Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 24/01/2021 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Văn nghệ

Trả lại cho thiên

19/01/2021 lúc 21:17

Nhớ mẹ

01/01/1970 lúc 08:00

Đêm nay mưa to con nằm không ngủ được
Giọt nước mưa rơi vào ký ức
Buốt lòng con thương nhớ mẹ vô cùng
Mẹ đã đi rồi mười lăm năm chẵn
Biết mấy cơn mưa, biết bao ngày nắng
Mẹ nằm trong đất, mẹ ơi...

Những lá thư trong lòng thành cổ

01/01/1970 lúc 08:00

Những lá thư trong lòng Thành Cổ
Dòng chữ rưng rưng mang nặng lời thề
Sau cuộc chiến tranh người lính không về
Trang giấy mỏng làm chứng nhân lịch sử
 
Những lá thư làm tôi bật khóc
Có lá thư người vợ gửi cho chồng
Hơn ba mươi năm trộn lẫn máu hồng
Trong lòng đất bên nắm xương người lính...

Tháng tư xanh

01/01/1970 lúc 08:00

Mỗi tháng Tư, mà đâu chỉ tháng Tư
Mẹ nhắc đến anh mỗi chiều mỗi sáng
Thương tuổi tám mươi mắt mờ tai lãng
Nói trước quên sau, chuyện cũ nhớ hoài.

Cổ tích không xa

01/01/1970 lúc 08:00

Khi chiến tranh đã thành chuyện ngày xưa
Thì những chiến công cũng lặn vào cổ tích
Thương đất nước nghèo trải muôn ngàn thử thách
Triệu tấn bom rung nhân nghĩa không tàn
 
Trên ngực mẹ vinh quang lấp lánh
Bao tượng đài vươn sáng trời quê
Ai đó còn đang đi tìm đồng đội?
Đừng trách VỌNG PHU sao mãi không về!...

Thao thức tháng bẩy

01/01/1970 lúc 08:00

Đêm thao thức... nỗi buồn vui bất chợt
Tháng bẩy không mưa, tiếng dế kêu khan
Chàng thương binh nhớ thuở cùng binh trạm
Giờ là nhà thơ danh dự nhất làng
 
Những bài thơ “lòng” bầu bạn với trăng
Kỷ niệm chiến trường, vương dăm mảnh đạn
Sau trận thắng to bên bờ giếng cạn
Lá rừng rụng bay tản mạn mùa thu...

Gặp mộ chị đồng hương ở nghĩa trang Trường Sơn

01/01/1970 lúc 08:00

Gặp mộ chị đồng hương khi cơn mưa rừng sắp đổ ụp xuống Trường Sơn
chiếc nón lá em mang theo chỉ đủ che nén nhang không tắt
đây là nhánh hoa mào gà thuở chăn trâu có lẽ chị vẫn thường hay hái
em ươm vào đất
mùa sau hạt sẽ đơm bông
 
ngày chị hy sinh em chưa ra đời
thuở ấy quê mình ác liệt đạn bom
chị đã xung phong lên đường cùng bè bạn
đào hào, mở đường cho những chuyến xe qua...

Cồ bại làng Thử

16/01/2014 lúc 23:02






M





ấy hôm ni trời mưa. Cứ rỉ rả ngày này sang ngày khác. Thủy đi học muộn. Sáng ni mạ ngủ quên không kịp luộc nồi khoai để Thủy ăn mà đi học cho sớm. Mạ khoác cho Thủy chéo ni long đã cũ, đội cho Thủy chiếc nón đã cời. Thủy vội vàng đi. Trèo qua "Cồ bại", đi qua những gốc mù u, những cây mưng quen thuộc, những cây dương cổ thụ đứng ủ rũ trong mưa, không thèm đung đưa cành lá chào đón Thủy như mọi khi. Thủy không để ý mà đi nhanh ra bãi biển. Cả một dãy bờ biển chạy dài từ làng Thử đến làng Liêm cứ hun hút, hun hút. May sao, không biết từ khi mô, người dân làng biển đã trồng lên đó cả rừng dương, không thì gió như ri cát đã thốc vào mắt, vào mũi Thủy rồi. Mãi nghĩ ngợi, Thủy đã ra đến bãi biển tự khi nào.
Nhìn trước nhìn sau chẳng có một bóng người. Thủy chạy gằn mà vẫn  không kịp đứa mô hết. Bọn bạn răng hôm ni đi học sớm rứa. Không thèm gọi. Không thèm đợi Thủy như mọi khi. Bỗng rầm...rầm...rầm... Tiếng sấm rền trong mưa, như nổ tung trên đầu Thủy. Gió bắt đầu thổi mạnh hơn. Mưa ào ào như trút. Thủy vẫn cứ chạy. Gió giật tung chiếc nón cời trên đầu Thủy bay lông lốc.. Thủy quay ngược lại đuổi theo chiếc nón, vừa chạy, vừa đưa tay vuốt nước mưa tuôn xối xả vào mặt. Biết không thể đuổi kịp chiếc nón, Thủy tủi thân, đứng lại khóc tức tưởi. Răng hôm nay Hiên cũng đi sớm. Hiên tệ rứa à. Nếu mà như mọi khi, Hiên đã xuất hiện, sẽ nhặt nón cho Thủy, và dỗ dành Thủy đừng khóc. Thế mà hôm nay cũng không thấy bóng dáng đâu. Thủy vừa nghĩ vừa đi như vô định trên bãi biển đầy gió mưa và sóng biển gào thét đang như muốn hất tung cả người Thủy ra biển.
Trường cấp hai của Thủy nép mình dưới rặng dương xanh. Mái tranh tre nứa lá, cách xa nhà hàng mấy cây số, sát với làng Liêm ị Quảng Bình. Cứ mỗi mùa mưa đến, Thủy và bạn bè lại chịu khổ sở vì gió mưa như thế. Hôm nay thì chỉ một mình Thủy đi học muộn. Thật là một ngày đen đủi. Rồi Thủy cũng đến lớp. Chậm mất mười lăm phút. Cô Ngoãn "mũi đỏ" dạy văn không trách mắng Thủy mà ngừng giảng bài, lấy khăn để Thủy lau mặt. Ao quần ướt bệt vào người, cô phải đi lấy cho Thủy mặc tạm áo quần của cô rộng thùng thình. Sau khi định thần vào chỗ ngồi, Thủy liếc xuống chỗ Hiên ngồi. Chỗ ngồi trống trơn. Hiên ốm hoặc bị làm sao mà không đến lớp rồi. Rứa mà chưa chi Thủy vội thầm trách Hiên cho tội nghiệp. Hiên ở làng Liêm, nhưng đi học ngoài nớ xa hơn vô trường cấp hai của Thủy ở làng Thử vì thế mà Hiên đi học trong này.
Làng Liêm ị Quảng Bình cách làng Thử ị Quảng Trị một troong nước (khe nước) chảy ra biển. Đó cũng là ranh giới của hai tỉnh. Không biết troong nước bắt nguồn tận đẩu tận đâu. Quanh năm suốt tháng chảy ra biển không hề cạn, cho dù chỉ là một lạch nước nhỏ, mùa hè có thể sải một bước là sang đến bờ bên kia. Ây thế mà mỗi lần mùa mưa đến, nước từ trên nguồn đổ về, sóng lớn từ ngoài biển vào. Những lúc như thế có thể nhìn thấy những con sóng cao bằng mái nhà đổ ụp xuống, tràn vào. Khe nước bé tẹo trở thành một dòng sông lớn hung dữ. Vì thế mà mỗi mùa mưa đến, Hiên lại vào nhà Vĩnh ở trọ.
Hiên cao to, mắt sáng, da ngăm ngăm mặn mòi của người làng biển. Thủy ngồi bàn đầu. Mỗi lần quay lui, lúc mô Thủy cũng thấy ánh mắt sáng của Hiên nhìn mình. Thủy thẹn thùng quay lên. Răng mà cứ nhìn người ta hoài rứa. Hiên và Thủy đều là những học sinh giỏi. Nhất là từ khi cả hai đứa cùng sinh hoạt trong đội cờ đỏ của trường, cùng đi thi học sinh giỏi toán, có điều kiện gần gũi, trao đổi bài học với nhau nên ngày càng thân thiết. Nhiều lần bắt gặp ánh mắt Hiên nhìn mình cháy sáng, Thủy lại thấy ngại ngùng, lẩn tránh. Mỗi lần đi học chưa lúc nào Hiên đi cùng Thủy đến lớp. Khi thì Hiên đi trước một quãng, lúc lại đi phía sau và bao giờ khoảng cách đó cũng không thay đổi. Năm nào cũng thế, mùa mưa đến, rều rác từ trên nguồn đổ ra biển rồi dạt vào, chứa chấp cả lũ rắn đẻn, cạp nong... Bọn con trai nghịch ngợm bắt rắn dọa, thế là tụi con gái chạy tóa lọa có khi vứt cả cặp sách mà chạy. Mỗi lần như thế, Thủy bao giờ cũng được Hiên che chở không cho bọn con trai bắt nạt. Rồi mỗi lần Thủy lỡ đi học muộn, vẫn Thấy Hiên đi từ từ đằng trước như chờ đợi. Cô đã quen như thế rồi. Vậy mà hôm nay, Hiên vắng vì lý do gì, Thủy không hay biết. Nhưng lòng vẫn thấy Hiên có lỗi, thầm trách Hiên tệ?
Cơn mưa vừa ngớt, thì cũng là lúc lớp học tan. Cả lớp ùa ra về, hò reo, trèo qua “Cồ bại”, đi qua những hàng dương, những cây mưng. Hôm nay trời mưa nên không đứa nào đùa nghịch, đứa nào đứa nấy im lặng đi. Chứ như những ngày nắng, dù trời trưa, bụng đói, cả bọn vẫn ùa vào “Cồ bại” mà chơi trốn tìm, đánh trận giả một hồi rồi mới ra về. Ra đến bãi biển, tất cả bọn Thủy đứng khựng lại. Có chuyện gì xảy ra vậy? Phía ngoài troong nước, người đứng đông nghịt hai bên bờ. Tiếng khóc đau thương rền cả một khúc sông. Cả lớp chạy đến. Trời ơi! Hiên! Hiên nằm bên bờ khe nước, trong vòng ôm của bà Lành. Mẹ Hiên ôm đứa con mềm oặt trên tay mà ngất xỉu. Thủy rụng rời tay chân, khuỵu xuống. Hiên ơi! Sao lại thế này. Thủy khóc nấc lên. Cả lớp Thủy òa khóc theo. Tiếng khóc rền trong tiếng gầm gào của sóng biển nghe tang tóc cả một đoạn dài bờ biển. Gợi lại cảm giác thời chiến tranh ác liệt, bom Mỹ dội xuống làm chết hàng loạt người dân. Khi đó thì lòng căm thù thằng Mỹ lấn át đi nỗi đau chết người mà họ không khóc. Còn bây giờ...
Thủy và bạn bè trên lớp không biết rằng, khi cả lớp đang chăm chú nghe cô Ngoãn giảng say sưa bài "Đoàn thuyền đánh cá" của nhà thơ Huy Cận. Ngợi ca sự giàu có của biển cả, ngợi ca cuộc sống ấm no của người dân biển, thì Hiên đang vật lộn với sóng dữ để cứu em Hồng và bác Dương... Bác Dương người làng Liêm, dẫn bé Hồng về làng Thử quê ngoại để ăn giỗ từ hôm trước, trở về, gặp lúc troong nước đầy sóng, bác chần chừ định quay lui. Nhưng bé Hồng không chịu. Bé đòi về để chiều kịp đến lớp. Bác Dương cõng bé Hồng vừa lội qua được một quãng thì trượt chân vào chỗ nước xoáy, cùng lúc sóng từ ngoài biển ào vào cuốn trôi hai cha con bác Dương ra biển. Hiên đi học từ sớm, chưa thấy Thủy nên đi từ từ có ý đợi. Từ xa thấy mất hút bóng người ở troong nước, biết có chuyện chẳng lành, Hiên chạy tới rồi ào ra biển giữa sóng lớn, giằng co với sóng cõng được em Hồng vào bờ. Hiên lại lao ra cứu bác Dương. Nhưng không kịp nữa rồi. Một con sóng hung dữ khác ập tới nuốt chững cả hai người. Bé Hồng van khóc khản giọng. Lúc mọi người chạy đến thì biển chỉ trả lại hai thi thể đã mềm oặt.
         
Thủy cứ day dứt không nguôi vì cái chết tang thương của Hiên. Cô không cắt nghĩa được vì sao làng Liêm của Hiên và làng Thử của c« lại khổ thế, có cái gì đó cứ na ná nhau. Bao nhiêu năm tháng, từ đời này sang đời khác, dân làng Thử và làng Liêm sống nghèo lắm. Biển bãi ngang ít được mùa. Cây khoai lang là lương thực chính. Người ta gọi đùa quê Thủy là quê "ăn cơm bữa diếp". Tức là ba ngày mới ăn được bữa cơm, còn là ăn khoai trừ bữa. Việc đó là thật. Vì thế mà Thủy không thấy giận, chỉ buồn...

Hội nhà tầng

16/01/2014 lúc 23:01






Q





uê Tôi là một thị trấn nhỏ thuộc một tỉnh nghèo ở miền Trung. Sau chiến tranh, thị trấn là một vùng đất hoang tàn. Tôi đã từng chứng kiến nỗi cực nhọc, vất vả của người dân trong cuộc mưu sinh. Tiếng là thị trấn nhưng nhìn lại thấy không bằng nông thôn nơi khác. Nhiều người đã rời quê nghèo vào nam làm ăn...
Khi quê tôi bước vào cơ chế thị trường thì tôi đã ra Hà Nội công tác, lấy vợ và định cư luôn ngoài đó. Bạn bè hồi cấp ba rất đông, chúng đều đi xa, có nghề nghiệp ổn định cả. Năm nào vợ chồng tôi cũng về quê ăn tết. Cứ mỗi lần về quê, tôi đều đến thăm vợ chồng thằng Lâm-đứa bạn thân nhất trong đời. Nhà nó ở ngoại vi thị trấn. Cũng như tôi, học xong cấp ba, Lâm thi đỗ vào trường đại học nông lâm. Tốt nghiệp, nó được phân về công tác tại phòng nông nghiệp của một huyện miền núi và yêu một cô gái người miền Bắc công tác ở huyện bên, làm nghề thú y. Thời bao cấp rất khổ. Anh chị cưới nhau được vài tháng là xin thôi việc, về sống với bố mẹ, sau đó xin đất làm nhà ở riêng. Vợ Lâm đẹp người đẹp nết, lặng lẽ về sống tại quê chồng, không hề oán trách số phận. Nhà nó chẳng dư dật gì, nhưng được cô vợ đảm đang nên lúc nào gia đình cũng ấm cúng, hạnh phúc. Vợ chồng Lâm làm đủ nghề: Chồng đi xe đạp thồ, ai thuê việc gì làm nấy, cốt có thu nhập hàng ngày là được. Vợ ở nhà nuôi lợn, làm một sào vườn và hai sào ruộng, chăm bẵm hai đứa con trai. So với cuộc sống của Lâm thì tôi khá hơn rất nhiều. Lâm ít nói, chí thú làm ăn. Cứ mỗi lần về quê, tôi được Lâm dẫn đi chơi nhà những người bạn nó mới quen sau này, toàn là những đứa giàu có. Thời những năm chín mươi của thế kỷ hai mươi, cái thị trấn nhỏ của tôi rải rác mọc lên những nhà cao tầng. Thế là họ tụ hội nhau thành lập Hội Nhà Tầng, hàng năm sinh hoạt một lần vào dịp tết. Lâm không có nhà tầng nhưng vẫn được họ mời đến chơi với hội, từ chối không được. Lần nào về quê, tôi cũng được Lâm rủ đi với hội nhà tầng. Tôi không đi, Lâm không chịu, dần dần thành quen cũng vui. 'Hội nhà tầng' toàn là những đứa nhiều tiền. Không hiểu tiền chúng kiếm đâu mà nhiều thế không biết? Trong số sáu 'đại gia' của hội, đáng chú ý một vị trạc tuổi tôi, ăn nói dõng dạc, coi tiền như rơm rác. Có một lần nhậu phê phê, anh ta tuyên bố:
- Sắp tới, hội chúng ta kết nạp thêm ba thành viên, như vậy hội có chín hội viên, con số trực sinh quá đẹp. Ba hội viên này là đàn em của tôi, sang năm về mua đất và làm nhà ở thị trấn này- Anh ta cười mãn nguyện và nói tiếp:
- Mấy đứa này giàu lắm, làm nghề buôn gỗ...
Tôi ghé tai Lâm hỏi:
- Cậu ta làm nghề gì?
Lâm úp miệng vào tai tôi:
- Cán bộ có chức quyền ngành kiểm lâm tỉnh.
Tôi à lên một tiếng và kịp im lặng ngay. Cũng lúc ấy, anh ta quay sang hỏi Lâm:
- Lâu nay làm ăn nhì nhằng có đủ sống không? Cần bao nhiêu tao cho mượn. Nếu thích, tao bày cho cách làm ăn rất nhiều tiền.
Lâm cười:
- Cũng tạm đủ sống. Chưa nghĩ kế hoạch gì cả.
Mấy 'đại gia ' cũng tỏ ra nhiệt tình muốn giúp Lâm về tiền bạc. Họ hưởng ứng theo lời của vị đàn anh kia. Lâm chỉ nói:
- Cảm ơn, có gì nhờ các cậu sau.
Những người giàu trong khi ngà ngà say, họ rất thực bụng và sẵn sàng hứa những lời to tát. Thực ra, họ có tiền nhờ mánh khóe, may mắn, nên có vung ra một ít cũng thấm tháp gì đâu?
Lâm kể cho tôi nghe nhân thân của từng thành viên 'Hội Nhà Tầng'. Nó chép miệng:
- 'Họ đều may trong cuộc đời, chả phải đau lưng mỏi cổ gì cả mà vẫn hái ra tiền. Ở vào hoàn cảnh khác thì bọn chúng cũng như tao bây giờ mà thôi.'
Qua lời kể của Lâm, tôi hiểu rằng: Họ đều làm những nghề lúc nào cũng gắn với tiền bạc trên trời rơi xuống. Chẳng hạn vị quan chức kiểm lâm thì luôn được đàn em cung phụng, tiền bạc dư dã, còn năm anh chàng kia làm các nghề: Cai đầu dài bọn đào đãi vàng, kỹ thuật giám định công trình thủy lợi thuộc các dự án, một số buôn hàng cấm qua cửa khẩu. Họ giàu là phải. Riêng tôi cứ ám ảnh một điều gì đó sau mỗi lần đến với hội nhà tầng. Ở thị trấn, người ta xì xào về cái hội này. Có người nói với tôi:
- Cậu ở xa không biết, mấy thằng gọi là giàu có đó chẳng qua chưa ai sờ  gáy thôi. Chúng ra mặt khinh thường mọi người xung quanh. Đó là cái hội ngạo mạn của những tên có tiền, thiếu văn hóa, chơi ngông. Ở thành phố, nhà tầng đầy rẫy mà có ai lập ra cái hội nhí nhố ấy đâu. Để xem...
Tôi nghe và biết vậy thôi, không bàn gì. Đi với cái hội này cũng hay hay, ăn nhậu thả sức. Tuy nhiên, tôi chợt nhớ đến lời nói của một tay trong cái hội kia lúc say lè nhè:
- Cứ mở toang cửa sổ tầng hai cho thoáng, hát ka-ra-ô-kê cho đã. Sợ đếch gì  mấy nhà hàng xóm thấp lẹt đẹt, nghèo kiết, cứ chõ miệng ngăn cản chúng ta vui vẻ. Có giỏi thì làm giàu như bọn này, còn khuya...

Lung linh sông nước

16/01/2014 lúc 22:59

“Đũ lờn Thạch Hón ơi chèo nhẹ
Đáy sông cũn đó bạn tôi nằm...” (1)





T





ùng về đến bờ sông Thạch Hón thỡ mặt trời đó khuất hẳn phớa bờn kia của dóy nỳi Mai Lĩnh. Khụng gian như ngưng lại êm ả, bóng chiều mờ sương, những tia sáng rụt rè, yếu ớt hắt lên những đám mây lơ lửng cuối trời hồng nhạt rồi nhoà dần. Tùng thẫn thờ nhỡn dũng sụng, thăm thẳm dừi theo những khúm hoa lục bỡnh tớm dập dờn trụi trờn súng nước; gió hiu hiu thổi lất phất mái tóc pha sương xoó xuống vầng trỏn rộng rồi mơn man lên da thịt, một cảm giác xốn xang, rạo rực, chờ mong ùa dâng lên trong anh.
Tùng thổn thức trong tiếng súng vỗ về: Hương ơi! Anh lại về với sông quê, về với bến cũ. Bao nhiêu lần rồi anh không cũn nhớ nữa. Chỉ biết rằng mỗi lần trở về là mỗi lần anh chất chứa, chở nặng thờm niềm khỏt khao, hy vọng, đợi chờ... Đất nước thống nhất đó ba mươi lăm năm rồi. Khoảng thời gian ấy có biết bao đổi thay trong cuộc đời và của mỗi con người, vậy mà anh và em vẫn cứ phải đi tỡm nhau trong cỏch xa biền biệt. Hương à! Anh vẫn nghe thỡ thào đâu đó trong gió, trong sóng nước xôn xao, lời em thủa nào: “... Em sẽ chờ anh ngày chiến thắng, ngày ấy em đi bộ chưa đầy một cây số là tới đây thôi, chỉ sợ anh chê con gái Quảng Trị đen đúa, xấu xí ...”. Chao ôi! Lời nói của em nghe sao mà dịu nhẹ, ngọt ngào, đằm thắm làm vậy, anh ngỡ như từng hơi thở nồng nàn, dập dồn, mê say rơi đậu vào nơi sâu kớn nhất của trỏi tim mỡnh. Anh đó uống lấy từng lời, từng ỏnh mắt ỏnh lờn trong đêm của em mà xúc cảm, mà dạt dào hạnh phúc. Hương ơi! em ở đâu? Anh đó đi qua bao năm tháng để tỡm em...
...Đêm ấy mỡnh đó ở bờn nhau ngay chớnh nơi bến sông này, thầm thỡ, e ấp, ấm nồng, quyến luyến tay trong tay. Trời tối như mực anh không nhỡn rừ được mặt em. Anh thèm qúa chừng một tia chớp cho dù đó là ánh hoả châu, đó  mười mấy ngày rồi ở bên nhau, gần kề bên nhau vậy mà mỡnh đó biết mặt nhau đâu. Anh liều quá phải thế khụng em? Vỡ lỳc ấy mỡnh đang ở trong hoàn cảnh hết sức hiểm nguy. Và đúng như vậy, vừa quàng chiếc bi đông vào người cho em (chiếc bi đông anh trao em làm kỷ niệm), thỡ nghe tiếng bước chân rào rạo của bọn lính nguỵ đi tuần. Em hoảng hốt “Anh đi đi” rồi vội vàng đẩy anh xuống sông, ngụp dưới những bụi hoa lục bỡnh, em nhanh như một con sóc, lao dọc theo bờ sông về phía hạ nguồn. Bước chạy em bỡ bừm, tiếng “Bong, bong...” của chiếc bi đông va vào những thân cây bên bờ sông, bọn lính rượt đuổi về phía em. Tiếng hũ hột, tiếng sỳng nổ... nỏo động cả màn đêm. Qua đến bên kia sông, anh vẫn cũn nhỡn thấy ỏnh đèn pin loang loáng lia đi, lia lại dọc bờ sông, trên mặt sông và những loạt đạn AR 15 chát chúa vang lên. Anh thở phào tin chắc là em đó chạy thoỏt, vỡ nếu bị trúng đạn, hoặc bị bắt thỡ bọn chỳng khụng truy đuổi em lâu như vậy. Nhưng anh vẫn khôn nguôi lo lắng về em, cứ lẩm nhẩm, khấn nguyện mói hoài cho em thoỏt khỏi vũng võy của địch...
                                                  
- Mạ! Mạ không tin con à - Hương nũng nịu nói với mẹ.
Bà Thanh dớ dớ ngún tay lờn trỏn cụ con gỏi - Con núi chi lạ rứa, mạ khụng hiểu?
- Thôi mạ đừng có giả bộ. Con không cũn nhỏ dại như mạ nghĩ nữa mô.
- Tổ cha mi, nhỏ nhỏ cỏi mồm...
Bà Thanh mắng yờu con gỏi rồi kộo cụ vào lũng. Quả thực, lỳc nào bà cũng thấy con gỏi mỡnh bộ bỏng, nhỏ dại. Bà nhớ ngày chồng đi tập kết, bế con ra bờ sông Thạch Hón tiễn chồng. Bà khúc, bộ Hương cũng oà khóc theo mẹ, nhỡn bố đưa tay vẫy vẫy trên con đũ chồng chềnh xa dần về phớa bờn kia sụng. Lỳc ấy bộ Hương mới lững chững biết đi, vậy mà đó mười bảy năm rồi. Bé Hương ngày nào bây giờ đó là nữ sinh Trường Nguyễn Hoàng duyên dáng, xinh xắn. Bà lẩm nhẩm: nó giống bố, giống quá chừng, từ vầng trán rộng, mái tóc dày đen, chiếc mũi sọc dừa đến nụ cười, ánh mắt ... chẳng lẫn vào đâu được.
- Mạ biết, mần răng mà dấu con được, chỉ vỡ khụng muốn con phải bận tõm, lo nghĩ thụi. Chỳ ấy là người đằng mỡnh con ạ! Chỳ bị bọn địa phương quân bắn bị thương rồi truy sát gấp quá, may mà vào được nhà mỡnh chớ khụng thỡ cũng chết như hai chú kia đêm bữa tê ở ngoài sông rồi. Thiệt tội cho hai chú đó, bị bắn chết nổi phỡnh trờn sụng mấy ngày mà bọn chỳng nhất quyết khụng cho đem đi chôn cất. Chúng cũn bảo: “Để mần mồi cho hà bá chớ thừa đất mà chôn Việt cộng à... có rứa mới làm gương cho đứa mô muốn đi theo Việt cộng, che dấu Việt cộng”. Sao trời không đánh, thánh không vật cái lũ bán nước, hại dân, tàn ác, dó man vụ nhõn tớnh ấy chớ...
Ngồi trong hầm bí mật, nghe hai mẹ con Hương nói với nhau, nước mắt Tùng ứa ra: “Vậy là Thạch và Nam đó hy sinh... Khụng biết xác hai đứa cũn nổi ngoài sụng, chỡm xuống đáy sông, hay trôi ra ngoài biển mất rồi...Thạch, Nam ơi! Tao biết phải làm thế nào bây giờ đây...” - Tùng nấc nở, đau thắt ở lồng ngực. Anh không ngờ hai đồng đội của mỡnh đó hy sinh như vậy.
Tổ ba người do Tùng làm tổ trưởng, nhận nhiệm vụ trinh sát Khu quân sự Thành Cổ để chuẩn bị cho một trận đánh lớn. Việc đột nhập vào Thành Cổ hết sức thuận lợi, nhưng khi trở ra bất ngờ gặp một trung đội lính Nguỵ đi càn về, không cũn cỏch nào khỏc, Tựng đành phải ra lệnh cho Thạch và Nam cùng đồng loạt nổ súng. Mấy tên đi đầu trúng đạn rống lên thảm hại, số cũn lại nằm rạp xuống đất, sau khi kịp hoàn hồn đó bắn như vói đạn về phía Tùng và đồng đội. Ba anh em vừa chiến đấu vừa rút lui theo hướng ra bờ sông để bơi qua sông trở về hậu cứ. Tùng là người ở phía sau cùng cầm chân địch cho Thạch và Nam qua sông trước. Tiếng súng AR 15 và AK nổ điên loạn, đan xen nhau, cả tiếng lựu đạn thỉnh thoảng lại bùm lên chói tai. Bỗng mắt Tựng hoa lờn, hai chõn rớu lại, loạng choạng, phía bên mông trái rần rật nóng rồi tê cứng, rờ tay thấy máu ướt đầm. Tùng khuỵu xuống lăn vào mấy bụi lau rậm bên đường rồi cứ thế trườn đi. Tiếng súng tiếp tục nổ, tiếng bước chân chạy huỳnh huỵch, tiếng hũ hột, thỳc dục tiến lờn dồn về phớa bờ sụng...
Tùng trườn dần theo những bụi cỏ lau, cố sức vượt qua một ao bèo lục bỡnh rộng, một bờ rào ken kớn cõy dứa tàu vào đến một khu vườn thỡ ngất xỉu... Thời gian trụi đi không biết bao lâu, khi tỉnh dậy Tùng đó thấy mỡnh nằm trong một căn hầm, bên cạnh là một chiếc đèn pin đang được bật sáng và một người phụ nữ không nhỡn thấy rừ mặt. Tựng bàng hoàng, sửng sốt, khụng hiểu mỡnh đang ở đâu, anh cố nghiêng mỡnh để ngồi dậy. Một bàn tay mềm mại đặt lên ngực Tùng:
- Con cứ nằm nghỉ cho khoẻ!
- Tôi... đang ở đâu? - Tùng ngơ ngác, tiếng hỏi đứt quóng.
- Con đang ở nhà mạ. Con bị thương, máu ra nhiều quá... Mạ đó đắp thuốc và băng bó vết thương rồi. Cũng may vết thương không su lắm, ở phần mềm thôi. Mà nhờ cái bi đông ni đây - Vừa nói người đàn bà vừa đưa chiếc bi đông bị thủng hai lỗ cho Tựng.
Tựng nhỡn rồi đưa tay đón lấy chiếc bi đông của mỡnh, anh đó hiểu và nhớ lại tất cả những gỡ đó xảy ra.
- Cám ơn mẹ đó cứu con!
- Thôi con ăn cháo, uống thuốc rồi nằm nghỉ, mạ phải lên chớ ở dưới ni lâu không được, bọn địch tuần tra, lựng sục dữ lắm.     

Căn hầm Tùng đang trú ẩn ở ngay trong nhà Hương. Cửa hầm nằm dưới bếp nấu ăn được ngăn cách bằng một tấm sắt dày trên để xoong, nồi và phủ đầy tro vỡ vậy rất bớ mật và an toàn. Đây là một trong năm căn hầm bí mật bà Thanh tự tay đào nuôi dấu cán bộ trong những năm tố Cộng đen tối của Mỹ - Nguỵ. Bốn chiếc kia không ở trong khuôn viên nhà và đó bị mưa lũ làm hư hỏng. Bà Thanh là người rất có kinh nghiệm trong việc đào và nguỵ trang hầm bí mật. Bà được mệnh danh là “Đảng viên đậy nắp hầm”, một trong những cơ sở cách mạng tin cậy nhất của khu vực Cổ Thành này. Thật may mắn cho Tùng và như trời định sẵn anh đó ngất xỉu ngay tại vườn của nhà Hương và được mẹ Hương đưa ẩn náu tại căn hầm bí mật này. Đêm đó Hương đi thăm một cô bạn cựng lớp bị ốm nằm ở bệnh viện tỉnh nờn mói đến hôm sau, khi mẹ bảo cảnh giới để chăm sóc vết thương cho Tùng thỡ cụ mới biết.
Tùng ở dưới hầm bí mật chật chội, ngột ngạt và ẩm mốc, cả ngày không biết làm gỡ, hết nằm rồi lại ngồi, hết quay bờn này lại quay bên kia, đầu óc căng lên như sợi dây đàn vặn hết cỡ, vết thương thỡ tấy sưng lên nhức nhối khiến anh hết sức khó chịu. Anh cảm giác như mỡnh đang nằm trong một nấm mồ vậy. Một điều làm Tùng rất xấu hổ và khó xử đó là mọi sinh hoạt của anh đều được gói gọn trong căn hầm bí mật, đặc biệt là việc vệ sinh. Biết được suy nghĩ của Tùng, bà Thanh động viên:
- Con cố gắng chịu đựng, đừng ngại chi hết...
- Mẹ à! Con ở đây nguy hiểm cho mẹ và em quá. Mẹ có cách nào đưa con ra khỏi đây không?...

Anh có biết không

01/01/1970 lúc 08:00

Đoá hoa hồng ngày mười bốn tháng hai
Không phải của anh, của người bạn cũ
Niềm vui không tên
Nỗi buồn vô cớ
Nên sao trời thao thức suốt đêm.

Chiều muộn

01/01/1970 lúc 08:00

“Đã lâu rồi Đồng Hới ở trong em”
Sao mãi đến bây giờ em mới tới?
Rừng dương xanh ngập ngừng bối rối
Biển thầm thì, sóng cuộn dưới lòng sâu
 
Bao lâu rồi ta đi tìm nhau
Sao mãi đến bây giờ mới gặp
Cầu Nhật Lệ nối đôi bờ mong ước
Bảo Ninh gần rồi, sao em còn xa?...

Chợ vãn chiều tàn

01/01/1970 lúc 08:00

Bên kia có dòng sông thức suốt
Tôi bạc đầu ngồi đợi ánh trăng
Em son phấn đi về phố chợ
Bao năm rồi vàng đá nát tan.
Bao năm rồi câu thơ phiền muộn
lưng chừng đời…
Em bỏ tôi đi.
Mưu hạnh phúc
Đôi tay núng nính...

Trăng đã độ rằm

01/01/1970 lúc 08:00

Không phải tình cờ gió theo mây
Tri ân em mở rộng lòng này
Cho hoa vô lượng thơm ngàn núi
Cho biển trùng dương dội sóng gào
 
Không phải tình cờ hạc bay xa
bỏ đình trơ vắng cảnh chiều tà
ngàn năm bỡi luỵ cơn dấu ái
gió cuốn về trời em xót xa..

Tiệc mời

01/01/1970 lúc 08:00

Nào ta vào cuộc đi anh
Tiệc mời khoai luộc với canh tập tàng
Chẳng cần bàn ghế làm sang
Ghế đòn chiếu lác tuyềnh toàng mà vui
Khoai quê vừa ngọt vừa bùi
Có màu sữa mẹ, có mùi tóc cha
Có tình bến nước cây đa
Tình làng nghĩa xóm theo ta đường dài...

Hát

01/01/1970 lúc 08:00

Con sóng hát ở biển xanh
Ngọn gió hát ở cây cành lá reo
Suối khe hát ở chân đèo
Tiếng sáo hát ở cánh diều chơi vơi...

Vẽ

01/01/1970 lúc 08:00

Vẽ trăng một nét gương soi
Có hình chú cuội ngồi cười trên mây
Vẽ non nghe tiếng sương bay
Cánh chim hồng nhạn trong mây mơ màng
Vẽ em một đoá hoa hồng..

Hoa Phong Lan

01/01/1970 lúc 08:00

Hoa phong lan treo ngược mình vách đá
Thả vào chiều sắc tím hoàng hôn...

Hoa mai

01/01/1970 lúc 08:00

Lọc trong gió sương mùa đông giá rét
trút lên cành bừng nở nắng chào xuân...

« 211212213214215 »

Dự thảo
tư tưởng Hồ Chí Minh
Du Lịch Quảng Trị

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

25/01

25° - 27°

Mưa

26/01

24° - 26°

Mưa

27/01

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground