Đi tìm tên gọi cho một dòng sông
Khê Giang

Ô Lâu - Thác Ma  một hệ dòng chảy đi qua hai tỉnh Thừa Thiên và Quảng Trị, một con sông được bồi lắng với những trầm tích lịch sử, văn hóa Việt - Chăm. Một dòng chảy thi ca, nơi lưu giữ những áng văn chương, những thiên tình sử… rào rạt chảy từ suối nguồn giai thoại cho đến bãi bờ hiện thực. Thầm lặng cần mẫn, dòng chảy đã điểm trang cho vùng đất eo thắt lưng ong này những nét duyên dáng kiêu sa, một tuyệt phẩm thiên nhiên mà không phải nơi nào cũng có được. Chỉ tiếc rằng do xác định chưa thật rõ ràng về tên gọi và ranh giới, nên trong một khoảng thời gian dài rất nhiều tác phẩm, tài liệu đã mô tả không đúng về tên gọi của con sông này.

Ô Lâu - Thác Ma là một hệ thống sông đặc biệt, nơi có dòng chảy không nằm trong quy luật chung về địa lý. Theo lẽ thường các con sông được tạo thành từ nhiều phụ lưu nhỏ hợp thành dòng chảy lớn, càng về hạ lưu lòng sông càng rộng… sau đó được đổ ra biển bằng một cửa sông hay nhiều chi lưu. Nếu tuân theo quy luật này thì chẳng khó khăn gì trong việc xác định về tính phân cấp, hệ thống dòng chảy hay tên gọi, thế nhưng đây là hệ dòng chảy vô cùng rối rắm.

Hệ thống dòng chảy này có hai nhánh chính đó là Ô Lâu và Ô Sa (Thác Ma). Về khởi thủy nhánh phụ lưu Ô Lâu (hữu ngạn) bắt nguồn từ thượng nguồn đỉnh núi Truồi, chảy lượn quanh co giữa núi rừng Tây Thừa Thiên, chảy xuôi về Phò Trạch, rồi chuyển hướng Tây bắc, qua Phong Mỹ, Phong Thu đến thị trấn Phong Điền cắt qua quốc lộ 1A sau đó cặp theo quốc lộ đến thôn Mỹ Chánh rẽ theo hướng Đông, đến địa phận Mỹ Cang con sông uốn lượn theo hình chữ S với bờ phải là Mỹ Xuyên, Phước Tích; bờ trái là Hà Cát, Hội Kỳ sau đó luồn qua cầu Phước Tích để hợp lưu với nhánh Thác Ma.

Nhánh Ô Sa - Thác Ma (tả ngạn) còn gọi là Tho Lai, Thu Lai hoặc Thu Rơi…, bắt nguồn từ nhiều con thác và suối nguồn từ vùng rừng phía Tây Quảng Trị, giáp với Thừa Thiên - Huế bao gồm: thác Lạnh, thác Chuối, thác Chồn, thác Quả, thác Vụng Tròn và cuối cùng là thác Cá Voi Đái… dòng chảy xuôi về hướng Đông nam, bên bờ Bắc là các thôn Khe Mương, Trầm Sơn, Tân Điền và Cồn Tàu của xã Hải Sơn; phía bờ Nam gồm các thôn Lương Sơn, Tân Lương, Vực Kè, Xuân Lộc, Mỹ Chánh thuộc xã Hải Chánh.

Điều đáng nói là sau khi hợp lưu, tính “thủy chung” của dòng chảy này không được kéo dài, mới “ôm nhau” qua một đoạn ngắn, đến Câu Nhi (Hải Tân) chúng đã vội vã “chia tay”. Liệu hai nhánh rẽ này có phải là hai chi lưu của hệ Ô Lâu - Thác Ma? Về hình thái phân chia nhìn có vẻ đúng, nhưng về quy ước thì không thể vì hai phân nhánh này không đổ thẳng ra biển mà chúng có một hành trình hết sức luẩn quẩn, phức tạp về phía hạ lưu, nhất là nhánh tả (Ô Giang).

Nhánh hữu chảy theo hướng Đông - Bắc chảy qua Mỹ Xuyên, Trạch Phổ, Ưu Điềm, Vĩnh An... ở bờ Nam; Câu Nhi, Văn Quỹ, An Thơ, Phú Kinh… ở bờ Bắc nhập vào sông Vĩnh Định qua cầu Vân Trình hòa vào phá Tam Giang.

Nhánh tả xuôi ra hướng Bắc (qua Lương Điền, Hà Lộc, Trường Sanh, Diên Sanh ở bờ Tây; Câu Nhi, Hà Lỗ, Văn Trị ở bờ Đông) khi đến Cây Da ranh giới của Diên Trường (Hải Thọ), xóm Càng (Hải Hòa) chúng bị thu hẹp dòng chảy đến độ người dân ở đây chỉ gọi là kênh hoặc hói, tại ngã ba này con sông lại chảy về hai hướng: bên trái chảy về hướng Bắc đến Trung Đơn (nhập vào sông Nhùng), sau đó theo sông Vĩnh Định đến Quy Thiện ngược ra Triệu Phong. Nhánh phải lại xuôi về hướng Đông đến ngã ba hói Dét (đoạn này trước đây được gọi là kênh Mai Lĩnh), tại đây chúng gặp sông Vĩnh Định và cũng chia thành hai lối, một lối chảy về hướng Bắc nhập vào Hiền Lương, Thạch Hãn, một nhánh chảy về hướng Nam nhập vào nhánh hữu của hệ Ô Lâu - Thác Ma tại Vân Trình để xuôi theo hướng Đông đổ về phá Tam Giang.

Sự nhầm lẫn trong việc xác định tên và dòng chảy này còn bị tác động rất lớn bởi những người làm công tác vẽ bản đồ. Rất nhiều các bản đồ hành chính, bản đồ về địa lý sông ngòi cấp quốc gia và thế giới hiện tại đã bỏ quên nhánh chi lưu (nhánh hữu) của hệ Ô Lâu - Thác Ma (từ Câu Nhi đến Văn Trình) kể cả Google Map, bản đồ trực tuyến, bản đồ vệ tinh… cho dù đó là phiên bản mới nhất (2017), thậm chí một số bản đồ cũng bỏ quên cả nhánh phụ lưu Thác Ma đoạn từ khởi nguồn đến cầu Mỹ Chánh. Không ai hiểu được tại sao những dòng chảy quan trọng như thế lại bị đánh mất trên hệ thống bản đồ. Điều đáng buồn hơn ngoài việc bỏ quên những dòng chảy, tác giả đồ họa còn ghi bừa lên toàn bộnhánh tả của hệ Ô Lâu - Thác Ma bằng cái tên là sông Ô Lâu (bao gồm sông Ô Giang, sông đào Ngô Đình Diệm và một phần của sông Vĩnh Định).

Nói về khúc sông từ Cây Da đến hói Dét, nguyên thủy đây là kênh Mai Lĩnh (Ranh giới tự nhiên giữa Phước Điền và Hội Điền). Năm 1926 Tri phủ Hải Lăng cho đào sông, mở rộng trên nền con kênh có sẵn, nhằm cải tạo giao thông thủy từ các xã vùng ruộng sâu với trung tâm huyện lỵ, vừa có tác dụng tiêu nước cho cánh đồng trũng Hải Hòa - Hải Thành.

Tương tự đoạn từ ngã ba hói Dét xuôi về Văn Trình không thể là sông Ô Lâu được, vì đây chính là sông Vĩnh Định, một con sông trung gian nối tiếp giữa hai hệ thống sông Thạch Hãn với hệ thống Ô Lâu - Thác Ma. Điều muốn nói thêm, đây cũng là con sông rất khó xác định phụ lưu và chi lưu. Nếu căn cứ vào hướng chảy chung của hệ thống sông ngòi miền Trung con sông này có hướng chảy Tây - Bắc đến Đông - Nam thì hai cửa nối tại Cây Da (chảy ra Câu Nhi) và hói Dét (chảy ra Vân Trình) là chi lưu, nhưng nếu tính theo quy tắc về độ rộng tăng dần của dòng chảy thì hai nhánh này là phụ lưu và chi lưu chính là cửa đổ ra sông Thạch Hãn.

Vậy nhánh hữu của hệ Ô Lâu - Thác Ma (nhánh bị xóa tên trên hầu hết hệ thống bản đồ) là sông gì? Đây là nhánh sông được coi là ranh giới giữa Thừa Thiên và Quảng Trị trừ Câu Nhi và Hòa Viện (Câu Nhi thuộc Quảng Trị nằm ở bờ Bắc nhưng có một phần diện tích đất của làng nằm ở bờ Nam và Hòa Viện thuộc Thừa Thiên nằm ở bờ Nam nhưng lại có một nửa diện tích đất nằm ở bờ Bắc).

Hầu hết các tác phẩm, tài liệu về địa lý, văn học… trong thế kỷ XX đều mặc nhiên gọi khúc sông này là sông Ô Lâu: “Sông Ô Lâu bắt nguồn từ vùng núi Tây Trị Thiên ở độ cao tuyệt đối xấp xỉ 905m, có chiều dài dòng chính 66 km, diện tích lưu vực 900 km2, độ dốc trung bình lưu vực trên 13m/km (ở phạm vi đồi núi trên 19m/km). Thoạt đầu sông chảy theo hướng Tây Nam - Đông Bắc, đến Phò Trạch chuyển hướng Đông Nam - Tây Bắc cho tới Phước Tích (chỗ hội lưu với sông Thác Ma), sau đó chuyển hướng Tây Nam - Đông Bắc cho đến Vân Trình lại chuyển hướng Tây Bắc - Đông Nam và đổ vào phá Tam Giang ở cửa Lác.” (Theo “Địa chí Thừa Thiên Huế” - Phần Tự nhiên - Nhà xuất bản Khoa học xã hội -năm 2005).

Tuy nhiên để có cái nhìn thấu đáo hơn cho câu hỏi này chúng ta chịu khó đi ngược dòng thời gian…

Khi tiếp quản châu Ô của Chiêm Thành, những dòng sông ở đây đã có tên gọi theo tiếng Chăm. Ô Lâu: nhánh chảy từ Truồi về đến Phước Tích; Ô Sa (Thác Ma): nhánh chảy từ Tây Hải Chánh đến Lương Điền (đối diện ngã ba Phước Tích ở bờ Nam); Ô Giang (Rào Cái): đoạn từ ngã ba Câu Nhi đến Cây Da; Ô Khê (sông Bến Đá): khởi nguồn từ phía tây thôn Trường Xuân hợp lưu với Ô Giang tại đoạn chảy qua Văn Trị. Trong Đất Việt trời nam - Thái Văn Kiểm đã mô tả:“Con sông Ô Lâu bắt nguồn từ dãy Trường Sơn, chảy qua vùng Ô Sa, chảy qua Phước Tích đến Lương Điền thì chia làm hai: Một nhánh chảy về Vân Trình ra phá Tam Giang, còn một nhánh chảy về Câu Nhi, Trung Đơn thì mang tên là Ô Giang, có chi lưu là Ô Khê tức khe Ô vậy. Bốn địa danh Ô Lâu, Ô Sa, Ô Giang và Ô Khê là di tích âm thanh hiếm hoi còn lại của châu Ô mà Chiêm Thành đã dâng cho ta năm 1306...”. Mặc dù bài viết xác định tên gọi gần đủ của các nhánh trong hệ Ô Lâu - Thác Ma, tuy nhiên tác giả cũng không mô tả nhánh chảy về Vân Trình có tên gọi là gì?

Rất may có rất nhiều tài liệu cổ đã chứng minh tính không phù hợp khi viết về dòng Ô Lâu trên nhiều tài liệu hiện nay.

Theo Phủ biên tạp lục - Lê Quý Đôn (1774): “... Ngày 7 tháng 12, (quân chúa Nguyễn - TG) vượt Độc Giang, tiến đến các xã Lương Phúc và Diên Sanh. Diệp công Hoàng Ngũ Phúc sai Trần lĩnh hầu Nguyễn Đình Khoan đốc xuất hậu quân và Thạc vũ hầu Hoàng Phùng Cơ làm tiên phong cùng nghênh chiến rồi phá tan, chém và bắt sống vô số, thu hơn 100 ngựa, hơn 30 voi. Thủy binh của chúng đến đánh ở Độc Giang cũng bị đại bại...”.

Con đường Lê Quý Đôn mô tả chính là đường Quan báo (Thiên lý) hay còn gọi là đường Kinh sư, chạy từ Phú Xuân đến trạm Hành cung Mỹ Xuyên qua bến đò Hôm Lạng đến Lương Điền (Lương Phúc), Trường Sanh, Diên Sanh… Truy tìm các tài liệu cổ cùng thời ta thấy đoạn sông này đều gọi là Độc Giang hay sông Đôộc chứ không nghe nhắc đến Ô Lâu.

Trong Hoàng Việt nhất thống Dư địa chí - Lê Quang Định - Do Phan Đăng dịch, trang 109 đã mô tả: “… Sông Lương Phước rộng 88 tầm, bờ phía Bắc giáp với đầu địa giới dinh Quảng Trị, tục gọi là sông Đôộc nước sâu 1 tầm, sông này một nửa thuộc dinh Quảng Đức một nửa thuộc dinh Quảng Trị. Đi ngược lên 13.444 tầm thì đến sở tuần cũ nguồn Ô Lâu, xuôi xuống dưới 30.091 tầm thì chảy ra phá Tam Giang rồi đổ ra cửa Nhuyễn…”.

Đây là tài liệu mô tả rất rạch ròi về tên gọi: Lương Phước (mới) và Độc Giang (cũ), cũng như phân định ranh giới rõ ràng về sông và nguồn: Ô Lâu (nguồn) và Lương Phước (sông). Điều này cho chúng ta thấy sông Ô Lâu đã dừng tên ngay khi đổ vào sông Lương Phước (Độc Giang) tại ngã ba Phước Tích.

Cũng từ tác phẩm trên đoạn mô tả về đường Thiên lý Bắc - Nam: “Đường từ Kinh sư đến lỵ sở Quảng Trị: 26.693 tầm, 1 thước, thành ra 123 dặm rưỡi, đi hết 1 ngày rưỡi… Từ phía nam công đường của lỵ sở, theo đường trạm đến thủ sở Thu Lai đầu địa giới là sông Lương Phước hết 13.000 tầm, 1 thước”. 

Tương tự “Hoàng Việt nhất thống Dư địa chí” đã mô tả, trong Đồng Khánh địa dư chí của Quốc sử quán triều Nguyễn cũng cho biết Ô Lâu chỉ là nguồn chứ không phải là sông:

“... Một dòng sông từ nguồn Ô Lâu chảy xuống qua hai ấp Hoàng Liên, Thượng Nguyên, qua ngã ba xã Văn Quỹ (thuộc đạo Quảng Trị) giáp với sông Hoàng Lai (Ô Giang - TG) đạo Quảng Trị, quanh co chảy xuống Phước Tích, Phú Xuân, qua Bào Ngược đến cửa Lạc, đổ ra phá Tam Giang, dài 59 dặm rưỡi, lại từ cửa Lạc chảy đến Thế Chí Đông, Thế Chí Tây, qua Thành Công đến cửa Quán dài 19 dặm.” (Chương Phủ Thừa Thiên, mục huyện Quảng Điền, trang 1429. Sách do Ngô Đức Thọ - Nguyễn Văn Nguyên - Philippe Papin biên khảo và hiệu đính - Nhà xuất bản Thế Giới, Hà Nội, 2003).

Sách Đại Nam nhất thống chí cũng mô tả rất rõ: “Vùng biển Tam Giang - xưa gọi là “biển cạn” (Hạc Hải), năm Minh Mạng thứ 2 (1821), đổi tên là phá Tam Giang. Từ bờ phía Nam đến bờ phía Bắc dài 35 dặm, từ bờ phía Đông đến bờ phía Tây rộng độ 6 dặm; từ sông Lương Điền (Lương Phước - TG) chảy xuống vũng biển, phía Tây Nam có 3 ngã sông: Cửa Tả Giang, Cửa Trung Giang, Cửa Hữu Giang. Mỗi sông đều chảy 2 - 3 dặm rồi nhập lại, cho nên gọi là vũng biển Tam Giang…”

Chúng ta dễ dàng nhận ra tài liệu từ thế kỷ XVIII trở về trước gọi đoạn sông này là Độc Giang (sông Đôộc) các tài liệu từ thế kỷ XIX trở đi gọi là sông Lương Điền (Lương Phước). Thực tế khi quan sát thực địa bằng đường bộ, đường thủy hay qua không ảnh ta dễ dàng nhận thấy tính hợp lý của những tài liệu cổ trên: Dòng Thác Ma là dòng chảy chính (rộng, thẳng) và nhánh Ô Lâu là nhánh phụ (hẹp và tiếp góc với dòng chính), để dễ hình dung chúng ta tưởng tượng nhánh Ô Lâu là một con đường nối với một đại lộ và theo quy định tên của con đường phải kết thúc ngay lúc giao nhau với con đường lớn, chứ không thể lấy tên mình để đặt hết lên con đường chính được! Theo phân cấp Quốc tế của Horton-Strahler về cấp độ dòng chảy chúng ta thấy nhánh Ô Lâu chỉ là phụ lưu của dòng Thác Ma - Lương Điền chứ khó có thể xếp nhánh này cùng cấp 1 với nhánh Thác Ma (Hai dòng cấp 1 hợp lưu thành dòng cấp 2).

Riêng lý giải tại sao các nhà viết sử xưa gọi tên dòng sông này (đoạn chảy từ Phước Tích đến Vân Trình) là sông Đôộc hay Lương Điền (Lương Phước)? Căn cứ vào cách đặt tên sông ngòi tại nước ta, ngoài việc đặt tên theo sự tích, người khai phá, dựa theo tính chất đặc điểm về dòng chảy…, đa phần người ta thường gọi tên theo những “địa danh đặc biệt” nơi chúng đi qua. Đoạn sông này đã chảy qua địa phận hai ngôi làng nổi tiếng thời bấy giờ: Làng Đôộc - Phước Tích ở bờ Nam nơi sản xuất lu, đôộc (chum, vại) ngoài cung cấp vật dụng đồ gốm cho cả triều đình, còn là nơi trao đổi buôn bán với nhiều nước trong khu vực; Lương Điền (bờ Bắc): vùng đất có độ dài lớn nhất của con sông đi qua (thời điểm đó làng Lương Điền bao gồm một hành lang rộng lớn theo bờ sông: từ Cồn Tàu, Tân Điền, Trầm Sơn… chạy dài đến Câu Nhi), là địa phương có đường quan báo đi qua, có bến đò Hôm Lạng là huyết mạch giao thông thủy, bộ giữa hai tỉnh Thừa Thiên và Quảng Trị.

Để xác định và đặt đúng tên trở lại cho một con sông, một dòng chảy không phải là điều dễ dàng khi mà sự nhầm lẫn kéo dài quá lâu, điều này đã phần nào vùi lấp, mai một những dấu tích và tính xác thực. Tuy nhiên để hệ dòng chảy này cũng như những tác phẩm viết về nó tiếp tục mang lại những giá trị văn hóa đẹp cho quê hương đất nước, trong hiện tại và mai sau, rất mong những nhà viết sử, địa lý sớm có những bước đi tiên phong, có động thái rà soát, hiệu đính trên những trang viết cũng như hệ thống bản đồ Quốc gia để trả các con sông trở về với đúng tên gọi của nó.

K.G

_________________________________________________
Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 278, tháng 11 năm 2017
Ngày cập nhật: 9/1/2018



Bài viết cùng chuyên mục
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 


Giới thiệu | Liên hệ đặt báo | Liên kết Website
Giấy phép số 229/GP-TTĐT do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 3 tháng 12 năm 2008
Tòa soạn: 128 Trần Hưng Đạo - Đông Hà - Tỉnh Quảng Trị • E-mail: tapchicuaviet@gmail.com • Điện thoại: 0233.3852458
Copyright © 2008 http://www.tapchicuaviet.com.vn - Thiết kế: Hồ Thanh Thọ • wWw.htt383.com