Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 24/01/2021 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Văn nghệ

Trả lại cho thiên

19/01/2021 lúc 21:17

Hoa hồng

01/01/1970 lúc 08:00

Vẫn biết cành hồng gai nhọn sắc
Người yêu hoa chẳng sợ vết gai cào...

Hôn mặt trời

01/01/1970 lúc 08:00

Nhìn lá cọ
thấy mặt trời
chia múi
Nhìn đồi chè
toả tán lá
tươi xanh
Nhìn suối trong
thấy mặt trời
tròn hạt ngọc
long lanh...

Lối xưa

01/01/1970 lúc 08:00

Xa cách lâu rồi Quảng Trị ơi!
Tháng ngày thương nhớ chẳng khi nguôi
Nguyễn Hoàng dáng cũ còn không nhỉ
Hưng Đạo đường xưa thay đổi rồi!
Sương xám Khe Sanh mờ mạn ngược...

Bâng Khuâng

01/01/1970 lúc 08:00

Sâu thẳm tựa như đêm
Vọng dài như nỗi nhớ
Nỗi niềm không gọi tên
Sao nghe lòng sóng vỗ
 
Còn đầy một vần thơ
Xếp chặt trong khoang nhớ
Đếm thời gian ngu ngơ
Mùa rơi ngoài khung cửa...

Ám ảnh

01/01/1970 lúc 08:00

Bạn tưởng tượng đi
con người khi ăn,
sự khó nhọc cạ vào hàm răng
nghiền nát vất vả
con người khi uống,
sự thẳm sâu chảy qua đầu lưỡi
thấm đẫm mối lo toan, chịu đựng
Vị giác những dòng sông nuôi tâm hồn ta thạch nhũ
tiếng gõ những hang động trầm lắng hoang dã ném giấc mơ
con người trượt trên tảng xanh rêu
Bạn vẽ bằng môi mình lên những bức tranh nụ hôn
vẽ rực rỡ cổ tích hiện cánh đồng đầy bánh...

Học cách của con ong

01/01/1970 lúc 08:00

Không phải tất cả các loại phấn hoa mà con ong chăm chỉ mang về đều thơm ngát, đều lành, đều ngọt
trong hai túi nhụy vàng  có hương nhụy của rất nhiều loài hoa độc
nếu không phải là ong đã chết dọc đường
 
Nếu không phải là ong sẽ chết vì lộng lẫy sắc hương
chết vì sự ngây thơ, chết vì những độc tố
trong vẻ đẹp sặc sỡ của bông hoa có một nấm mồ?...

Viết bên cột đá thề

01/01/1970 lúc 08:00

Thắp một nén nhang tưởng niệm các Vua Hùng
tưởng niệm những nghìn năm cha ông từng trằn lưng cuốc đất
                                          đắp đập be bờ, vót chông, làm lẫy nỏ.
tưởng tượng những nghìn năm cha ông từng ngửa mặt lên trời,
                                cúi mặt xuống bùn, khóc cười và than thở
chẳng biết đời sau còn giọng hát Xoan
còn bánh chưng, bánh dày
còn tục cúng ông bà, Từ Đường và gia phả?...

Khe Sanh giấc mơ cao xanh

04/11/2013 lúc 10:18

none

Bên bờ Hiền Lương

08/07/2014 lúc 15:27






M





ùa đông năm 1968
Mùa đông khắc nghiệt và kéo dài. Mấy ngày hôm nay, gió mùa đông bắc từng đợt tràn về. Trời âm u, từng đám mây màu chì xếp thành lớp cuồn cuộn trôi về phía tây. Thỉnh thoảng, trần mây nặng trĩu bị gió xé toạc, hé ra một khoảng trời màu xanh. Tiếng pháo bên phía tây Cồn Tiên, Dốc Miếu vẫn thay tiếng sấm giã bùm bụp lên đồng ruộng, xóm làng. Càng gần sáng, tiếng pháo càng thưa. Im lặng dâng tràn. Chỉ có tiếng gió reo. Tiếng cá quẫy. Tiếng lách của ai đang kéo càn cơ bẩm. Tiếng ầu ơ của bà mẹ ru con trong những căn hầm chữ A… Sự im lặng giả tạo như trò chơi trẻ con, đánh lừa dòng sông, đánh lừa cây cỏ, đánh lừa mưa gió rồi bất thình lình những cơn mưa đạn, mưa bom lại ào ào trút xuống. Bốn năm qua, tiếng pháo, tiếng bom của giặc như âm thanh thường trực với đất trời, với người dân vùng tuyến.
Trong hầm chỉ huy của tiểu đoàn 2, nước mưa lút mắt cá chân. Căn hầm hình chữ nhật rộng hai mét, dài bốn mét là chỗ phình ra của giao thông hào. Bốn cột gỗ vững chắc bốn bên được những cọc tre trợ lực chống chiếc đà ngang cũng bằng gỗ thành một mái che. Bên trên là một lớp đất dày. Thông với hầm chỉ huy là một chiếc hầm chữ A khá kiên cố. Nước trên nóc hầm thỉnh thoảng lại giỏ xuống lóc bóc. Ở một góc, mấy chú cóc không biết từ đâu mò tới, nổi lềnh bềnh trên mặt nước hay bám vào cộc tre chống hầm, nghiến răng thành những tiếng ồm ộp, trầm buồn. Căn hầm lạnh lẽo sặc mùi ẩm mốc, mùi nồng tanh của đất đỏ bazan, mùi ải mục của các lớp lá dương lót trên hầm.
Tiểu đoàn trưởng Trần Thắng nằm trên võng hút thuốc rê. Chiếc võng nilon màu xanh cánh dán sủm xuống vắt chéo từ bên này sang bên kia hầm, cách mặt nước chừng một gang tay. Khuôn mặt anh như sắt lại, hai má hõm xuống làm đôi môi dẫu ra. Đôi mắt sâu trũng, đói ngủ, mới ngoài ba mươi mà tóc đã nhiều sợi bạc. Nét già nua ấy mới được Nhị, cô trung đội trưởng dân quân xã V phát hiện gần đây. Hôm ấy, chị lên trực báo.....
 

Thằng chăn trâu

05/08/2014 lúc 08:29






S





au nhiều tranh cãi gay gắt, về sự kiện xảy ra trong những ngày chuẩn bị khởi nghĩa Tháng Tám. Bảy Toán - người viết dự thảo quyển truyền thống kháng chiến, có lẽ vì quá bực bội, mà nói một câu ngoài ý muốn:
- Lúc đó, anh chỉ là một thằng chăn trâu, thì làm sao biết được việc của chúng tôi ?(!)
Cả hội nghị đi. Căng thẳng. Anh Lấm một trung tá nghỉ hưu, một chiến binh, một tiểu đoàn trưởng gan góc qua hai thời kỳ kháng chiến của quê hương, mặt xám ngắt kiềm nén. Lòng tôi nhói đau, uất nghẹn như chính mình bị xúc phạm. Bởi vì, Lấm vốn là bạn thân cùng chăn trâu từ thưở thiếu niên với Tri, người tôi mốc nối 9-đầu tiên, trở thành chiến sĩ công an xung phong trừ gian do tôi phụ trách mà tôi vô cùng tin cậy, yêu thương.
............

Ánh đèn bên nhà hàng xóm

16/01/2014 lúc 22:13






V





ợ ngăn cản không được, đâm ra giận hờn. Nàng tuyên bố xanh rờn “Nếu còn giao du với người ấy nữa thì sẽ cạch!”. Và nàng thực hiện thật. Như mọi bận, bao giờ tôi cũng tìm cách làm lành ngay. Nhưng lần này tôi lặng thinh. Thành thử một cuộc “chiến tranh lạnh” đã xảy ra giữa tôi với nàng. Tối đến, bao giờ nàng cũng chờ cho tôi đã ngủ rồi thì mới vào giường. Và ngược lại. Thực ra, nàng giận tôi cũng có cái lý đúng. Như những người có cùng một nhãn quan, một cách sống. Nàng thuộc về số nhiều. Nhưng chưa phải là tất cả. Ít nhất là trên đời này vẫn còn có tôi. Nàng có quyền riêng. Và tôi cũng vậy. Nàng không thể bắt tôi theo nàng được.
Tôi vẫn thân thiết với Y. Tôi gọi thế cho tiện, cũng là đã nhiễm cái thói của nhiều người ở trong làng vẫn quen mồm gọi Y là thằng, là cu! Người ta thường nói với nhau trong những câu chuyện phiếm “Nhà cu Y vừa bán được đàn lợn vào đúng lúc giá cao” Hay trong một lời khen “Thằng Y thế mà khéo chiều vợ ra phết”. Một sự cần đến “Việc này phải có tay của cu Y thì mới xong được”. Rồi có người rành rành là ít tuổi hơn Y nhiều, nhưng vẫn lớn tiếng sai con “Sang nhà cu Y hỏi xem mai có làm hộ hay không thì bảo”. Đại loại là như vậy. Người ta nói ở đằng sau và ngay cả trước mặt Y. Nhưng hình như Y chẳng hề bận tâm. Mà vẫn chỉ cười khì. Một tiếng cười đến là lành của một người đã bước vào cái tuổi sáu mươi.
Tôi thân thiết với Y. Lẽ thứ nhất là Y là hàng xóm, là tối lửa tắt đèn có nhau, là cái tình cái nghĩa của từ ngàn đời nay. Còn thêm lý do nào nữa thì tôi cũng chưa lý giải được. Chỉ biết, lâu không thấy Y lại đằng nhà tôi thì tôi sang bên nhà Y. Chúng tôi thường ngồi với nhau đến khuya. Đến khi các loại côn trùng nghỉ tấu nên bản hoà ca rỉ rả. Tất cả chìm sâu vào cõi lặng. Chỉ còn tôi với Y vẫn thức, vẫn ngồi bên nhau. Và nói chuyện…
                                        
Xưa, Y là một đứa trẻ bị thiệt thòi ngay từ thuở mới lọt lòng. Mẹ Y là một cô gái quê mãi dưới mạn Thái Bình. Năm đói kém đã trôi dạt đến làng này, vào làm mướn trong gia đình ông Cự Phú. Ông chủ lúc đó đã có tuổi, nhưng vẫn còn khoẻ và rất phong tình. Ông hay để ý đến cô gái có khuôn mặt tròn tròn, da trắng như trứng gà bóc, đôi mắt bồ câu luôn ngơ ngác buồn.
Từ vô tình đến cố ý, cô gái trẻ đem lòng yêu ông chủ. Rồi cô ngã vào vòng tay ông, lòng phơi phới nghĩ tới một cuộc đổi đời. Nhưng khi cô bước chân vào được nhà này, ông chủ đã có ba bà vợ. Người vợ Cả không biết sinh nở. Bà Hai ba cô con gái. Bà Ba năm cậu con trai. Quyền thu quyền phát trong nhà rơi vào tay bà Ba cả.
Còn với Cô, vẫn không hơn được cái thân phận của một con ở. Đã vậy, còn phải chịu thêm sự ghen tuông đến cay nghiệt của người đàn bà đầy uy quyền. Nhưng mẹ Y còn trẻ, lại là người biết nhẫn nhục và giầu nước mắt. Những giọt nước mắt trong vắt với một tình yêu nồng đượm làm cho ông chủ lay động, khơi dậy một chút lương tâm ở một người mà ở cửa miệng lúc nào cũng như có gang thép. Ông cho dỡ hai gian bếp chuyển đến dựng lên trên mảnh vườn ở cuối làng của một nhà vừa gán nợ. Mẹ con Y được chuyển đến đây ở. Cũng là một cơ ngơi, một giang sơn riêng. Yên ổn một bề.
Trong ký ức của Y vẫn còn in đậm cái thời thơ bé. Hai mẹ con sống lẻ loi ở khu vườn hoang vắng. Tối đến, đom đóm bay từng đàn dập dềnh trêu người như lũ ma chơi. Đêm đêm, tiếng cóc nhái ộp oạp, tiếng giun dế rên rỉ não nề. Nằm nhìn lên mái nhà, ánh mắt trẻ thơ chỉ thấy một màu đen kịt của bồ hóng phủ lên từ nóc nhà đến dui mè, xà ngang, xà dọc.
Khi giỗ, ngày Tết, Y cũng được mẹ mang về đằng nhà của bố. Y nen nét bám theo mẹ. Mẹ Y lặng lẽ lẫn vào đám người ăn kẻ ở trong nhà. Y chưa bào giờ dám bước qua cái ngưỡng cửa của toà nhà trên. Mà chỉ thập thò ở ngoài cửa để nhìn vào. Cả một thế giới xa lạ bày ra trước mắt. Nào là những hoành phi câu đối sơn son thiếp vàng, những sập gụ tủ chè bóng lộn…
Những người chị, người anh cùng bố với Y, coi Y như người dưng nước lã. Họ thì luôn tươi roi rói, sạch sẽ xinh đẹp, quần là áo lượt thơm tho. Cùng cái góc của một người cha sinh ra mà với Y lúc nào cũng lem luốc bẩn thỉu. Ai cũng xa lạ với Y. Ngay cả với người cha đẻ của mình. Y cũng chỉ nen nét nhìn trộm từ đằng xa. Hình như Y chưa được cha bồng bế bao giờ.
Những khi đến đây, Y chỉ thui thủi chơi ở góc sân, ngoài vườn hay bên cạnh bờ ao. Vẩn vơ buồn vui một mình. Còn có mấy con chó là có vẻ thân thiện vẫn bầu bạn với Y. Hình như chúng vẫn coi Y là một cậu chủ nhỏ. Dường như loài chó là chẳng bao giờ biết phân biệt.
Đến năm Y tám tuổi thì một sự kiện lớn đã xảy ra. Tất cả nhà cửa đất cát, ruộng vườn của bố Y bị tịch thu. Nhưng bà Ba đã nhanh tay hơn cả đội cải cách. Bà kịp bán tống bán tháo hết những thứ quý giá trong nhà rồi cùng với năm người con trai cuốn gói vào Nam. Còn bố Y với những người trong gia đình thì không đi.
Mẹ Y không bị quy thành địa chủ. Nhưng nằm trong diện “liên quan với địa chủ”. Với Y lúc đó, Y vẫn nhớ. Tâm trạng Y vui buồn lẫn lộn. Y cũng được theo đội thiếu nhi của làng đi tập hát sòn… sòn… sòn đô sòn…được đi đánh trống cổ động hô vang “Đả đảo địa chủ!” Cũng hoà vào cái không khí hừng hực sục sôi của những con người nghèo khổ, giờ như được trời cho của, được chia nhà cửa, ruộng vườn, được đứng lên làm chủ. Nhưng trong lòng Y cũng có chạnh buồn. Bao nhiêu nhà lớn nhà bé, toà ngang dẫy dọc của bố Y. Người ta chia nhau hết cả. Mẹ con Y không được hưởng một tý gì.
Y cũng đi xem mọi người đấu tố địa chủ. Nhìn bố bị trói, Y như một người được hả cơn hận. Nhưng ở trong lòng Y như có một cái gì đâm vào nhoi nhói. Y nuốt nước bọt, thấy đăng đắng nơi cổ họng.
Sau sửa sai, cuộc sống của làng xóm trở lại bình thường. Mẹ con Y vẫn được ở khu vườn cũ. Rồi Y được đi học. Y là một đứa trẻ sáng dạ, luôn đứng đầu lớp. Y bỏ xa những đứa bạn ở làng, lên huyện học cấp III.
Y tốt nghiệp lớp 10. Nhưng tất cả các trường Đại học đều đóng chặt cửa trước mặt Y.
Y về làng, sống lầm lụi cùng với những uất ức. Y đâm ra căm giận cái “lý lịch” của mình. Căm giận tất cả. Ở trong lòng đang cháy rực lên bao hoài bảo. Vậy mà…
Thời ấy, trai làng náo nức ra trận hết lớp này đến lớp khác. Y nhiều lần làm đơn, đã cắt tay lấy máu để viết đơn, nhưng đều bị từ chối. Y nhận thấy mình như là một người bị bỏ rơi. Đã bao lần Y thèm muốn được đứng vào hàng ngũ của những người ra đi. Khát khao được có những nụ cười, những cái vẫy tay với lời chào tạm biệt của họ ngay giữa sân đình làng. Một nỗi cô đơn, một nỗi buồn hoang vắng bao phủ lên lòng Y.
Mãi rồi, Y cũng được toại nguyện.
Hôm Y lên đường, người mẹ mổ gà làm mâm cơm cúng tổ tiên gia thần, cầu mong cho Y ra đi được chân cứng đá mềm. Bố Y cũng đến ăn cơm. Giờ ông đã là một ông già hiền lành. Lúc chia tay, hai bàn tay khô quắt cứ nắm chặt lấy tay Y. Trong khoé mắt ông ứa ra những giọt nước mắt long lanh “Con ra đi chuyến này, cố gắng để mang lại vinh quang về cho gia đình ta!”
Y được điều về một đơn vị vận tải. Nhưng Y muốn được ra mặt trận, muốn được xông pha nơi lửa đạn, để thoả cái chí nam nhi. Cán bộ đơn vị biết được ý nguyện của Y đã kịp thời động viên “Trong cuộc kháng chiến trường kỳ lớn lao này của dân tộc, làm bất kể một việc gì phục vụ cho kháng chiến đều là vinh quang cả!”.
Y yên tâm công tác. Y có thân hình cao lớn như hộ pháp, cơ bắp cuồn cuộn chắc như gỗ lim. Công việc dù nặng đến đâu Y làm cũng cứ nhẹ như tênh. Núi cao, suối sâu đều cúi đầu khuất phục dưới chân Y. Vai mang nặng nhưng lòng Y nhẹ tênh.
Đơn vị cũng nhiều lần phải đọ súng với bọn biệt kích và thám báo. Trong chiến đấu, Y là một người quả cảm. Y luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ. Được cấp trên khen ngợi, đồng đội tin yêu.
Ở giữa rừng Trường Sơn, những buổi chiều tà, hoàng hôn buông tím những đỉnh núi mờ sương. Những đêm mịt mùng, tiếng vượn hú gọi bầy dai dẳng…

Bản bốn mùa

27/02/2014 lúc 15:44






''C





him kơnia bay tới nghiêng cánh chào Đakrông...'' nhạc sĩ Tố Hải thật giỏi, bởi ai nhìn dòng sông Đakrông mà không muốn thốt lên tiếng hát từ trái tim mình. Dù là những ngày mưa như trút, dòng sông đỏ ngầu phù sa nước dâng tràn, ầm ào cuộn chảy về đất bạn, về phía dòng sông Mêkông, hoặc khi nắng hè đổ lửa, nóng ong ong ngột ngạt tưởng như khô cong cả lá rừng bởi ràn rạt rất gió Lào. 
Đã bốn mùa mưa nắng rồi Trần Ngọc không nhớ bao nhiêu lần mình đã xuyên rung, ngược xuôi trên Đường 9 huyền thoại. Song dù nắng, dù mưa khi chạm mặt với dòng sông Đakrông thì Ngọc và công nhân trong đội lại hát:'' Chim Kơ nia bay tới...'! Nhưng dõi mắt lên bầu trời cao rộng trong xanh giữa núi ngàn mênh mông vẫn không một lần được nhìn thấy cánh chim yêu thương... .
Mỗi lần ngồi nghỉ giải lao, hay ăn vội bữa cơm trưa công trường dưới tán cây rung không đủ che bóng mát, Ngọc có một cảm giác rất lạ, lòng anh cứ thầm hát: '' Mẹ già cuốc đất trồng khoai nuôi con đánh giặc tháng ngày...!' Mảnh đất khắc nghiệt và những bà mẹ thuỷ chung, thương tiếc người anh ruột đã hy sinh và nỗi đau của mẹ. Những năm tháng làm công nhân nhà máy Điện Hà Nội anh khao khát được trở về.
Rồi Ngọc được về với quê hương, nhưng không được nắm bàn tay chai sần, nhăn nheo của mẹ, không được nhìn thấy bàn chân đen đúa cả đời người vùi trong cát nóng, không được thấy dòng sông Bến Hải êm đềm trong xanh giữa hai bờ Hiền Lương với câu hò dịu dặt, thôi thúc nối đôi bờ cho hàng triệu con tim, không được tìm dấu vết xương thịt trong từng nắm đất của o du kích nhỏ với lời nói nhỏ nhẹ thân thương trong gió biển chiều: Anh đi hai năm em đợi?
Trần Ngọc phải cùng đơn vị hành quân xuyên dọc Trường Sơn, vượt qua đầu nguồn dòng sông quê hương vào với chiến trường Đường 9 Nam Lào. Đồi 500 là trận đánh một thắng mười của đời anh. Vậy mà bây giờ anh không xác định được nó nằm ở đâu. Nó bị chìm lấp giữa bạt ngàn núi rừng đang hồi sinh mà anh cùng đơn vị phải dùng rựa phát từng nhánh cây, bụi gai và lau sậy phóng tuyến.
Vậy đó, đường dây điện chỉ được nhìn thẳng, đi thẳng, dù phía trước là đồng lầy, rung rậm, núi cao, vực thẳm hay dòng sông chảy xiết. Dù đá như gang, như thép, từng hố móng phải được đào lên đúng kích thước, chỗ đã đóng cọc đánh dấu , xuống lòng sông sâu, bám từng bậc đá chuyển lên từng xô nước, trộn, xách từng xô xi măng, chui rung đến từng hố để đổ móng cột. Cột điện cao thế phải được dựng lên, kéo, căng đường giây. Và dòng điện phải đi đến đích cuối cùng. Đó là sự vất vả của anh và những người thợ điện.
Dòng điện kéo dài đi muôn nơi, ánh sáng được bừng lên trong xa xăm những làng quê hẻo lánh, là niềm vui rộng mở trong gian lao đẫm mồ hôi và nước mắt.
Lần này đưa lưới điện ngược Trường Sơn lên vùng kinh tế mở Lao Bảo, sang tỉnh Sa Vẳn Nạ Khẹt và vùng lân cận của nước bạn Lào, Trần Ngọc ẩn dấu một nỗi niềm riêng mà ngoài Thảo ra, không ai biết được...

Sau chiến dịch Đường 9-Nam Lào, Ngọc được tặng huân chương chiến công, được đề bạt làm trung đội trưởng. Song, điều buồn nhất là không được tiếp tục chiến đấu trên quê hương Quảng Trị, không được tiến dần xuống đồng bằng để dò tìm tin tức người mẹ thân yêu, để được bước chân trên những đồi cát trắng nóng như rang và ngắm nhìn mênh mông biển xanh ngàn trùng sóng gọi. Anh được điều về mặt trận XYZ, trở thành chiến sĩ tình nguyện quân trên đất bạn. Sau này là Sư đoàn 968 trú quân trên vùng đất huyện Lào Ngam thuộc tỉnh Saravan, Nam Lào.
Nếu ở Quảng Trị rừng núi nhấp nhô, mỗi bước đi phải leo lên, trèo xuống , thì ở đây là bạt ngàn rừng cây khộp, bằng phẳng đến lạ kỳ. Mỗi bước đi lúc đầu cứ như muốn chạy. Khí hậu ở đây thật khắc nghiệt, hai mùa mưa nắng rõ rệt. Sang tháng tư sau tết '' Bun hốt nậm '' là mưa suốt cho đến tháng mười, lúc đầu là những ngày dài sáng mưa chiều nắng. Rồi đến sáng nắng chiều mưa, tiếp theo là đêm nào cũng mưa. Mưa từng cơn trắng rừng, ầm ào, dữ dội. Sự ăn ở, đi lại vô cùng khó khăn, mặt đất lúc nào cũng ngập bùn, lầy lội Sông suối không cầu phà, khiêng chuyển thương binh, gùi gạo là nỗi nhọc nhằn của người lính. Sợ nhất là muỗi , nhiều như trấu vãi, lì lợm bám theo người, khi đi cố vung vẩy hai tay xua đuổi, nhưng muỗi vẫn bám được, cắn tím đỏ cả mu bàn tay. Rồi những cơn sốt tưởng như vắt kiệt sức người, ai cũng gầy guộc, da xanh rớt nhăn nheo và rụng tóc. Cậu Mới quê Gio Linh đang đứng với Ngọc mặt bỗng đỏ phừng phừng run rẩy rồi vật ra chết ngay. Dù chưa có những trận đánh nhưng từng trung đội, tiểu đội vẫn có sự đau buồn chia ly. Những nấm mồ hiu quạnh phủ lá rơi đầy. Từ tháng mười một đến tháng ba năm sau là mùa nắng, mặt đất, đường đất cứng rít  khô nhanh, sông suối cũng dần cạn nước, rau quả không có. Giữa mùa nắng lá khộp to tròn từ xanh chuyển sang màu vàng, sang đỏ rồi buông cây lìa cành. Cái nắng chói chang được thể chụp xuống rừng cây không còn lá, nóng hừng hực, ngột ngạt, người lính tưởng như hết hát, hết cười nổi. Song là mùa ta bung ra, địch co lại. Ngược lại mùa mưa là mùa địch có thế mạnh, chủ động mở các trận tấn công càn quét. Và kỷ niệm sâu sắc, nỗi buồn thẳm sâu đeo đẳng suốt đời Ngọc là cái bản Bốn Nhà.
Vâng! Cánh lính không ai nhớ được tên bản, quen gọi là Bản Bốn Nhà....

Núi và người

01/01/1970 lúc 08:00

Núi chum đầu nhau ngủ
Phủ tấm chăn sương mờ
Suối dưới chân cứ chảy
Trời cứ nắng, cứ mưa
Đời người thì ngắn lắm
Vụt một cái đã già
Núi sao còn trẻ mãi
Cứ bốn mùa cỏ hoa…

Con về chợ tỉnh của mẹ ngày xưa

01/01/1970 lúc 08:00

Ngày xưa chợ Tỉnh ở đây
Mênh mông năm tháng mượn ngày lao đao
Gánh đời muối mặn đổi trao
Nước mắt chảy ngược lặn vào trong tâm
Gói thương tròn lá em cầm
Lá đâu che hết hương thầm mẹ cho
Nhủi lòng nách áo nằm co
Bến sông còn thoáng bóng cò dầm sương
Chợ chiều quang gánh đừng buông…

Đất hành hương

01/01/1970 lúc 08:00

cơ hồ gió cuốn
cơ hồ mây bay
tình yêu quá lớn
quá gần lòng tay
 
tôi về Thành Cổ
gặp đêm mưa sương
câu thơ bạc tóc
huyết lệ chiêu hồn
 
tôi về Thành Cổ
trưa ngày nắng hường
xanh màu áo cỏ
nhói lòng người thương…

Bóng ngày thị xã

01/01/1970 lúc 08:00

Mặt trời bừng thức sau đêm, ngắm nhìn thị xã
Làn nắng mềm mại vắt qua vai ngày.
 
Con đường xanh sắc lá, bóng thả dưới hàng cây
Nhà cao tầng, nghiêng chiều hè toả mát
Sông Thạch Hãn, đá dựng đầu nguồn, phù sa mềm sỏi cát
nâng niu con đò cặp bến phố chở ban mai…

Nỗi nhớ không tên

01/01/1970 lúc 08:00

Diệu kỳ nỗi nhớ không tên
Quá khuya trăng lặn để đêm càng dày
Ngàn sao đã ngủ nồng say
Chao ôi, cái nhớ đong đầy hồn thơ!
Ngủ vùi trong nỗi bơ vơ
Bỗng con chim sáo hót bờ sông xa
Cô liêu là kẻ xa nhà
Sao người lại nỡ bỏ ta một mình?...

01/01/1970 lúc 08:00

Lá xanh nuôi cây trái
Lá phiếu chọn hiền tài…

« 211212213214215 »

Dự thảo
tư tưởng Hồ Chí Minh
Du Lịch Quảng Trị

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

25/01

25° - 27°

Mưa

26/01

24° - 26°

Mưa

27/01

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground