáu Quạng nhập vai lưu manh, thù Cộng sản, sớm trở thành tay sai giặc đắc lực. Ngoài hăng hái tham gia càn quét Việt cộng, Sáu Quạng còn là tay ăn chơi lưu manh anh chị: Hút xách, rượu chè, gái gú.... Uống la-ve không khui mà đập cổ chai ngửa cổ rót ồng ộc như trâu uống nước lung, mở miệng là chửi thề đ.m.... Nhờ đó không bao lâu tên lưu manh Quách Văn Khẻo - Chỉn Khẻo (tên của Sáu Quạng lúc làm trưởng đồn) lên phó rồi trưởng đồn.

Từ ngày Khẻo làm trưởng đồn, tần suất càn quét tăng mạnh, dân có vẻ dè chừng. Tuy chưa bắt được Việt cộng nằm vùng nào nhưng cũng làm hài lòng bọn đầu sỏ (Cho nên sau này khi Sáu Quạng về lại đàng mình, mở miệng là đ.m. Bị đơn vị phê bình hoài mới sửa là đú hoả. Sáu Quạng bộc bạch thiệt lòng: “Hồi đó tập chửi thề đ.m khó muốn chết, đi ỉa miệng cũng tập lầm thầm đ.m. Giờ sửa lại cũng khó như hồi đó tập”. Nghe vậy đồng đội cảm thương...).

Nhưng đâu phải một mình Sáu Quạng giả ra đầu hàng giặc mà còn có đồng đội đi cùng để bảo vệ nhau giữa bầy lang sói. Trong số ra đó có người không kìm nỗi hận thù nên sơ hở. Nhiều chi tiết sơ hở đó cùng với “kẻ mất khí tiết” khai báo, bọn phòng nhì rồi công an quân đội ngầm hốt gọn cánh Sáu Quạng. Trưởng đồn Khẻo giờ là tù chính trị lập tức bị giải thẳng về Tổng nha ở Sài Gòn…

Còn Hai Tây thì cũng từng tham gia trường huấn luyện quân sự nhờ tài nghệ võ bị.

Thấy Hai Tây lâm vào cảnh này, Sáu Quạng lòng như lửa đốt, quyết trả thù cho Hai Tây: “Trong khi chồng đi kháng chiến giải phóng cho quê hương khỏi cảnh đầu rơi máu chảy mà bà này ngoại tình với giặc”...

 

* * *

Tôi may mắn vài lần được dự họp mặt truyền thống Đoàn 962 - đơn vị mở đường, đón tàu, xây kho tàng cất giấu vũ khí bảo vệ không để mất đi dù chỉ một viên đạn từ miền Bắc yêu thương gởi vào, rồi phân tải đi khắp chiến trường miền Nam đánh Mỹ - nguỵ góp phần to lớn cho đến ngày toàn thắng. Tôi bất chợt nghiệm ra cái diệu kỳ: Đường Hồ Chí Minh trên bộ xẻ dọc Trường Sơn đưa bộ đội, vũ khí vào tới Mũi Cà Mau đánh Mỹ. Con đường Hồ Chí Minh trên biển vượt muôn trùng bão tố, phong ba từng giờ phút qua mắt kẻ thù với phương tiện chiến tranh tối tân trinh sát, soi mói theo dõi để rồi đưa hàng ngàn tấn vũ khí và kể cả cán bộ cao cấp chi viện cho miền Nam đến bờ biển các tỉnh miền Nam mà nhiều nhất là mũi Cà Mau. Rồi từ miền Tây Nam bộ vốn quý được vận chuyển và bảo vệ ấy lại toả ngược lên Sài Gòn họp sức cùng đường Hồ Chí Minh trên bộ làm nên khúc khải hoàn của dân tộc bằng Chiến dịch cũng mang tên Hồ Chí Minh!

Còn điều thú vị là chuyện vĩ đại ấy lại được góp nhặt từ sự cống hiến cao cả của những con người bình dị mà hóm hỉnh, lạc quan lạ kỳ. Chuyện của họ mà được góp nhặt lại kể cho con cháu đời sau sao không là chuyện một ngàn đêm lẻ… Trong đó chuyện mà tôi hi hữu ghi lại được trong những buổi trò chuyện hiếm hoi mà các chú, các bác say sưa nhắc lại trong khi buổi họp mặt chính thức bắt đầu. Mà người mở đầu dẫn chuyện không ai khác là Đại tá Khưu Ngọc Bảy, nguyên Trung đoàn trưởng trung đoàn 962, hiện là Phó trưởng ban liên lạc toàn quốc Đường Hồ Chí Minh trên biển - người từng đoạt Giải thưởng cuộc thi sáng tác về đề tài cách mạng và kháng chiến (giai đoạn 1930-1975) của Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam và Giải thưởng Văn học - Nghệ thuật Phan Ngọc Hiển tỉnh Cà Mau lần thứ III (2012-2016) với Trường ca “Bến cảng lòng dân”.

Quay lại chuyện Sáu Quạng - Hai Tây, ông Khưu Ngọc Bảy kể tiếp: “Mấy hôm sau, Sáu Quạng xin phép Ban chỉ huy báo cáo tình hình tổng kho vũ khí và tuyển tân binh. Xong buổi họp, Sáu Quạng xin gặp riêng Chính uỷ Trung đoàn Chung Thành Châu (nguyên Bí thư Huyện uỷ Cái Nước, nguyên Thường vụ Tỉnh uỷ Cà Mau). Chính ông là người tác hợp cho Sáu Quạng và Út Phận thành vợ nên chồng, rồi rút luôn về đơn vị này. Ông Bảy gút lại chuyện thay cho hồi kết để vào điều khiển cuộc họp chan hoà tình đồng chí kháng chiến: “Vô đầu buổi trò chuyện, Chánh uỷ  Sáu Toàn khen, kèm theo lời phê bình nhẹ: “Mấy đợt rồi chú với anh em rút tân binh khá, phần chính trị tốt, trung thành năng nổ, dũng cảm... Nhưng nghe chú chọn đồng hương Bến Tre hơi nhiều....”. Sáu Quạng nghe điểm đúng tim đen nên bối rối đưa tay gãi đầu: “Dạ.... có thiệt anh Sáu. Nhưng có điều thành phần tụi nó tốt lắm, hầu hết bần nông, ở đợ như em, con em cán bộ Đồng Khởi không hà, có nhiều đứa con cháu liệt sĩ ở ngoài, hồi bị khủng bố trắng Bến Tre mới điều lắng về đây. Mình không rút nó cũng theo Tiểu đoàn U Minh hay Ba Lẻ Sáu chủ lực miền. Nói anh Sáu thương, hơn mười bảy năm không một lần về quê, có tụi nó em thấy như được tiếp thêm sức mạnh”. Sáu Toàn thổn thức cảm thương thằng em - người đồng chí qua tù đày chết đi sống lại mà vẫn trung thành với Đảng, mà thiệt thà, lại rất mực yêu quê hương, nhưng rồi cũng lắc đầu: “Thiệt anh em đặt chú biệt danh Sáu pè- ni- sê liên quả không ngoa. Cái gì chú cũng phản ứng được”. Kế thấy Sáu Quạng đưa tay gãi đầu, ông Sáu Toàn hỏi tiếp: “Còn việc gì nữa hả chủ Sáu?”.  Sáu Quạng ấp úng: Việc này không phải của em.... mà của hoàn cảnh trớ trêu của anh Hai Tây”. “Hai Tây sao? Ông đó cừ khôi lắm đa, một thời theo bảo vệ Khu bộ phó Nam bộ hồi chống Pháp”-  Sáu Toàn nói một hơi. Sáu Quạng nói tiếp: “Không, em nói chuyện anh bị vợ bỏ đi theo thằng trưởng đồn gian ác”.  Sáu Toản kêu: “Trời! Thằng trưởng đồn nào, tên gì?”. “Thằng trưởng đồn Đả ở Rạch Cui” - Sáu Quạng đáp gọn hơ. Sáu Toàn rướn người vỗ đùi cái bốp:  “Rồi chú bị gài bẫy nữa rồi. Ồng chính là Hai Đả - Lê Văn Đả ở Rạch Cui”. Sáu Quạng mặt sượng trân mà đỏ bừng. Thôi chết tui rồi, anh Sáu ơi.... Sáu Quạng từ giã ông anh Chính uỷ mà lòng ấm ức Hai Tây, nói trong bụng: “Thằng cha chăn trâu này vậy mà đa mưu túc kế âm thầm trả thù mình vụ dừa khô đền vua Gia Long.....”.

Ông Khưu Ngọc Bảy quay sang nói với khách mời là lũ nhóc chúng tôi câu thòng: “Đâu bữa nào mấy đứa tìm thằng Nguyễn Bé, phóng viên Báo Cà Mau - con anh Sáu Quạng, thằng Chung Thanh Thuỷ, phóng viên Đài phát thanh - Truyền hình Cà Mau - con anh Sáu Toàn hỏi thăm coi tụi nó biết gì thêm”. 

Không khó để chúng tôi tìm gặp Nguyễn Bé và Chung Thanh Thuỷ. Rủ đi lai rai là hai ông đồng ý ngay... Tụi tui tóm tắt chuyện Sáu Quạng - Hai Tây rồi hỏi hai ông có rành không. Bảy Thuỷ chành miệng cười: “Hồi đó tụi tui hỉ mũi chưa sạch mà biết gì nhiều, nhưng chuyện về chú Sáu, chú Hai thì có nghe nhiều chú kể  rồi, có chuyện còn gây cấn hơn nữa là...”. 

Hai Bé như tâm sự: “Mẹ tui hồi đó làm công tác cơ quan binh vận tỉnh Cà Mau. Hồi tôi mới chập chững bước, mẹ tôi đi công tác nhiều ngoài thành bồng tôi theo để tạo thế bình phong che mắt giặc, để dễ bề móc nối cơ sở đang hoạt động lòng địch. Lần đó, mẹ tôi xin phép lãnh đạo đưa tôi đi đến khám Chí Hoà thăm ba tôi. Mẹ tôi nắm tay tôi ở phòng chờ thăm tù. Thấy ba tôi bước ra, mẹ tôi nhấc bổng tôi lên nói trong nước mắt: “Con trai mình nè anh. Nó chưa có tên, anh đặt tên cho con đi”. Ba tôi lặng thinh hồi lâu mới kêu tôi: “Con!!! Cha đặt tên con là Quốc Cộng nghen. Thôi, kêu nó là Quốc Cộng nghen em”. Mẹ tôi ngậm ngùi gật đầu: “Dạ”... Chưa nói thêm mấy lời là tụi nó đuổi mẹ con tôi ra, rồi lôi sểnh cha tôi vô phòng điều tra. Thằng cảnh sát Chẩn đấm đá cha tôi túi bụi, rồi trói thúc ké cha tui lên trần nhà nói là cho đi máy bay, đã một hồi rồi hạ xuống cho uống nước xà bông nói là cho đi tàu lặn vừa tra tấn vừa chửi: “Mầy là Quách Khẻo gì. Mầy là thằng Tỉnh con tá điền ở Bình Khánh Mỏ Cày, leo dừa mướn, canh cho Việt Minh họp. Mày đặt con mày tên Quốc Cộng ý muốn là quốc gia cộng sản chớ gì”. Nghe mấy người bạn tù ba tôi ra tù trước kể vậy mẹ tôi sợ bọn điềm chỉ biết lại thêm lôi thôi nữa. Từ đó ai hỏi thằng nhỏ tên gì mẹ tui nói, dạ nó tên thằng Bé, cho êm. Vậy tôi là thằng Bé tới giờ luôn. Sau lần đó ba tôi bị đày ra Côn Đảo, tôi gần sáu tuổi coi như mới biết cha và mở miệng kêu ông là ba. Còn chuyện cha tui với bác Hai Tây tui không rành. Nhưng có lần chú Bảy xuống Cà Mau biểu tôi với chú thăm bác Hai Tây. Bữa đó chú còn mời thêm dì Tư Phiến trước đây làm y sĩ trạm xá dân y huyện Duyên Hải, giờ là huyện Ngọc Hiển đó. Được rủ đi thăm bác Tây, dì Tư mừng húm: “Tưởng thăm ai chớ thăm anh là tui phải đi liền hà. Hồi đó không có ảnh chắc chị em tui bị nhốt trong cứ không biết chừng nào ra do đi ban đêm buồn ngủ lạc đường. Nhờ ảnh biết ảnh cho tui với con út ăn cơm, cho nước mưa đem theo đường rồi cho người dẫn ra sông cái chỉ đường về nhà. Ôi, ai chớ Sáu Quạng - Hai Tây ăn cơm nhà tôi mòn răng hồi nhà tui tản cư vô kinh Lão Nhược, Cái Chỏn nhỏ. Hai ông này vui vẻ dễ thương mà rắn mắt tổ cha”. Còn chú Bảy thì dò đầu tôi: “Bữa nay chú cho mầy gặp đối thủ ba mầy”. 

Nghe người nhà báo có khách đơn vị cũ và bà con Tân Ân tới thăm, ông Hai đi xăm xăm ra đón, mắt ông nheo nheo, miệng lắp bắp: “Ai ghé qua mà không nhớ đích thị là ai. Mới chín mấy mà sao hay quên quá”. Tính pha trò đúng là của ông Hai Tây hồi nào!

Vừa đưa khách vào nhà, ông vừa nói với vô trong: “Ai thì ai, bắt gà làm nấu cháo tụi bây ơi..”. Ngồi xuống ghế, ông Khưu Ngọc Bảy nói: “Anh quên em rồi sao? Em là Bảy ở Ban tham mưu nè”. Ông Hai nhíu mày rồi nhướng mắt nhìn chú Bảy chầm chầm, miệng lắp bắp như học đánh dần: “Bảy tham mưu, Bảy tham mưu. Bảy tập kết về hỏi năm sáu tư chớ gì. Bảy hay dẫn quân đi đón tàu miền Bắc vô chớ gì”. Rồi miệng ông méo xệch, hai giọt nước ứa ra trong đôi mắt hõm sâu. Đến lượt dì Tư Phiến tiếp lời: “Anh Hai còn nhớ Tư Phiến ở Lão Nhược làm ở Dâng Huyến không?”. Hai Tây bóp trán hỏi như sợ nói lớn, ai đó nghe: “Tư Phiến chị út Biên cháu cò Năm Kiểm cũng y tế chớ gì - Rồi mếu máo - Không có cô Năm tui chết gì cơn suyễn hồi đó....”. Nước mắt ông chảy ròng xuống má. Thấy căng, xúc động quá, chú Bảy chen vào: “Còn đây là thằng con anh Sáu Quạng”. Ông chợt ngẩn người chỉ thẳng mặt tôi: “Mầy là thằng Bé”. Mặt ông tươi mà giọng như muốn nấc: “Ba mầy từng cho tao leo dừa vua trồng. Ba mầy trời đánh....”. Rồi phá lên cười, đưa tay run run ôm chặt tôi vào lòng hun tôi chùn chụt. Nước mắt nóng hổi má tôi. Tôi nghẹn ngào không nói nên lời. 

Cơm nước gần xong, tôi tò mò hỏi ông một câu nghe như không phải lúc: “Bác Hai ơi nhà trên chỉ có ảnh Bác Hồ, không thấy huân chương của bác?”. Tôi đang sợ bị mắng thì ông buông đũa nắm tay kéo tôi vào buồng riêng: “Đó con, trong này hết thảy. Thiệt vậy, cơ man nào huân chương, bằng khen, giấy khen, giấy chứng nhận đề bạt công tác...  - Rồi ông nói với tôi như thủ thỉ - Treo ảnh Bác Hồ ngoài đó cho con cháu ngày tưởng nhớ, khói hương. Còn cái này treo trong này là để dặn lòng phải luôn trung thành với Đảng với dân chớ bác với ba mầy công trạng bao nhiêu mà khoe. Tao thì ở đợ chăn trâu lở háng. Ba mầy thì ở đợ leo dừa xệ dái. Chữ nghĩa không đầy lá mít, ham súng thì thoát ly...”. Nhưng bỗng ông sững người như dập gót, nắm chặt tay tôi: “Nói chớ đâu phải dậy con. Thù giặc Pháp, thù Mỹ Diệm, cùng bọn tay sai bán nước và địa chủ cường hào ác bá mới theo cách mạng góp sức mạnh mới đánh thắng nó, mới có hoà bình thống nhứt, có cơm no áo ấm như hôm nay. Ừ mà con làm báo phải nhớ thêm điều này: Địa chủ phải là địa chủ cường hào ác bá chớ không phải địa chung chung nghen con. Nếu có công sức khai phá được nhiều đất ruộng đến đỗi phải mướn nhân công làm tiếp, trả công phải chăng rồi thành địa chủ thì xứ này thiếu gì. Như ông Ba Phi (nghệ nhân dân gian) nổi tiếng nói dóc sớm hết lòng ủng hộ cách mạng, cách mạng về ông khai mình chia đất cho dân nghèo Lung Tràm đó..... - Rồi ông xuống giọng nghẹn ngào, phải ba con còn sống....”.

Nắng chiều đổ bóng. Ông Hai đưa khách ra đầu ngõ:

- Về khoẻ hết nghen. Lâu lâu nhớ ghé về thăm Hai Tây- Hai Đả này nghen!

Theo ánh nắng xuyên qua tàu dừa, tôi còn thấy ông tay còn vịn nhánh vú sữa miệng cười mà như mếu, đưa tay áo quệt quệt những dòng nước mắt”…

 * * *

Vĩ thanh: Nếu có dịp đến Cà Mau, đi sâu vào những làng rừng,những bến cảng giữa lòng dân đã đi vào lịch sử dân tộc, bạn sẽ được nghe rất nhiều câu chuyện thú vị như vậy. Những người hài hước, thông minh, mưu trí, quả cảm hết lòng vì nước, vì Đảng như ông Sáu Quạng - Hai Tây còn rất nhiều ở xứ Nam bộ này.

Rạch Gốc, 10-10-2021

N.K.V.K

 

Nguyễn Kiều Vân Khánh
Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 327

Mới nhất

Diwali – Sử thi làm ra tết

19/01/2022 lúc 11:00

Ấn Độ là đất nước của hội hè lễ tết. Có thành ngữ hẳn hoi, như đùa: mỗi tuần có tám ngày lễ.

Bộ đội Biên phòng Quảng Trị gặp mặt cơ quan báo chí

19/01/2022 lúc 08:39

(TCCVO) Chiều 18/1/2022, Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Trị tổ chức gặp mặt cán bộ, phóng viên các cơ quan báo chí địa phương và các báo Trung ương, các tỉnh, thành thường trú trên địa bàn tỉnh nhân dịp Tết nguyên đán Nhâm Dần 2022.

Nao nao ngồi nhớ Tết xưa…

18/01/2022 lúc 08:16

            Nói là Tết xưa nhưng thật ra cũng chưa phải là xa xưa gì lắm; cũng chỉ

Hội nghị Tổng kết công tác báo chí năm 2021 và triển khai nhiệm vụ năm 2022

17/01/2022 lúc 12:03

Ngày 17/1/2022, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Sở Thông tin và truyền thông, Hội Nhà báo tỉnh đồng tổ chức Hội nghị Tổng kết công tác báo chí năm 2021 và triển khai nhiệm vụ năm 2022.

Kịch Xuân Đức với nhiều ám ảnh

16/01/2022 lúc 21:41

Bên cạnh nhà tiểu thuyết Xuân Đức, còn song hành một nhà viết kịch Xuân Đức (1947 - 2020).

Tạp chí số cũ
tư tưởng Hồ Chí Minh

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

21/01

25° - 27°

Mưa

22/01

24° - 26°

Mưa

23/01

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground