Ngày thơ xa xôi
Nguyễn Đặng Mừng

Năm 1972, dân Quảng Trị chạy vào Đà Nẵng, thời đó gọi là tị nạn chiến tranh. Lớp tôi con trai đi lính hầu hết, trong đó có bạn thân của tôi là Duy. Trong thời gian chờ nhập ngũ, chúng tôi thường đi ngang trường Phan Chu Trinh Đà Nẵng để đến trung tâm 1 trình diện hàng tuần. Thấy bạn bè tiếp tục đi học mà buồn chi lạ. Chúng tôi, những đứa “giã từ áo trắng” thường rủ nhau đi uống cà phê, nghe nhạc giết thời gian. Không đứa nào biết đến bia rượu, thuốc lá.

Một lần đi ngược chiều Nường, tôi đánh bạo băng qua đường tặng Nường tập nhạc của Cung Tiến có đề tặng câu: “Chờ hoài nhau trong mơ, nhưng có bao giờ thấy nhau lần nữa”. Tôi linh cảm đây là lần cuối cùng chúng tôi gặp nhau. Duy đứng bên kia đường nhìn sang, mắt buồn vợi.

Cả ba chúng tôi học cùng lớp, tôi và Duy hơi “yêu yêu” Nường. Yêu thời đó là nhìn nhau, chớp mắt và đôi khi thở dài. Cô bé có thiện cảm với cả tôi và Duy. Chúng tôi cùng ở trại tạm cư, nơi doanh trại của lính Mỹ để lại. Gọi là tạm cư nhưng đôi chỗ còn cả máy lạnh. Một lần Duy bị sốt thương hàn, tôi hẹn Nường tới thăm. Tôi đi Honda đến nhà thấy cô ấy đã mặc áo dài và hộp sữa trong tay. Lần đầu chở “người yêu”, hồi hộp lắm. Vậy mà chặng đường năm cây số tới nhà Duy chẳng ai nói câu nào. Nường ngồi cách tôi một khoảng “an toàn” quá mức cần thiết. Chắc ai nhìn thấy là ngộ lắm.

Hôm đó tôi là người độc thoại. Nường và Duy không nói gì. Duy nhìn tôi, không nhìn Nường. Nường lại chăm chú nhìn Duy, không nhìn tôi. Tôi nói về chiến sự, kể về những trận chiến nghe từ đài BBC, những thương vong đang xảy ra ở Thành Cổ Quảng Trị. Khi nhắc đến ngôi trường Nguyễn Hoàng sụp đổ, những làng gần thị xã như Nhan Biều, Long Hưng, Hạnh Hoa thành bình địa hết rồi. Duy ngồi bật dậy, cúi đầu lên chiếc gối trên đùi. Mắt cả ba đứa đỏ hoe. Cha mẹ và hai đứa em của Duy đang ở ngoài đó. Chúng tôi không dám bàn gì thêm, sợ Duy lại buồn thêm lúc đang bệnh.

Tôi và Nường chia tay Duy. Đó là lần cuối cùng Duy gặp Nường, mà theo tôi là người duy nhất Duy yêu, có thể gọi là mối tình đầu. Tôi chở Nường về, cũng chẳng nói gì với nhau. Mùa thu năm đó mưa nhiều. Ngồi trong căn phòng tạm cư, cứ mãi nhìn nhau, nhìn mưa. Nhà Nường không biết đi đâu cả. Hai đứa ngồi đối diện trên chiếc bàn ăn và cũng là bàn tiếp khách. Trời mưa nên tôi có lý do để ngồi với Nường lâu hơn. Tôi cũng yêu Nường chớ bộ.

Nường cứ nhìn chằm vào mắt tôi, mắt Nường ướt nhưng nghiêm trang như cô giáo, thỉnh thoảng lại liếc ra ngoài mưa. Tôi cảm tưởng như cái liếc mắt đó trôi về hướng Hòa Long, nơi có Duy. Hai chân tôi như thừa thãi, nó ngọ nguậy, đụng một chút vào chân Nường. Nường trừng mắt ngầm bảo đừng lộn xộn. Tôi ngoan ngoãn để yên hai bàn chân một cách “nghiêm khắc”, để chứng tỏ những cái đụng chân trước đó là vô tình. Rồi. Êm ái lạ thường, một cảm giác mềm mại và âm ấm trên mu bàn chân phải. Tôi sung sướng lịm người đi. Kiến bò râm ran từ đó lên tới đỉnh đầu. Tôi chăm chú nhìn vào mắt Nường, như uống lấy, nuốt lấy đôi mắt đen láy nhường kia, má hồng nhường kia. Tay tôi run lên thừa thãi xoa xoa mặt bàn. Xoa dần. Xoa dần như đoàn quân di hành trong đêm, lặng yên, dè dặt, đầy bất trắc phía trước. Năm ngón tay phải tiến sát mục tiêu là năm ngón thon dài màu hồng phấn. Tôi nhẹ nhàng áp lên đó.

Nường đứng bật dậy, dang hết tay tát thẳng vào má tôi. Cái tát không mạnh lắm nhờ tay Nường mềm quá, đủ để nóng bừng má trái tôi. Tôi chờ thêm một cái nữa như lời Chúa, hãy tát thêm cái nữa vào má phải của ta. Là nói dốc vậy, thật tình lúc đó tôi choáng váng, sợ sệt đến chảy nước mắt. Tôi rút chân nhìn xuống gầm bàn, đứng dậy. Thủ phạm là con mèo vàng cào vào chân kêu meo meo. Tôi bực mình nói hậm hực: “Té ra là mày, vậy mà ta tưởng...”. Mặt Nường ửng hồng, lí nhí xin lỗi. Rồi khóc.

Tôi ra về, không mặc áo mưa, rú ga hết cỡ. Mưa tạt rát mặt, tôi cứ chạy dọc sông Hàn, không nghĩ mình sẽ về đâu.

Ba ngày sau, Duy gửi tôi cuốn sách, nhờ chuyển cho Nường, ấy là cuốn Ác quỷ trên thiên đàng của Henry Miller. Lật trang đầu có bốn câu thơ, chữ đẹp mà như run rẩy:

Từ độ nắng vàng trưa hôm ấy

Mở lòng cho trắng một đường mơ

Từ hẹn hoa bay ngoài ngõ biếc

Hương nào ngai ngái suốt đêm xưa.

Tôi nhớ ra rồi, cái trưa hôm ấy rồi, cái đêm xưa ấy rồi.

Cái đêm hôm ấy.

Tôi và Duy hẹn nhau đi chơi nhân đêm lễ Phật đản, mùa hè năm 1970. Phật tử cắm trại bên bờ sông Thạch Hãn, bên kia bờ là Nhan Biều. Nơi cắm trại là bãi cát trước mặt chùa Tỉnh Hội. Mỗi sáng anh em Duy thường qua đò ngang lên bến ấy. Lễ Phật đản là ngày hội hiếm có đối với bọn tôi. Dù thời đó tiếng súng giao tranh dưới các làng quê, ngồi trên thị xã nghe rõ mồn một. Đêm Phật đản những năm đó tôi không nhớ là có hiệp ước đình chiến hay không mà dân chúng vẫn đi lễ và dự trại, không phải giới nghiêm như thường lệ. Tụi tôi hẹn nhau từ sáng. Tôi đứng đợi Duy ở bến đò. Mùa hè nước cạn, bãi cát chạy dài ven sông. Trại đủ màu, trên mỗi trại có cờ Phật giáo. Oanh vũ mặc váy xanh áo lam, thiếu nữ áo dài lam. Các nam huynh trưởng mặc quần sọt, đội mũ chóp tứ ân. Họ hát hò, chuẩn bị lửa trại.

Đò Duy ghé bến, hai đứa lang thang dọc bờ sông như trông chờ ai đó. Cuối bãi cát là xóm Hà, xóm của Nường. Duy và tôi cứ nhắm hướng đó mà bước. Có tiếng gọi của chị Nường: “Ê, hai chàng thi sĩ đi mô mà không chộ ai hết rứa, lại đây”. Chị em Nường cũng đi chơi, xem cắm trại. Gió làm tóc họ bay che cả mặt. Dưới trăng, Nường dễ nhận ra với mái tóc dài nhất.

Tôi cố đi gần Nường, Duy lại cứ tách ra đi một mình. Mải nói chuyện, nhìn lại Duy đi đâu mất, tôi chạy quanh tìm, thấy Duy đứng bên mé nước nhìn lung ra sông, bảo: “Mày cứ đi với Nường đi, tau thích đứng một mình”. Chị em Nường đứng đợi, vậy là tôi quay lại cùng đi với họ, lòng cứ day dứt. Chia tay chị em Nường, tôi quay lại, Duy vẫn đứng như thế, nhìn sông.

Hai đứa đi trở lại bến đò. Không ai nói chi. Duy lặng lẽ xuống đò ngang, con đò quẩy mái chèo trôi đi. Trăng rằm sóng sánh, nhấp nhóa. Tôi đứng lặng nhìn bạn, thương cảm và ân hận.

Tôi quay lại tìm Nường, người đông quá không thấy chị em Nường đâu. Gió nồm thổi miên man, áo dài một rừng bay bay chới với. Con đò đã đến bên kia sông, rặng tre làng Nhan Biều đen thẫm, ở đó chắc Duy đang leo mười mấy bậc lên bờ. Duy có buồn không, có khóc không, ai mà biết được. Từ bến đò về nhà Duy là đường xóm âm u dưới tre. Có khi Duy ngâm thơ cũng nên. Còn Nường, có thể theo chị về hướng xóm Hà rồi. Chắc Nường vẫn vô tư nghĩ đến hai người bạn. Con gái có vô tư, có yêu sớm như con trai? Nường nhỏ hơn tụi mình hai tuổi mà.

Tôi trở lại lấy xe, muốn chạy lên cầu ga qua nhà Duy bằng đường bộ. Nhưng sợ. Thời đó ban đêm ai mà dám chạy qua Nhan Biều. Tôi quẹo trái về nhà, nhà tôi ở trên quốc lộ một, ngược hướng Nhan Biều.

Hôm sau không hẹn cả ba cùng đến lớp sớm. Tôi đến gần Nường hỏi: “Sao hồi hôm về luôn à”. Nường gật đầu, ý nhị liếc mắt về phía Duy. Chàng đang đứng nhìn ra sân trường, kiểu như đang chờ ai đó. Tôi theo ra đứng với Duy. Nhiều nữ sinh đẹp đi ngang lớp tôi, có mấy cô hoa khôi của trường nữa. Tụi tôi hay đứng ngắm các cô, thời đó gọi là “nghễ”. Tôi nhìn vào lớp thấy Nường đang úp mặt xuống bàn, trên đôi tay khoanh lại.

Thầy Xưng dạy tiếng Anh, còn trẻ mà mặt lúc nào cũng khó đăm đăm. Thầy đang ưu thời mẫn thế. Lớp tôi gần một sân bay trực thăng dã chiến. Mỗi lần máy bay hạ cánh là hai mươi phút thầy trò ngồi yên nghe tiếng động ầm ào, có lúc bụi khói còn bay cả vào lớp học. Sân bay mấy tuần nay ngày nào cũng thế, có khi cả buổi sáng chẳng học hành gì. Mỗi lần dứt tiếng động là thầy Xưng lại một phen chửi Mỹ, chửi chính quyền miền Nam. Học trò tụi tôi, dù nhỏ đã có chính kiến. Một số thích kiểu phản chiến, là mốt thời đó bằng những bản nhạc do một nữ sinh tập như bài Tuổi trẻ Việt Nam. Tôi nhớ một đoạn như sau:

Tuổi trẻ Việt Nam là hầm hố chông gai

Mắt đăm đăm nhìn những xóm thôn lửa vùi

Sáng mai nào nhìn đoàn quân qua đầu núi

Nghe trong lòng một nỗi ngậm ngùi.

Trận Hạ Lào được gọi là cuộc hành quân Lam Sơn 719. Từng đoàn xe nhà binh nối đuôi nhau chạy về hướng Đông Hà. Trên trời máy bay đủ loại gầm rú lao về hướng tây. Nhà tôi ở trên Quốc lộ một, đêm ngày chứng kiến không biết bao nhiêu là xe với nhiều sắc lính. Những khuôn mặt sạm nắng buồn bã nhìn xuống đồng bào đứng hai bên đường đưa nón vẫy. Có khi gặp cả người thân chạy lúp xúp theo gửi gói quà, hay vẫy tay đứng khóc. Họ đang cùng đi đến chỗ chết, một nơi xa lạ không tên nào đó về hướng đường 9 Nam Lào.

Rồi mùa hè 1972, mùa đỏ lửa. Chúng tôi trôi dạt người một phương. Tạm cư, đi học đi lính. Chiến tranh đóng sập cửa về ngày thơ.

Duy mất ở miền Tây. Tôi nhận được tin từ một thư gửi Duy bị trả lại, ngoài bì có chữ “đương sự đã tử trận”. Cao nguyên mùa đông lạnh buốt, gió từng trận lật phật lá thư trong tay. Vậy là thêm một bạn tóc xanh ra đi vĩnh viễn. Nhớ câu thơ của Duy:

 Ngày mai qua cuộc phong trần

Tàn phai giọng bướm một lần sang sông.

Đêm đó tôi mơ thấy nhiều cánh bướm bay về, có cả giọng kêu than của loài bướm biết khóc, nhấp nhóa loang loáng mặt sông Thạch Hãn, nơi giấc mơ cả hai đứa chưa với được bao giờ. Bật dậy tôi viết:

Hoa nửa mùa xuân rụng hết rồi

Mời em về giữa cõi trần ai

Nửa đêm đom đóm sầu đôi cánh

Rớt giữa rừng mơ tiếng thở dài.

Cánh bướm ma quái thường về thăm tôi, không nên thơ như giấc mơ tuổi nhỏ.

Những năm gần đây điều kiện sống có khá hơn, lớp chúng tôi thường tổ chức họp mặt. Ngạc nhiên là con trai đứa nào cũng nhớ từng chi tiết về kỷ niệm, con gái thì hay quên. Tôi đùa, “các mệ lẫn rồi”. Qua đây tôi cũng xin các bạn nữ thông cảm về cái tên Nường tưởng tượng của tôi. Chúng tôi thường gọi một bạn gái nào đó có cảm tình đặc biệt là Nàng, gọi trại ra là Nường, Nường Thơ, chỉ để làm thơ thôi. Và tất cả các bạn có quyền tưởng mình là một Nường nào đó, trong thơ, trong tuổi trẻ chúng mình.

N.Đ.M

_________________________________________________
Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 288, tháng 9 năm 2018
Ngày cập nhật: 7/11/2018



Bài viết cùng chuyên mục
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 


Giới thiệu | Liên hệ đặt báo | Liên kết Website
Giấy phép số 229/GP-TTĐT do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 3 tháng 12 năm 2008
Tòa soạn: 128 Trần Hưng Đạo - Đông Hà - Tỉnh Quảng Trị • E-mail: tapchicuaviet@gmail.com • Điện thoại: 0233.3852458
Copyright © 2008 http://www.tapchicuaviet.com.vn - Thiết kế: Hồ Thanh Thọ • wWw.htt383.com