Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 24/01/2021 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Văn nghệ

Trả lại cho thiên

19/01/2021 lúc 21:17

Tiếng chuông đài thành cổ

01/01/1970 lúc 08:00

Thành Cổ nghĩa trang hồng hoa lửa
Khói hương thơm gợi thức khơi vơi
Tiếng đồng vọng chuông dài ngân sâu thẳm
Chín tầng mây hoá bóng những con người...

Phỏng vấn Thạch Quỳ

01/01/1970 lúc 08:00

Là đá sao không đứng lại quỳ?
em đẹp thế dại gì ngô nghê đứng
Trời cao quá đất mới là bè bạn
quỳ trước cỏ xanh cũng một cách nguyện cầu
 
biển đầy thế sao người gầy như gió?
biển không đầy bằng chai
không đầy bằng mắt nhớ
phải gầy hơn mũi tên mới vào được hư vô
lúm tiền má em thăm thẳm đến không ngờ...

Lạy cụ Nguyễn Du

01/01/1970 lúc 08:00

Lạy này xin cụ xá cho
cô Kiều năm ấy mới vừa qua đây
nom chừng son phấn thêm dày
cầm ca một thuở đã phai nhạt rồi
 
lạy này xin cụ đánh roi
trăm năm báo oán mà đời oán dâng
lũ Tú bà, Mã Giám Sinh
nhung nhúc Ưng Khuyển, Sở Khanh... nảy nòi...

Gửi nàng thơ

01/01/1970 lúc 08:00

Ta không nghĩ như ta nghĩ
sự cao quý chẳng còn
bất tử chẳng còn
Nàng thơ ơi!
Ta ngớ ngẩn si mê
ngớ ngẩn tôn thờ
Ta ngộ nhận
mình quá dung tục
không ngờ nàng dung tục trước ta...

Bọ ngựa

01/01/1970 lúc 08:00

Vườn trưa trong đáy nắng
ồn ào câm lặng
khoảnh khắc liêu trai
đôi tình nhân
bọ ngựa
phút giây tuyệt vời
phút giây man rợ
đôi bọ ngựa giao hoan...

Họa mi không trở về

01/01/1970 lúc 08:00


Họa mi không trở về
Con họa mi sổ lồng
Không ngoảnh lại...
Nó đi
Mang theo bài ca bình minh
Niềm vui của tôi bị đánh cắp
Tôi trống rỗng - tái tê

Giãn dị

01/01/1970 lúc 08:00

Có những điều giản dị ở quanh ta,
Mà phải mất hàng trăm năm mới nhìn ra chân lí-
Ví như: Xã hội phải có kẻ giàu, người nghèo;
Đó là lẽ công bằng của Tự Nhiên và Vĩnh Cửu,
Bởi trí thông minh và tài năng của mỗi người
là luôn luôn khác nhau!
Một xã hội văn minh - là những kẻ siêu giàu
Biết thương người kém giàu hơn mình một chút,
Người giàu vừa - biết thương người không đủ tiền ăn học,
Người đủ miếng ăn biết thương kẻ khốn cùng...

Quãng đời xanh

01/01/1970 lúc 08:00

 


Ta lại được về đây tắm đẫm ánh trăng sông
Dòng Thạch Hãn vẫn âm thầm trong tận đáy
Giữa đất trời, ta hồn nhiên vùng vẫy
Quãng đời xanh lại thao thức hiện về…

Cưới vợ cho con

16/01/2014 lúc 23:09






N





gười ta dựng vợ cho con thì vui mừng, còn bà lại thấy lo lo. Bà lo là phải. Đứa con trai của bà cũng gần ba mươi rồi, mấy ngày gần đây nó nằng nặc đòi bà cưới vợ. Trời đất! Không dưng lại đòi mẹ cưới vợ. Mà cưới ai bây giờ? Ai người ta chịu lấy con bà. Con ơi là con! Mẹ thương con, mẹ cũng muốn con có một cuộc sống như người ta nhưng mẹ biết làm cách nào bây giờ. Bà than trời kêu đất như có ai xát từng nắm muối vào bụng. Đau ơi là đau!
Buổi sáng, thấy đứa con mình cứ dậm chân thình thịch, miệng phụng phịu: “Không cưới vợ không đi chăn trâu…”, sau một hồi buồn nẫu ruột bà phải ngon ngọt dỗ dành: “Được rồi, để hôm nay mẹ xuống xóm Thượng xem có cô nào thật xinh, mẹ sẽ hỏi cưới cho con!” nó mới chịu lùa trâu ra đồng. Ngày mai cũng diễn ra như thế nhưng bà lại bảo với nó là xuống xóm Đông, ngày kia xóm Tây… Ruột bà đang đau thắt, bà có định khóc đâu nhưng nước mắt cứ ri rỉ bò ra. ới mấy cô xinh thật xinh ở xóm Thượng, xóm Đông, xóm Tây ơi, có cô nào lấy con trai tui không?!
Thằng con trai của bà đáng thương lắm! Bà sinh được hai đứa, một trai một gái. Như vậy là có nếp có tẻ rồi. Nhưng bà có mừng được lâu đâu. Càng lớn, thằng cả càng ngu ngơ, ngật ngờ. Nói năng thì độp đoạp, câu được câu chăng. Không lẽ cứ phải “con đầu không sâu thì điếc” mới được hay sao? Mà cũng đâu phải vậy, chắc tại do chồng bà hít phải cái chất độc quái gỡ ấy mà thôi. Thành ra con bà giờ mới ngô nghê như thế này đây. Ngày mới sinh, nó cũng bậm bạp lắm, trông rất đáng yêu nữa. Ông và bà lúc nào cũng đòi bế nó. Năm sau ông về phép thì sinh thêm đứa con gái. Rồi ông giao toàn bộ “tài sản” lại cho bà để vào chiến trường. Ông hăm hở ra đi, có biết đâu ở nhà bà cơ cực đến thế nào. Ông đi được vài năm thì có giấy báo tử về nhà; thêm nữa đứa con trai của bà càng lớn càng tỏ ra không bình thường. Bà như đứt từng khúc ruột, đêm nào cũng ôm hai đứa con và khóc. May mà niềm động viên duy nhất của bà là đứa con gái vẫn phát triển bình thường, lại còn tỏ ra thông minh nữa. Không biết có phải bao nhiêu tốt đẹp thằng anh đã nhường hết cho nó hay không?
Thằng anh lớn lên có biết làm việc gì đâu, chỉ biết đi chăn trâu cùng với mấy đứa trẻ con trong xóm. Quần áo mẹ và em gái cũng phải giặt cho. Vậy mà bây giờ lại đòi mẹ cưới vợ. Có phải ai đã xui nó nói như vậy không? Bà đã đau lòng lắm rồi, sao ai nỡ làm bà càng đau hơn. Nhưng thấy con mình cứ nằng nặc một hai đòi cưới vợ bà tin là không phải ai xui khiến nó.
Đã thế thì nỡ lòng nào bà lại để mặc con như vậy. Nhưng bà chẳng dám nói với ai, sợ người ta lại cười vào bà, vào đứa con ngây dại của mình. Bà chỉ biết sang hàng xóm, tỉ tê với người bạn già. Hàng xóm tắt đèn tối lửa có nhau, không giúp nhau những lúc như thế này thì còn lúc nào nữa. Bà vừa nói vừa lấy gấu áo chậm chậm nước mắt:
- Bà ơi! Có ai lại khổ như tui không hở bà? Cái thằng Huy nhà tui ấy, bây giờ nó lại đòi cưới vợ bà ạ!
Niềm xúc động dâng trào, xông lên mũi cay xè, nó chẹn ngay cổ họng khiến bà nói khó khăn hơn:
- Bà xem, nó mà bình thường, khôn khéo như người ta thì chẳng nói làm gì. Đằng này nó lại dở dở, ương ương, thích thì làm không lại đi chơi với mấy đứa trẻ con trong xóm. Bây giờ nó đòi cưới vợ. Ai người ta chịu lấy thằng Huy nhà tui đây hở bà? Thực sự tui đau ruột lắm bà ơi!
Nói đến đây thì bà khóc. Từ hai hốc mắt sâu hoắm của bà còn sót lại mấy giọt nước, giờ thi nhau bò ra. Cái xấu xa của con mình, người mẹ nào nỡ lòng đem kể với người ngoài. Bà Thu là chỗ tin tưởng vậy mà bà vẫn thấy lòng nhói đau. Thương con quá con ơi!
Bà Thu đưa miếng trầu cho bà rồi chậm rãi:
- Thôi bà ạ! Chuyện đến đây rồi thì cũng phải nhắm mắt đưa chân. Nồi nào úp vung nấy. Nhà mình nồi méo thì tìm vung méo.
- Thì cũng biết là vậy. Nhưng thử hỏi trong làng này có cô nào chịu lấy thằng Huy không, bà ơi!
- Trong làng không có thì ngoài làng. Tui có đứa cháu gái giỏi mai mối. Để hôm nào nó về, tui thử bảo nó xem sao.
- Trăm sự nhờ bà! Chứ tui thương con mà không biết làm thế nào, bà ạ!
Bà tróm trém nhai miếng trầu bà Thu đưa cho. Ngày thường bà nhai trầu có duyên lắm, miếng nào miếng nấy đỏ chon chót. Vậy mà chẳng hiểu sao hôm nay nó lại vừa cay vừa nồng đến lạ. Bà ăn mà mồ hôi vã cả ra...

Mai Hiên ngông cuồng

16/01/2014 lúc 23:07






T





hực ra tên chị là Mai Thị Hiên, nhưng cùng phòng làm việc của chị cũng có một chị Hiên nữa, Lê Thị Hiên, nên mọi người gọi các chị là Mai Hiên và Lê Hiên cho tiện. Dần dà, ai cũng gọi theo. Thoạt đầu, mới nghe mọi người gán cho mình cái tên ấy, chị cũng ngường ngượng khi trả lời, cứ như mọi người vừa mới đặt cho chị một cái tên mỹ miều, chứ không phải vẫn cái tên của chị chỉ bớt đi chữ “thị”. Sau chị cũng quen đi. Và rồi hình như, hoặc là, Vân giàu trí tưởng tượng hơn mọi người, cô nhận thấy: cứ gọi chị là Mai Hiên thì tự chị lại trở nên mềm mại, dịu dàng, đầy vẻ phụ nữ. Còn gọi chị là “Hiên” không cụt lủn, thì vẫn là chị lại bỗng trở nên cứng nhắc và rắn đanh lại như một khẩu súng trường. Có lẽ cánh đàn ông phát hiện ra điểm đó sớm hơn cánh phụ nữ. Họ luôn miệng: “Em Mai Hiên ơi! Em Mai Hiên hỡi!” khi có việc gì cần nhờ đến chị. Ngay cả những cậu thanh niên chưa có vợ, có khi còn kém chị đến dăm bảy tuổi, cũng a dua theo. Nghe nói đường tình duyên của chị cũng đầy trắc trở. Chị rất hết lòng với giới mày râu, nhưng tụi đàn ông thường chỉ tòm tem với chị dăm bữa, nửa tháng, hứa hươu hứa vượn một hồi rồi biến mất.
Sau này, khi sự việc đáng tiếc xảy ra. Vân vẫn còn như thấy hiện ra trước mắt mình, rõ mồn một cái căn phòng bé xíu đó. Chị Mai Hiên một thân, một bóng ở gác xép tầng bốn, sát sân thượng. Hôm đó, nhà có khách. Vân đi ngủ nhờ nhà chị Mai Hiên. Hai người nằm úp thìa trên chiếc giường một. Khoảng nửa đêm, cô bỗng tỉnh giấc vì những tiếng thì thầm to nhỏ. Vân mở mắt ra nhìn, và thắt cả tim vì sợ hãi trước cảnh tượng đang diễn ra. Chị Mai Hiên đang ngồi sừng sững nơi cuối giường. Lúc ấy, bóng tối nhạt nhoà trong phòng. Trăng nghiêng chênh chếch qua cái khuôn cửa sổ nhỏ, chiếu xéo một luồng sáng, in lên trần nhà một mảng sáng to bằng hai trang báo. Nổi lên lồng lộng giữa khung cảnh mờ ảo ấy là khuôn mặt hư hư thực thực nhưng không thể nhầm lẫn được với bất cứ một khuôn mặt nào khác bởi một nốt ruồi to bằng hạt đậu xanh ngay giữa sống mũi gần sát trán của Mai Hiên. Chiếc nốt ruồi trên sống mũi cao thanh tú làm cho khuôn mặt chị lúc ánh lên một vẻ lạnh lùng, kiêu kỳ, sắc sảo như có một con mắt thứ ba xuyên thấu tâm can những người đối thoại, lúc lại làm cho khuôn mặt ấy tối sầm lại như một dấu ấn riêng quy định nỗi bất hạnh cho một số phận.
“Sao mà ta cô độc thế,- Mai Hiên bỗng thốt lên- Ta cô độc từ tháng này sang tháng khác. Đơn độc không phải chỉ từng ngày, từng giờ, mà còn đến từng phút giây, từng ý nghĩ. Nỗi cô quạnh cứ ngày một thêm quánh đặc… Ta khát khao đến một xáo đổi, một tiếng động bỗng vang lên trong căn buồng lạnh lẽo trống trải của ta, mỗi khi đi làm về…- Giọng Mai Hiên bỗng trở lên rờn rợn như trong cơn mê sảng-… Lẽ nào tôi không ở trong quy luật của muôn vàn sinh linh cây cỏ? Ta không bằng muông thú, ta chỉ có nửa mình. … Lẽ nào người tôi đợi lại nằm trong số hàng ngàn người con trai bỗng vĩnh viễn rời khỏi cuộc đời trong cuộc chiến tranh ác nghiệt, chẳng còn đến gặp được tôi như duyên kiếp đã định, bỏ mặc tôi lang thang trong cõi sống, đi tìm anh cả cuộc đời? Ôi, cái giấc mơ khủng khiếp! Cứ luôn luôn đơn độc đứng trước hoàng hôn là nỗi hãi hùng không biết đã lặp đi lặp lại bao lần. Mỗi lần choàng dậy được, mình lại sợ hãi đến cùng cực. Thực tế thì từ giấc mơ đến sự thật cũng không xa. Căn buồng này như một cái hộp, ngăn cách mình với mọi người..” Mai Hiên lại lầm rầm, lầm rầm, thì thào, thì thào.
Từ lúc nào, ánh trăng đã lùi qua góc đình màn, đến lưng chừng bức tường, chiếu một luồng sáng như dọi đèn pha vào chị, như một đoạn cận cảnh trong phim, sáng từ ngang vai Mai Hiên lên đến tận đỉnh đầu. Cả khuôn mặt chị trên chiếc cổ thon thả nổi lên trên nền tóc đen như dài ra, trắng nhợt. Trong ánh trăng, dường như… chị không có tuổi, những vết nhăn nơi vầng trán, khoé mép chìm mờ. Chiếc nốt ruồi bí ẩn lại ánh lên kiêu kỳ. Đôi mắt lùi sâu vào sau hàng mi đậm đen hướng nhìn vào mặt trăng với một vẻ buồn bã, mơ mộng, xen một nét gì man dại khó hiểu. Vân cảm thấy rờn rợn nơi gáy. Hình như người phụ nữ trước mặt không còn là chị Mai Hiên quen thuộc hàng ngày, vẫn ăn nói một cách bỗ bã, bốp chát nữa, tuy vẫn mặc bộ đồ trắng chấm hồng, cái bộ đồ cô đã mua hộ chị Mai Hiên trong chuyến đi công tác miền Nam lần trước. Hình như Mai Hiên đang nói hộ chính trái tim của chị ấy hoặc là đang nói với một cái gì đó ngoài tầm nhìn thấy của cô, như đang nói với không trung, với cái vĩnh hằng so với cuộc đời ngắn ngủi của con người trên mặt đất. “Hôm qua…- Giọng Mai Hiên lại đều đều, rành rọt vang lên trong không gian tĩnh lặng-… mình tỉnh dậy giữa lúc mưa to. Lúc đó, chưa bao giờ mình lại cảm thấy một cách rõ rệt đến thế chiều cao của căn buồng so với mặt đất. Mình cố kéo nó xuống, cố níu xuống, cố tự bảo mình rằng nó cách mặt đất chỉ khoảng mười bốn, mười lăm mét thôi. Và bên dưới căn buồng này là cả một toà nhà trong đó có bao nhiêu người vẫn đang sống. Vậy mà không. Giữa tiếng mưa tuôn âm âm, tiếng nước đập rào rào vào mặt kính cửa sổ, mình cứ thấy căn buồng bay lơ lửng giữa trời. Không dừng được, mặt đất cứ trôi tuồn tuộn tuột dưới mình. Y như mình đã bị đẩy ra khỏi trái đất. Lúc đó, mình ao ước có bên cạnh một người đàn ông vững vàng, có đủ ý chí và sức mạnh để che chở cho mình. Để mình có thể an tâm, nép đầu vào ngực người đó mà khóc cho khuây khoả…” Vân không hiểu Mai Hiên đã phát điên lên vì cô độc hay chị ta đã từng là ma quái. Có muốn hét lên vì sợ hãi. Nhưng cả hàm cô cứ cứng lại, không thốt nổi lên lời. Chân tay cô nặng trịch. Cô cảm thấy ngột ngạt quá. Rồi có lẽ cô đã ngất đi…
Sáng hôm sau cô dậy rất muộn, đầu cứ ong ong. Vội đi làm, cô cũng quên đi những chuyện đã xảy ra trong đêm. Sau này, lúc vui chuyện nhớ lại cô kể cho chồng nghe. Chồng cô cười sặc sụa rồi đùa cợt “Chắc em thấy chị ta đẹp quá, sợ anh sẽ mê, nên doạ chị ta là yêu tinh cho anh sợ chứ gì?” Cô phật ý: “Theo em, có lẽ tâm thần chị ấy không được ổn định. Nghe nói hồi trong chiến trường, cả tiểu đội thông tin con gái của chị ấy đều bị bom vùi chung trong một hầm, người ta chỉ bới ra và cứu sống được mỗi chị ấy. Nghĩ cũng tội. Quê quán thì xa. Hình như còn đi quá Kỳ Anh những gần trăm km. Cũng lạ, chẳng thấy họ hàng đến thăm nom bao giờ! Nghe đâu chị ấy mồ côi từ bé, lại là con một”.
Thực ra, Mai Hiên cứ tự gò mình vào nỗi cô đơn hiu quạnh đấy chứ. Riêng trong khu tập thể này, nữ quân nhân xuất ngũ và nữ thanh niên xung phong không kể chị Mai Hiên còn có ba chị nữa. Chị Hoa, bộ đội phục viên, ba mươi sáu tuổi mới lấy một ông thiếu tá cùng quê. Ông đã về hưu. Buồn một nỗi, tuy đã lấy nhau nhưng ông vẫn ở quê làm vườn, còn chị Hoa ở Hà Nội. Cứ thứ bảy hàng tuần, chị Hoa lại đạp xe đạp mười bảy km về thăm ông: “Vất vả thì cứ kể lể thế thôi, chứ trong cái khổ cũng có cái vui- Chị nói vậy- méo mó có hơn không!”. Cái vui của đàn bà kể cũng lạ: chỉ cần có ai đấy để mà chăm sóc, mà chiu chắt, vất vả vì người ta. Chẳng cần gì hơn là cảm thấy mình cũng có ích cho một ai đấy. Thế ra chị cũng hạnh phúc lắm đấy chứ. Vậy mà mọi người cứ nhìn chị bằng con mắt ái ngại, đầy “cảm thông”. Chị Thuý thì khác. Chẳng ai dám hé miệng một điều gì về chị. Năm nay chị ấy đã ba mươi lăm tuổi. Chẳng phải không có điều gì để mà nói, mà là nhỡ ra lời nói gió đưa, chị ấy lại xông thẳng đến nhà mà xỉa xói cho thì khốn. Đến bà vợ ông nhân tình của chị ấy đến đánh ghen mà còn phải kinh hồn bạt vía bỏ chạy nữa là. Chỉ có điều ông ta cũng mất hút luôn theo bà vợ. Đã mấy tháng rồi, chẳng ai thấy tăm hơi ông ta đâu nữa. Chị Xuân lại an phận thủ thường, đi xin cô em gái một đứa cháu về làm con nuôi. Nhưng thằng nhóc Toản thật là mất dạy. Suốt ngày nó hạch sách, đòi hỏi chị đủ điều. Toản là một nỗi kinh hoàng thất đảm cho tất cả các loại súc vật, gia cầm của khu tập thể. Chính Vân đã có lần chứng kiến tận mắt chú mèo con nhị thể của mình đang kêu gào thảm thiết trong chiếc xô cao bằng tôn, với những con cua bê bết bùn đất lủng lẳng trên mình. Còn thằng nhóc chín tuổi có chiếc trán dô vĩ đại dưới mái tóc đỏ quạch, một tay giúi con mèo xuống không cho nó nhảy ra khỏi xô cua, một tay cầm que tre kẹp xóc...

Chiếc bút máy Trường Sơn

16/01/2014 lúc 23:05






R





a khỏi cửa hang, con thuyền nổ máy lướt đi trả du khách về với trời xanh, nắng vàng và gió sông Son lồng lộng. Dẫu vậy, tâm trí mọi người vẫn chưa dứt khỏi nỗi ám ảnh về những hình thù kì thú, những âm vang trầm sâu, những sắc màu lạ lùng của kỳ quan thiên nhiên Phong Nha nổi tiếng thế giới đang lùi dần lại sau lưng. Chúng tôi tiếp tục thả óc tưởng tượng theo bao câu chuyện huyền hoặc, hư ảo vừa được nghe qua trong lúc tham quan; càng nghĩ càng tò mò; cuối cùng đành ngỏ lời mong được bác chủ thuyền vốn dân gốc nơi đây kể cho nghe vài câu chuyện, ví như chuyện xưa có nàng tiên giáng thế, ghé chơi Phong Nha, tình cờ gặp chàng tiều phu, lại mến cảnh non bồng nơi trần gian thế rồi quên luôn đường về thượng giới…
Chủ thuyền, một người đàn ông trạc ngoài năm mươi, mặt phong trần, da cháy nắng vốn quen thờ ơ với chuyện dọc đường của du khách đang lơ đãng nhìn trời, quay lại mỉm cười:
- Phong Nha là nơi cất giữ rất nhiều huyền thoại, mà kho chuyện ấy vẫn đang ngày được làm giàu thêm đó, bởi mảnh đất này nó kỳ bí lắm… Chuyện xưa thì đã có mấy cuốn sách viết rất hay rồi, tìm mà đọc; còn nếu các cô các chú không từ chối, tôi sẽ kể cho nghe một câu chuyện không kém phần hấp dẫn ngay thời đánh Mỹ mà bản thân từng chứng kiến.
Dĩ nhiên chúng tôi đều đồng thanh nhất trí. Bác lái đưa con thuyền chạy tránh chiếc phao tiêu dập dềnh trên sóng một lúc, đoạn trao công việc lại cho cô con gái chừng mười sáu tuổi nãy giờ ngồi thêu thùa ngoài mũi thuyền, lần đến bên đám sinh viên bọn tôi, ngồi xuống sạp ván, chậm rãi kể câu chuyện sau đây.

Cuối năm 1965, đại đội thanh niên xung phong N.65 chúng tôi lúc đó đang phục vụ ở biên giới Việt Lào, thì trên điều về hợp lực cùng nhiều đơn vị bạn và bộ đội, giao thông có cả xe ủi, máy khoan đá ngày đêm làm việc để mở một con đường mới. Đó là đường 20, xuất phát từ Phong Nha, vượt non trăm cây số làm thành một cánh cung khổng lồ nối vào đường 9 trong hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh lịch sử. Thời bấy giờ cánh chúng tôi còn rất trẻ, tất cả đều ở độ tuổi đôi mươi nên Bộ tư lệnh Đoàn 559 đặt tên con đường lấy là “Con đường tuổi hai mươi”. Phải thừa nhận thằng giặc đánh hơi rất thính mọi hoạt động của ta: Chỉ khoảng một tuần, sau khi một vài nơi đất đỏ vừa được lật lên, là máy bay của chúng nhào tới. Từ bấy con đường làm đến đâu, là y như rằng hôm sau ở đó bị ném bom…
Nếu kể hết mọi chiến công và hy sinh, mất mát của hàng vạn con người từng lăn lộn trên đường 20 trong những tháng năm khốc liệt ấy, thì mất cả tháng; đây tôi chỉ kể câu chuyện có lẽ cũng liên quan đến điều các cô, các chú đang để tâm.
Nhiệm vụ của thanh niên xung phong ngày ấy là “chiến đấu, sản xuất và học tập”. Chiến đấu là đi khai mở và bảo vệ những con đường vào mặt trận, sản xuất là tăng gia tự túc, còn học tập là học thêm văn hoá theo chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đoàn. Đại đa số anh em chúng tôi bấy giờ đang học dở cấp I, hoặc cấp II, thậm chí nhiều người mù chữ. Không ai nghĩ vào đây để được học hành, vậy mà chúng tôi đã được “cắp sách tới trường”. Ty Giáo dục tỉnh điều năm mươi giáo viên cấp ii sung vào các đơn vị thanh niên xung phong. Đại đội tôi được đón hai thầy giáo, là thầy Phúc dạy Toán, Lý, Hoá và thầy Hùng dạy Văn, Sử, Địa. Cả hai cũng chỉ nhĩnh hơn chúng tôi một vài tuổi. Đến đơn vị, hai thầy bắt tay ngay vào việc tổ chức các lớp học: cũng sách vở, bảng đen, phấn trắng… nhưng có khi phấn phải dùng những viên đá màu nhặt dưới suối, giấy bút được phát nhưng thiếu là thường, có cậu quanh năm viết bút chì, phòng học được bố trí trong hầm song nhiều lúc học bên chiến hào, dưới tán cây… Có tới mấy lớp, bởi trình độ khác nhau, thế nên các thầy phải dạy liên tục không tuần không thứ.
Phải kiên trì lắm, giàu chữ tâm lắm các thầy mới “chiều” nổi đám “học trò” ấy, bởi cũng ma quỷ không vừa. Trong khi có người đi viện vẫn mang theo bài vở để học, thì có cậu ngồi vào lớp ngứa ngáy không chịu thấu, trốn vào rừng tìm ong, hái măng, thậm chí có cậu bẻ bút vứt đi! Thế là các thầy phải dỗ dành, động viên, tỉ tê hơn thiệt, phải cầm lấy bàn tay chai sạn hướng dẫn vẽ từng con chữ to đùng lên mặt giấy. Nhiều đêm bên ngọn đèn tù mù trong ngách hầm, các thầy vẫn thức cùng chúng tôi đánh vật với từng con toán, với những kiến thức xa lạ lần đầu chúng tôi được biết. Cũng lắm khi thật thơ mộng: bên bờ suối, dưới vừng trăng, thầy trò cùng nhau ca hát, ngâm thơ. Thầy Phúc có giọng ngâm cũng nghe được. Tôi còn nhớ thầy hay ngâm bài thơ của Bác Hồ: Tiếng suối trong như tiếng hát xa… Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa…
Kết quả sau bao năm học thật bất ngờ: nhiều anh, chị được xoá mù, nhiều người tốt nghịêp cấp I, tốt nghiệp cấp II; sau này trưởng thành lên, có người là giáo viên, kĩ sư, bác sỹ… Về bệnh viện trung tâm tỉnh, ta sẽ gặp một người, đó là nữ bác sỹ Minh Tâm vốn là thanh niên xung phong ngày ấy. Tôi nhắc tới Minh Tâm, là muốn nói tới công lao các thầy hồi đó, và không thể bỏ qua một nhân vật quan trọng trong câu chuyện này.
Minh Tâm, một cô gái nhỏ nhắn, trắng trẻo, lúc đi kháng chiến chỉ mới học xong lớp 6. Đó là một cô bé sáng dạ và khéo tay. Lúc các lớp học hình thành, thầy Phúc cử Tâm phụ trách chung, gọi nôm na là lớp trưởng.
- Eo ôi!... Em chẳng dám!
- Từ chối gì nữa! - Chúng tôi vỗ tay reo to, phần thấy thế là phải, phần nữa đã ma quỷ muốn cặp đôi ông thầy đẹp trai với “hoa khôi” của cả cái đám lấm lem mặt mày, đầu tóc, áo quần nhuộm cứng đất rừng của chúng tôi - Làm đi! Chúng ông ủng hộ, sẽ cho nghỉ mỗi tuần một ngày để “lo việc bàn giấy”.
Nghe thế, Minh Tâm la lên:
- Trời đất! Xin thầy cử người khác.
Nói vậy nhưng rồi Minh Tâm vẫn nhận vai lớp trưởng, và cô nàng không hề nghỉ lấy một buổi làm nào; còn các thầy, nhiệm vụ là giảng dạy song thỉnh thoảng vẫn cầm xẻng ra mặt đường, nhất là những lúc tình hình nguy cấp.
Trong hai thầy giáo, công bằng mà nói thì thầy Phúc giỏi hơn, tận tụy hơn, dạy đến đâu hiểu đến đó, chỗ nào khó là giảng đi giảng lại. Thầy là người yêu nghề, trong điều kiện rất khó khăn nhưng luôn tìm cách dạy gọi là có dụng cụ trực quan. Nhiều giờ dạy môn hình học chúng tôi được xem nào hình tam giác, hình thoi, hình chóp nón… làm bằng que thép; nhớ thầy từng quay vành bánh xe đạp chạy đi-na-mô phát điện trong giờ Vật lý… Thầy còn bồi giấy làm thành quả địa cầu tròn như quả bóng có đủ năm châu bốn biển cho thầy Hùng dạy bài Địa lý…

Đêm trắng Trường Sơn

04/11/2013 lúc 10:29

none

Sữa đêm

01/01/1970 lúc 08:00


Nâng niu
Tóc biển ngọt hiền,
Nồng nàn
Con sóng lả mềm...

 

Chiều Thạch Hãn

01/01/1970 lúc 08:00


Chung chiêng nón trắng trời mây
Nghiêng chiều Thạch Hãn rót đầy mắt em
Nõn nường con nước dâng lên
Dòng thơm ngọt lịm đào tiên kép trời
 
Em tìm về cuối miền tôi
Vu vơ để lạc đường ngôi giữa ngày
Đôi bờ sông thở nồm say
Vai thon cứu vớt một ngày gần qua...

 

Dốc Dã Quỳ

01/01/1970 lúc 08:00

Mùa thu ở đây có khuôn mặt dã quỳ
cay cay chuông chiều
rưng rức vàng con phố
con đường ở đây ngoằn ngoèo giấc ngủ
chiếc xương sườn rét cong
vụn vỡ-mùa thu ơi!
cánh dã quỳ là đôi môi mùa thu
khao khát màu xanh vô chung...

Phục sinh tôi

01/01/1970 lúc 08:00

Đêm ngã vào tôi những  khoảng trống thầm thì
những đáy vực lặng im
run vành môi kỷ niệm
ngực trần không vướng víu
bàn tay anh khẽ chạm
bão tố
phục sinh tôi những ẩn ức bóng tối
phục sinh tôi những miền xanh hoan mê...

Cúc biển

01/01/1970 lúc 08:00

Lấm tấm những bông cúc vàng
Ngậm phải sương đêm
Con còng biển hồn nhiên đuổi gió
Vương chân mềm
Trên cát mặt trời lên
Vị mặn trên môi
Nụ hôn trước biển
Phóng khoáng tầm mắt
Vòng tay hào sảng
Phía xa là Cồn Cỏ xanh...

Có một mùa thu

01/01/1970 lúc 08:00


Có một mùa thu đi qua đời tôi
Màu núi biếc trong mắt ai còn thắm
Suối ngàn xanh in bóng trời thơm
Là mùa thu em đến với tôi
Chiếc lá trao tay thay lời hẹn ước
Tôi đem thu về ép trong trang sách

« 209210211212213 »

Dự thảo
tư tưởng Hồ Chí Minh
Du Lịch Quảng Trị

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

25/01

25° - 27°

Mưa

26/01

24° - 26°

Mưa

27/01

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground