Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 04/12/2020 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Văn hóa thời đại

Bây chừ ta tự nói về ta

17/04/2014 lúc 15:11






V





ào những ngày này anh chị em văn nghệ Quảng Trị rậm rịt chuẩn bị cho một cuộc sinh hoạt nghề nghiệp lớn của mình, Đại hội lần thứ tư của Hội, thì Văn nghệ sĩ cả nước cũng đang trăn trở và náo nøc trong một sinh hoạt chính trị nghề nghiệp còn lớn hơn là thảo luận những vấn đề trọng đại của Văn học Nghệ thuật nước nhà để tham gia vào việc hình thành một Nghị quyết mới của Bộ Chính trị về Văn học Nghệ thuật Việt Nam trong thời kì hội nhập. Cá nhân tôi đã tham gia đến ba cuộc (một với Hội NghÖ sÜ s©n khÊu Việt Nam, hai là Hội nghị các nhà văn khu vực Bắc Miền Trung, ba là Hội nghị nửa nhiệm kì của Ban chÊp hµnh và các Hội đồng chuyên môn của Hội Nhà văn Việt Nam). Thông qua bộ phận biên tập đề án, Ban bí thư khuyến khích Văn nghệ sĩ hãy nói thẳng, nói thật lòng, nói hết sự thật về thực trạng Văn học Nghệ thuật nước nhà cả về thành quả lẫn đội ngũ, đặng tìm ra những giải pháp hữu hiệu nhất để đưa nền Văn học Nghệ thuật Việt Nam tiến lên một tầm cao mới, tương xứng với lịch sử và tầm vóc Việt Nam trong thế kỉ mới. Được Đảng khuyến khích chúng tôi đã nói rÊt nhiều. Tuy nhiên đa phần lại chỉ nói về sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nươc cùng với các chế độ chính sách đối với lao động sáng tạo. Những điều đó đương nhiên là cần kíp rồi, song suy cho cùng nền văn học nghệ thuật nước nhà này thịnh hay suy cốt lõi là do đội ngũ chúng ta chứ đâu phải do Đảng. Bởi vậy, sau mấy lần dõng dạc tham luận trên hội nghị , đêm nay ngồi chong đèn nhớ lại, tôi tự thấy phải có lời tự tham gia với chính đội ngũ chúng mình và với tự bản thân mình...

Những câu thơ trải nghiệm có hồn

06/02/2014 lúc 22:53






T





ôi đã được đọc thơ Đoàn Mạnh Phương từ mấy tập trước của anh, như Mắt đêm; Câu thơ mặt người; Thơ 4 người... Nhưng tới giờ, khi đọc Ngày rất dài thì cảm nhận của tôi về thơ Đoàn Mạnh Phương đã có phần khác trước.
Không phải là khác về giọng thơ, về sự mới lạ luôn có, hay về những nỗi niềm chất chứa trong thơ mà chính là sự trải nghiệm đến bất ngờ cùng những suy tư dày dạn hơn nhiều và sự thể hiện cũng "Trực diện" hơn...
Gần tám năm rồi - Một khoảng thời gian khá dài, giờ Đoàn Mạnh Phương mới cho ra mắt bạn đọc tập thơ mới. Quả thật, với một nhà thơ có danh, đó là một "khoảng trống" không dễ gì "cảm thông" được trong lòng bạn đọc yêu thơ. Chờ đợi, rồi người ta đâm ra hoài nghi: Có lẽ trong con người Đoàn Mạnh Phương đã mất đi một nhà thơ đích thực rồi chăng? Không phải là không có lý. Bởi trong nhiều năm qua, nhà thơ Đoàn Mạnh Phương còn là một nhà quản lý - Giám đốc một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực Văn hóa - truyền thông - xuất bản với bù đầu công việc. Còn đâu thời gian, còn đâu tâm hồn thư thái, thanh thản để làm thơ nữa?
Vậy mà anh vẫn có thơ, lại là một tập thơ được đánh giá cao, một tập thơ có hồn - Cái hồn của một con người đầy tình cảm và trách nhiệm trước cuộc sống; Cái hồn của một nhà thơ đích thực. Đoàn Mạnh Phương đã mang đến cho bạn đọc và bạn bè anh sự bất ngờ đáng trân trọng!...

Sự trinh bạch của ngọn nến

17/01/2014 lúc 23:52






T





ôi tin những dòng sông chảy ngược/ Đó là những dòng sông tự chảy, câu thơ thể hiện sự chiêm nghiệm nhân sinh của bản thân được Võ Văn Luyến chọn làm lời đề từ cho tập thơ Sự trinh bạch của ngọn nến vừa được Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành. Là bài thơ mở đầu, Sự trinh bạch của ngọn nến có tư duy triết học của người làm thơ giàu vốn sống:Anh chú thích cuộc đời anh vào chỗ cuối cùng của trang giấy còn lại/ bằng những con chữ trinh bạch/ sự trinh bạch của ngọn nến tự hủy không đồng lõa bóng tối. Anh từng bật khóc/ và từng nhìn người đời khóc nhiều về nỗi bất hạnh/ nhưng vẫn yêu hơn những giọt lệ nến/ bởi chúng không như sương khói chóng tàn... Anh chú thích cuộc đời anh bằng nỗi đam mê/ không hề che giấu/ không biết hóa trang/ không mặc cả thiệt hơn/ Thế mà chả ăn thua gì/ trước sự trinh bạch của ngọn nến. Với những bài thơ tiếp theo, những khơi gợi đa dạng trong cảm giác hướng người đọc đến trước những trải nghiệm là cội nguồn cảm hứng sáng tác của Võ Văn Luyến...

Xuất xứ và những dị bản xung quanh bài thơ "Lời người bên sông"

17/01/2014 lúc 23:49






B





ài thơ được “viết” vào chiều 27/7/1987. Xin được đóng ngoặc kép chữ “viết” vỡ cỏi cỏch làm thơ, hoặc làm vế đối bất chợt trong đầu và nhớ nhập tõm rồi sau này tiện lỳc nào thỡ viết thành chữ vào nhật ký, hoặc in sỏch bỏo... Theo cách viết này, nếu in tôi có thể in vài tập đầy đặn, và  bài thơ Lời người bên sôngcũng cùng một cách viết như vậy.
Về nguyên bản bài thơ đầu tiên được thốt ra như thế này:
               Đũ lờn Thạch Hón xin chốo nhẹ
               Đáy sông cũn đó bạn tôi nằm.
               Tan chợ chiều xuôi đũ cú vội
               Xin, xin đừng khuấy đục dũng trong.
Viết vậy bởi hôm đó, sau lễ hương hoa cho đồng bào, đồng đội. Tôi, một mỡnh ngồi lặng lẽ bờn bờ Thạch Hón, chợt thấy từng chiếc thuyền của cụ bỏc ngược dũng lờn chợ Quảng Trị. Nhỡn những mỏi chốo hối hả khuấy tung bọt nước, chạnh lũng khi nghĩ đến bạn bè, đồng đội vẫn cũn gửi thõn xỏc vào đáy sông mà xót xa. Cứ vậy  từng lời như từ trong ngực tụi mà thốt ra thành  cõu, thành chữ như vậy thành bài thơ - đúng hơn là lời nhắn gửi, thỉnh cầu của một người lính với mọi người trong cả dũng đời xuôi ngược...

Những sự lạ trong làng thơ Việt

17/01/2014 lúc 23:49

Ngồi buồn đốt một đống rơm
khói lên nghi ngút chẳng thơm chút nào
khói lên đến tận Thiên Tào
Ngọc Hoàng phán hỏi: Thằng nào đốt  rơm?...
                                         (thơ dân gian)
 
Rượu và hoa
Tôi vẫn hằng tin rằng thơ là rượu. Có người nghiện rượu thì cũng có người nghiện thơ. Thấy thơ là say như điếu đổ, như người dân quê tôi say hát giã gạo: ”Đêm khuya nghe tiếng chày khắc cối. Bạt gia đình ra đi…”. Nhiều người đẹp vì mê thơ, say thơ mà mê luôn người làm thơ, dù nhà thơ đều nghèo kiết xác. Rượu thì từ cổ xưa đến giờ vẫn rượu ấy, men ấy. Say cho đến tận cõi chân tâm! Rượu Ta, rượu Tây vẫn là rượu ấy, khó nhầm! Tôi cũng hằng tin thơ là hoa, hương hoa. Như cây cỏ, mỗi hồn người khai nở một hương sắc riêng chẳng giống nhau bao giờ - Nhưng tất cả vẫn là hoa ấy! Đã rượu thì có rượu nặng rượu nhẹ, có rượu gạo, rượu  vang, rượu wichky, rum... Đã hoa tất có hoa dại, hoa lai giống, hoa  ghép cành nở  muôn hồng nghìn tía. Lai giống ghép cành tạo ra hoa ấy, những bông hoa lớn hơn, hương sắc quyến rũ hơn. Nhưng vẫn là hoa ấy, cái đẹp vĩnh cửu ấy!...

Văn hóa cá nhân - Nhận biết để ứng xử

17/04/2014 lúc 15:12






V





ăn hoá cá nhân là tổng hoà những phương thức ứng xử của con người đối với thiên nhiên, đối với xã hội, đối với chính mình. Văn hoá cá nhân còn là một năng lực sáng tạo, khả năng tìm kiếm những phương kế để sống, hoạt động và đóng góp cho cộng đồng, thúc đẩy xã hội phát triển. Thuật ngữ văn hoá cá nhân mới xuất hiện không lâu, nhưng những khái niệm tương ứng đã hiện diện trong lịch sử văn minh nhiều nước.
Ở phương Tây từ khi chủ nghĩa tư bản ra đời đến nay, văn hoá cá nhân thường được coi là giá trị cao nhất trong mọi lĩnh vực đời sống. Ở đây người ta coi cá nhân không phải là một bản thể trừu tượng, thụ động, mà là con người cụ thể, sinh động, một thế giới tinh thần phong phú và đầy bí ẩn(1), là một nhân vị. Tính nhân vị ở cá nhân không đối lập với tính xã hội, trái lại bổ sung, đa dạng hoá “tri quyển xã hội”. Nếu sinh quyển (biosphère) là môi trường cuộc sống tự nhiên thì tri quyển (Noosphère) là môi trường văn hoá do con người sáng tạo nên, và nói như M.Gorki đó là “thiên nhiên thứ hai”...

Đọc "Bản Thảo 1", nghĩ về một giọng điệu thơ riêng

17/01/2014 lúc 23:05






T





ập thơ cỉa nhà văn Từ Nguyên Tĩnh bào gồm sáu mươi bảy bài thơ hay được xuất bản vào tháng 7/2007. Nếu tính thời gian làm thơ từ bài thơ đầu tay xuất hiện năm 1967 cho đến nay tác giả đã có ba mươi lăm năm gắn bó với thơ mặc dù trước khi xuất hiện bản tập thơ này tác giả đã cho ra mắt bạn đọc hàng mười tập truyện ngắn và sáu tiểu thuyết. Vậy, đây là thơ của một nhà văn làm thơ và tập thơ này mới là Bản thảo 1 thì chắc chắn tác giãe còn xuất hiện tiếp bản thảo hai... ba nữa.
Cũng là cách dũng cảm, cách nghĩ về cuộc sống ở khoảng cách thời gian xa cách nhau nên cách cảm nghĩ cũng khác xa nhau. Đây là hình ảnh đàn gà ở một trận địa pháo ngày chiến tranh tàn phá của giặc Mỹ ngay sau khi trận đánh vừa kết thúc: Lũ gà gộ nhau ra ngay/Gà giò tìm hoa mào gà để chọi/Gà chép tìm mẹ để nói/Gà mẹ dẫn đàn gà con mới nở đi ra/Gà trống cất cao tiếng gáy/Thắng ...l..ợi..r ..ồ..i.. (Đàn gà khẩu đội) và đây là hình ảnh con trâu kéo cày tron tâm tưởng của tác giả: Mày đi/Ngạo nghễ đường cày/Cày đi/Cày đi/Như là số kiếp/Mày là ai trong cõi luân hồi?/Ôi! Con trâu ta hỏi?/Sao mày lắc đầu/Mày là hiền triết của loài trâu. (Nói chuyện với con trâu). Cách cảm nghĩ mang màu sắc triết lý dần thay thế cách miêu tả xúc cảm bằng hình ảnh...

A.phađêep- Tư chất "điên cuồng" của người dũng cảm

17/01/2014 lúc 23:04






T





háng hai năm 1956, tại Matxcơva, đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô lần thứ XX khai mạc. Những tư tưởng của đại hội như những luồng gió mới, cho phép hy vọng nhìn về tương lai. A.phađêep được bầu làm đại biểu đại hội. Nhưng khi đại hội làm việc, thì nhà văn bị ốm kéo dài. Hầu như suốt cả mùa đông ông phải nằm ở bệnh viện. Tuy vậy, ông vẫn chăm chú theo dõi đại hội. Bấy giờ, tâm trạng ông như bị phân đôi: Vừa sung sướng, vừa đau buồn. Sung sướng vì thấy được sự lớn mạnh của Đảng, nhưng không ngờ rằng, con đường mà ông và hàng nghìn người cộng sản, hàng triệu nhân dân đã đi lại gập ghềnh chông gai đến vậy! Những ngày đêm ấy ông ngủ không yên. Ông bị lay động bởi những dòng thơ chát đắng của N.Chikhônôp: “Điều giả dối  đã cùng ăn và uống với chúng ta”.
Người ta chuyển cho Phađêep bức thư của nữ thi sỹ A.Akhơmatôva với yêu cầu “Xem xét lại gấp hồ sơ của con trai bà giúp bà chóng phục hồi lại danh dự. Bà cầu viện tới Phađêep với tư cách là một nhà văn và là con người trung hậu. Ngay từ năm 1953, Phađêep đã có nhận xét tốt về bản thảo của A.Akhơmatôva để đưa đến in tại nhà xuất bản “Nhà văn Xô Viết”. Sau nghị quyết của Trung ương Đảng ngày 4/8/1946, cũng như nhiều nhà văn đương thời khác, Phađêep nói đến tầm quan trọng của văn kiện này nhằm chống “sự suy đồi” và “tình trạng vụ lợi”...

Nguyễn Tuân, một giá trị trường tồn

17/04/2014 lúc 15:18






S





au nữa thế kỹ hoạt động, Hội nhà văn Việt Nam giờ đã thành một gia đình văn học lớn, nay là tam đại đồng đường, không còn xa sẽ là tứ đại đồng đường.
Các cây bút trẻ hai mươi tuổi đang mang tới những trang viết đầy sức thanh xuân, ngổn ngang khát vọng, ngổn ngang những yêu thương trăn trở và bút lực mới mạnh mẽ làm sao, mạnh mẽ tới độ khiến người đọc đôi khi chóng mặt. Trong lúc ấy những người già rủ nhau lần lượt ra đi, đi đến mức làm vãn cả một đoàn thể. Chúng ta vừa mới làm tang cho nhà văn Kim Lân, hôm nay lại gặp nhau để tưởng niệm nhà văn Nguyễn Tuân nhân ngày giỗ lần thứ hai mươi của ông. Nhanh thế, thời gian đi bằng cách nào không rõ, chỉ thấy mới đây mà đã hai mươi năm, hai mươi năm ông bỏ bạn bè con cháu mà đi, để ngôi nhà này thành trống vắng, để chúng tôi đám học trò của ông côi cút, Hội nhà văn mất ông là mất một vị trưởng lão kì tài, không ai có thể thay thế được...

Hơn 30 năm sau gặp tác giả bài thơ "Đêm Quảng Trị"

13/05/2014 lúc 09:35






N






ét người, tầm thước, vầng trán rộng, da hồng hào, tính tình cởi mở vui nhộn, giọng nói còn mang đậm xứ Hà Tĩnh, quê “choa”... đó là nhà thơ Phạm Ngọc Cảnh, bút danh ở chiến trường là Vũ Ngàn Chi tác gải bài thơ “Đêm Quảng Trị”.
Vào những năm 1967-1968, chiến trường Quảng Trị thuộc mặt trận B5 thật vô cùng khốc liệt. Bạt ngàn rừng già của dải Trường Sơn chạy về phía nam là vậy mà không ít cánh rừng chỉ trơ lại “ngàn tay than cháy, vạch màu trời xanh” (Tố Hữu) vì B52 rải thảm, pháo chụp, pháo bầy và những trận mưa của chất độc hóa học Mỹ nhằm hủy diệt môi trường sống của rừng, Việt cộng hết nơi ẩn nấp để cho chúng dễ bề tiêu diệt.
Là chiến trường tiếp giáp với miền Bắc Xã hội chủ nghĩa, hậu phương lớn chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến lớn ở miền Nam anh hùng. Một cân gạo, phong lương khô, viên đạn... tới tay bộ đội là tính bằng...máu. Máu đổ từ trên luống cày, lúc thu hoạch, máu của những thanh niên xung phong hỏa tuyến và máu cán bộ, chiến sỹ chuyển ra chiến trường. Còn sách báo, phim ảnh và những món ăn tinh thần khác không thể thiếu mà không phải lúc nào cũng đáp ứng dù tỉ lệ rất thấp. Mỗi cuốn sách, tờ báo và các ấn phẩm văn hóa đến tay chiến sỹ phía trước là sinh tử. Chính vì vậy mà anh em trân trọng chuyền tay nhau đọc không để sót một chữ. Đó là chưa nói có những nội dung hay, hấp dẫn nhiều anh em thuộc làu làu. Nói không quá lời rằng có những bài bút ký, xã luận, bình luận, tùy bút dài cả mấy ngàn từ mà có anh vẫn thuộc hết, để tự nguyện làm...
 

Cảm nhận về thơ

13/05/2014 lúc 09:33






T






hơ là một bộ môn văn học - nghệ thuật hoàn hảo nhất bao gồm những khía cạnh thẩm mỹ: Nhạc, họa, điêu khắc và những khía cạnh khác như thời tính, sử tính…
Hiện hữu trên một bình diện ưu việt, ngôn ngữ thơ ẩn tàng một chiều cao, sâu, rộng, tác động thăm thẳm vào hồn người những tình cảm dạt dào, dẫn dắt trí tưởng tượng của ta bay cao và kích thích hành động vươn tới của con người ở một mức độ tinh vi nào đó…
Thơ, nói theo một nghĩa nào đó, chưa hẳn là đời sống của tác giả nhưng bắt nguồn từ cuộc sống, mà cuộc sống lại chuyển động trong một vận hành toàn bộ vũ trụ thiên nhiên cũng như vũ trụ con người. Do đó, dù muốn ruồng bỏ hoặc khinh rẻ đời sống đi nữa thì thời tính và sử tính vẫn hiện hữu trong thơ, trong những đường bay của thơ một cách khá trọn vẹn…
Trái với nghệ thuật tạo hình, trí tưởng tượng sáng tạo nên thơ khi hoạt động không thấy hẳn sự vật dưới hình dạng vẫn có ở bên ngoài. Dù sự vật đó đã được nghệ thuật khoác thêm một lớp áo - mà chỉ cho ta thấy nhận thức bằng một trực giác và một nội cảm thuần túy. Nó phản ánh... nhưng không phải vẽ lại rập khuôn, mà chủ quan của nhà thơ là yếu tố hệ trọng hơn cả trong hoạt động sáng tác của mình, dù ở những tác phẩm thể hiện mức phản ánh có tính chất cụ thể nhất...
 

Đọc trăng sáng

17/01/2014 lúc 22:46






Q





uảng Trị, mảnh đất đã trở thành bảo tàng lịch sử sinh động về cuộc đối đầu giữa ta và bọn Mỹ- nguỵ một thời không chỉ cho ta thấy những mảnh đất, những con người anh hùng, mà còn mang lại biết bao cảm xúc qua những trang văn của nhiều cây bút, nhất là những cây bút vốn sinh ra, lớn lên, sống chết với quê hương xứ sở. Trong bài viết ngắn này, tôi muốn nói đến một cây bút như thế: Nguyễn Ngọc Chiến và tập truyện thứ ba của anh, tập Trăng sáng.
Nét nổi bật bao trùm tập truyện là tác giả, nhờ sống, chiến đấu ở vùng đất lửa, nhờ rất nhiều lần chứng kiến cảnh mất mát, hy sinh cũng như tinh thần quả cảm của quân và dân ta nên trang viết luôn đầy đặn hiện thực thời hậu chiến trên mảnh đất chưa nguội tắt ngọn lửa chiến tranh. Mỗi truyện ngắn trong tập, xa gần, đậm nhạt đều mang dấu vết của chiến tranh, trực tiếp hay gián tiếp đều bị cuộc chiến tranh chi phối, tác động đến từng số phận. Và như bất cứ nơi nào trên trái đất vào bất kỳ thời nào, đau khổ nhất, mất mát nhất cuối cùng vẫn là người đàn bà. Rất nhiều thân phận đàn bà đau xót trong tập truyện ngắn này. Trực tiếp từ chiến trận trở về hậu phương với nhiều kỷ niệm vui buồn như O Lệ. O Lệ công tác ở một trạm giao bưu trong chiến tranh, rất nhiều gian khổ, áo quần rách nát, lúc có “chuyện riêng”...

Anh hề triết học, chàng Đông-Ki-Sốt văn chương

17/01/2014 lúc 22:45






N





guyễn Hoàng Đức tuổi Đinh Dậu là tuổi con Gà. Nhưng có lẽ anh là con gà mái câm mắn đẻ, vì anh cứ đẻ sòn sòn những quả trứng to mà tiếng cục tác sau khi đẻ luôn bị chìm đi trong cái nhốn nháo của làng văn nghệ. Vậy mà anh vẫn ngày ngày đóng cửa mê mải viết, viết như một người cầm bút tự do, chuyên nghiệp. Viết hàng ngàn trang rồi để đấy không biết đến bao giờ mới được in…
Triết gia, thi sĩ bị đày ở hành lang
Đức viết văn từ năm 1991, mở đầu là viết tiểu thuyết sáu trăm trang trong bốn tháng. Hai năm sau, đi đường bị tông xe máy ngã đập đầu xuống đường, máu chảy ra lênh láng phải đưa đi cấp cứu trong bệnh viện. Sau đó về Đức bắt đầu nổi hứng làm thơ. Câu chuyện về sự ra đời của năng lực thi ca này nghe có vẻ giống như các truyền thuyết về các nhà tiên tri, sau khi bị ngã từ trên cây cao hay bị ốm thập tử nhất sinh bỗng nói như thánh phán. Có lần Đức tâm sự với tôi: “Lúc nào tôi cũng thấy sôi sục cảm hứng muốn viết ông ạ! Mỗi ngày tôi có thể viết được một bài tiểu luận. Nhiều khi tôi muốn bôi mực lên người để lăn trên giấy cho thoả hứng sáng tạo như người ta vẽ tranh hiện đại. Đối thoại và hùng biện là điểm mạnh nhất của tôi. Đối thoại thì chan chát như đọ gươm. Hùng biện thì sôi trào, rực lửa, càng viết càng hùng biện, hàng trăm trang cứ tông tốc tuôn ra, trang nào cũng hùng biện. Tôi như bản giao hưởng lúc nào cũng đại toàn tấu, không có lúc nào một hai cây sáo ỉ eo”...

Chuyện ít người biết về nhà thơ Dương Tường, thủ lĩnh nhóm văn nghệ nguồn Hàn

17/04/2014 lúc 15:18






1.





Nguồn Hàn tức là nguồn sông Thạch Hãn chảy về Thành Cổ Quảng Trị. Chẳng thơm cũng thể hương đàn/ Không trong cũng thể nước Nguồn Hàn chảy ra. Người Quảng Trị khi nói về quê mình đều ngâm ngợi câu ca dao ấy, vừa tự hào, vừa như là một lời nhắc nhở nhau sống cho sạch, cho thơm. Nhắc đến Nguồn Hàn, người Quảng Trị yêu văn chương còn nhắc mãi một tổ chức Văn nghệ cách mạng gọi là Nhóm văn nghệ Nguồn Hàn ra đời năm 1949, nhưng đã manh nha tại Ba Lòng từ năm 1947. Nhóm văn nghệ sôi động một thời ấy gồm những nhà thơ, nhà văn nổi tiếng của đất nước như Chế Lan Viên, Lưu Trọng Lư, Hồng Chương, Trường Sinh (thiếu tướng Lê Chưởng, chính uỷ Trung đoàn 95), Lương An, Vĩnh Mai, Lê Tri Kỷ;…Về sau còn có thêm nhà văn Nguyễn Khắc Thứ (người nổi tiếng với ký sự Trận Thanh Hương), Tấn Hoài… Hoạt động của Nhóm Nguồn Hàn còn được sự cộng tác gần gũi của các nhà văn như Văn Tôn (Hải Bằng), Bửu Tiến, Trần Thanh Địch, Gia Ninh… Điều đặc biệt nhất là “lãnh đạo” các nhà văn lừng danh ấy lại là một tài năng thơ còn rất trẻ. Đó là Nhóm trưởng Nguồn Hàn - nhà thơ Dương Tường...

Văn hóa đọc đang có nhiều vấn đề

04/08/2014 lúc 08:45






Đ





ọc xong bài báo “Những điều đáng tiếc một tuyển tập thơ văn của thế kỷ” của Phạm Xuân Dũng (PXD) đăng trên tờ Đại Đoàn kết số ra ngày 3.6.2001 – Cho dẫu là người tham gia trong Ban biên tập (BBT) tuyển tập thơ văn “Non Mai Sông Hãn” (NMSH) nói trên, tôi không cần thiết phải có ý kiến tranh luận gì với tác giả PXD về sự tùy tiện và sự bóp méo sự thật dù bất cứ cấp độ nào. Thế nhưng trước công luận, trước bạn đọc cả nước thì không thể không có mấy điều thưa lại, vì rõ là văn hóa đọc của nhà báo này đang có quá nhiều vấn đề.
Những điều đáng tiếc của “Những điều đáng tiếc ...”  ở bài báo nói trên gói gọn trong ba điểm sau:
1. NÓI VỀ TUYỂN:
Làm tuyển, đơn giản như tuyển tập “100 bài thơ tình hay nhất thế giới” chẳng hạn, liệu có đủ 100 bài thơ tình chuẩn xác là hay nhất hành tinh này có mặt trong tuyển ấy? Sao chỉ 100 mà không là 101 bài? Hoặc như các tuyển tập Truyện ngắn hay nhất trong năm, thường các Nhà xuất bản (NXB) hay các tòa soạn báo văn nghệ tuyển chọn thì liệu đã là truyện ngắn hay nhất trong năm chưa? Điều đó hoàn toàn phụ thuộc vào tiêu chí, mục đích tuyển chọn của người biên tập hoặc BBT và chất lượng tuyển còn phụ thuộc vào cái lưng vốn anh tiếp nhận được trong năm, có bột mới gột nên hồ như cha ông ta bảo. Đơn cử: ............

Ý nghĩa nhân văn trong trang phục truyền thống

06/02/2014 lúc 23:03






T





rong quan niệm truyền thống, người Việt rất quan tâm đến trang phục: “Hơn nhau tấm áo manh quần/ Cởi ra mình trần ai cũng như ai”, hay: “Người đẹp vì lụa/ Lúa tốt vì phân/ Chân tốt vì hài/ Tai tốt vì hoa”. Thậm chí, họ còn coi trang phục chi phối cả hoạt động giao tiếp và tâm lý giao tiếp: “Quen sợ lòng sợ dạ/ Lạ sợ áo sợ quần”. Chính vì vậy mà trang phục trong lễ hội càng được người ta coi trọng. Ở bài viết này chúng tôi sẽ đi tìm ý nghĩa nhân văn trong trang phục truyền thống trên cơ sở cứ liệu văn học Việt Nam 1932- 1945. Tất nhiên muốn tìm được ý nghĩa nhân văn trong trang phục lễ hội truyền thống phải tìm cho được nét đặc trưng riêng của trang phục ấy. Đó là nhiệm vụ mà chúng tôi đặt ra trong qúa trình chứng minh các nhà văn Việt Nam giai đoạn 1932- 1945 rất chú ý tới miêu tả phong tục về trang phục...

Văn học bước qua thềm hội nhập

16/01/2014 lúc 23:16






N





gày 7/11/2006, tại Giơ-ne-vơ tiếng “chuông” hội nhập vào nền kinh tế thương mại toàn cầu được chờ đón mất hơn mười năm của dân tộc Việt Nam đã rung lên lanh lảnh cùng tiếng bật nổ chúc mừng của những chai sâm banh. Sự chờ đón kìm nén lâu ngày cũng ùa ra như rượu sâm banh hân hoan đón những lời chúc mừng của bạn bè quốc tế, những người theo sát từng bước chân đến cánh cửa hội nhập của Việt Nam, hồi hộp đón chờ chẳng kém gì những người bạn Việt Nam.
Thời điểm đó như một tiếng chuông reo trên đỉnh tháp cao nhất, nhưng kỳ thực bầu không khí xây lên đỉnh tháp đã nói lên ngay từ lúc đặt viên gạch đầu tiên xây móng, càng xây cao bầu không khí càng nóng, và càng gần đỉnh tháp thì không khí nóng như một chiếc nồi áp xuất khổng lồ… Bộ trưởng Bộ thương mại Trương Đình Thuyển đã ví, hành trình đến Hội nhập toàn cầu của Việt Nam giống như người leo núi, càng leo lên đỉnh trọng lực càng thêm nặng, sức hút càng thêm mạnh, và càng khó khăn hơn nhiều để chinh phục đỉnh núi… Tất cả các ngành nghề kinh tế quốc dân đã tăng nhiệt mỗi lúc một nhiều theo bước chân hội nhập, giống như một đầu máy hơi nước càng muốn gia tăng tốc lực thì càng phải cho thêm củi vào lò, nào cổ phẩn hoá, nào các doanh nghiệp lo chấn chỉnh cơ cấu cho thích hợp, các nhà băng vào cuộc với sự xoay xở trên từng vạch số thập phân, còn nông dân thì lo tìm cách làm ăn thế nào khi nhà nước bỏ chính sách trợ cấp nông nghiệp… Tất cả đều phải lao vào cuộc chạy đua, giống như các nhạc công phải chỉnh sửa cây đàn của mình làm sao để khi bước vào dàn nhạc toàn cầu, cây đàn của mình phải lên đúng âm la mẫu, nếu không tức khắc bị mời ra ngoài. Ngành luật pháp cao nhất như Quốc họi cũng không thể đứng ngoài những dòng xoáy đang cuốn về cửa biển toàn cầu, các đại biểu Quốc hội phải lao tâm khổ tứ để phê chuẩn những chính sách thích hợp với WTO.
Nhưng làm sao nhiều nhà văn, nhà thơ xứ ta lại im hơi lặng tiếng như vậy? Chúng ta thử nhìn các cuốn sách, các trang báo, và dể thấy nhất là các bài thơ in trên báo xem, có thể nhìn được bất kỳ “cơn sốt” hội nhập nào không? Hay các nhà thơ xứ ta nghĩ rằng: hội nhập là hội nhập thương mại, chứ văn thơ có phải thương mại đâu mà hội nhập? Đây không phải lần đầu tiên giới văn thơ nước nhà để lỡ mất chuyến tàu lịch sử, mà theo đánh giá chung, bao trùm và xuyên suốt của Hội liên hiệp văn học và Nghệ thuật toàn quốc lâu nay thì: giới văn học nước nhà chưa có được những tác phẩm tương xứng với thời đại. Liệu chúng ta có thể nói: súng đạn khói lửa thì không phải là văn học cho nên chúng ta đã đứng bên lề? Và giờ đây kinh tế- thương mại dù mang tầm vóc hội nhập toàn cầu nhưng cũng không phải là văn thơ, nên chúng ta lại đứng bên lề?...

Cái đẹp cần có và thơ hiện nay

17/04/2014 lúc 15:19






N





ói đến cái đẹp trong thơ là nói đến đối tượng cảm thụ thẩm mỹ của nhà thơ, của nhà phê bình và của người đọc trước những hiện tượng Chân- Thiện- Mỹ trong thiên nhiên, trong xã hội và trong con người, được nhà thơ viết bằng nhiều phong cách, bút pháp, giọng điệu khác nhau. Bài này muốn dừng lại ở khâu cảm thụ cái đẹp của nhà thơ và từ đó mà tác động tới cảm thụ của người đọc nhiều hay ít, lâu bền hay thoáng qua, nói gọn: Là câu thơ, bài thơ có đứng được trong lòng người đọc? Phải thừa nhận rằng, hai thập kỷ gần đây, mặt bằng sáng tạo thơ cao hơn, nhiều nhà thơ ráo riết đi tìm cái mới, đội ngũ những người làm thơ đông đảo hơn, hàng năm có tới hàng trăm tập thơ của nhiều nhà xuất bản ra đời. Nhưng tại sao hiện nay chưa thấy những nhà thơ nổi bật, ít bài thơ hay, thiếu nhiều câu thơ đẹp. Đi tìm nguyên nhân của thực trạng trên, chúng tôi lạm bàn mấy vấn đề lý luận về cái đẹp cần có trong thơ, may ra có thể giúp ích cho sự sáng tạo của nhà thơ, nhất là người viết trẻ.
Lý tưởng xã hội của nhà thơ là ngọn lửa chiếu sáng con đường sáng tạo
Làm thơ là sáng tạo, là đam mê, có khi say nhiều hơn tỉnh. Người cổ đại gọi nhà thơ là “Nhà tiên tri”. Muốn vậy, thì nhà thơ phải có tài đã đành, nhưng trước đó phải có lý tưởng xã hội; lý tưởng xã hội là năng lượng nằm trong bầu máu nóng của nhà thơ, là mục đích cao nhất, là lẽ sống đẹp nhất của anh ta.
Không phải ngẫu nhiên mà nhiều nhà thơ lớn cổ điển tự gọi mình là “nhà thơ công dân”. Nhà thơ phải là “Tiếng dội” của đời sống xã hội. Viết cho ai, viết để làm gì? vẫn là hai câu hỏi tưởng như không khó trả lời, nhưng thực tiễn sáng tạo thơ ở một số hiện tượng làm người đọc không yên lòng. Những hiện tượng một số nhà thơ trẻ tự khẳng định mình sớm, muốn nổi danh ngay (như một số ca sỹ bên sân chơi nhạc trẻ), những tuyên ngôn thơ vừa cao ngạo vừa ngậm ngùi, thậm chí vô trách nhiệm đối với bạn đọc, những câu thơ buông tuồng, thô thiển thỉnh thoảng vẫn xuất hiện trên những trang báo.
Trau dồi lý tưởng xã hội là tiền đề của sự hình thành lý tưởng nghề nghiệp mà ba điều bất hủ của một đời thơ thì lập đức được coi hàng đầu rồi mới nói đến lập công, lập ngôn. Văn chương thơ ca là nghiệp của ngàn đời (Văn chương thiên cổ sự), nhà thơ chỉ là con ông khôn ngoan biết đi hút mật ở các loài hoa về xây tổ ấm thơ ca của cộng đồng, chứ không đi đốt bậy người đời, dễ bị người ta châm lửa, hun khói xua đuổi, có khi vỡ cả tổ. Bản chất xã hội của nhà thơ là người con của xã hội, là hơi thở của thời đại. Cái đẹp của câu thơ phải đến với nhiều người, càng nhiều càng tốt. Còn chuyện đi tìm cái tự do tuyệt đối của nhà thơ, thơ ca chỉ là ảo ảnh của cuộc đời, thơ ca được viết không cho ai cả, thú thật chỉ là chuyện viển vông. Đó là chưa kể khi tâm hồn nguội lạnh, thái độ dửng dưng của nhà thơ trước những hiện tượng nóng bỏng của xã hội, thì nói gì đến câu thơ đẹp, có ích cho đồng loại (!?). Nói bản chất xã hội của nhà thơ hiện nay cần sòng phẳng hai chuyện: Giới phê bình, có lúc lẽ ra phải hướng dẫn kỹ thuật, kỹ xảo làm thơ, thì họ lại đi dạy lập trường chính trị; minh hoạ chủ trương chính sách bằng thơ vần vè là chuyện của những báo cáo viên tuyên huấn thì một số nhà thơ lại sa vào xu hướng chính trị hoá thơ ca một cách dễ dãi và lộ liễu. Hai căn bệnh đó vốn tồn tại đã lâu, nhưng nay đã được đẩy lùi, nhờ sự tự ý thức sáng tạo. Nhưng từ đó có người ngây thơ nông nổi nghĩ rằng, chỉ cần mới, cần lạ, cần hay là được, không cần gì lý thuyết, không cần gì bản sắc dân tộc, không cần gì những giá trị truyền thống…, họ ném ra ngoài xã hội nhiều câu thơ vụng về, khó hiểu, thậm chí có hại, đánh tráo cảm thụ thẩm mỹ của người đọc. Trách nhiệm công dân, trách nhiệm xã hội của nhà thơ ở đâu? người làm thơ có quyền viết bất cứ đề tài nào, lấy thi hứng từ bất cứ hiện tượng xã hội nào, nhưng khi bài thơ ra đời, nó không còn là của anh (chị) nữa mà là của xã hội, là đối tượng cảm thụ của hàng trăm nghìn thị hiếu khác nhau. Khen- chê, chấp nhận- từ chối là chuyện của dư luận xã hội. Nhà thơ không vì thế mà cao ngạo khi được khen và trách cứ, thậm chí chán nản lúc bị chê. Hiệu quả của sự khen- chê nằm ở tài năng, trước hết là ở tấm lòng của người viết, ở lý tưởng mà nhà thơ đam mê. Linh hồn của thơ ca hai cuộc kháng chiến chống xâm lược được thắp sáng bởi lý tưởng xã hội của nhiều nhà thơ và sự cảm thụ cái đẹp của người cùng thời đại. Chính vì vậy mà nó có sức sống lâu dài.
Sự  chân thật tối đa trong cảm xúc thẩm mỹ
Trong thơ ca, tài năng gắn liền với sự chân thật. Trong văn học kháng chiến của ta ở hai giai đoạn có nhiều bài thơ viết về đề tài mất mát, bi thương, mặc dầu kỹ thuật chưa được điêu luyện, ngôn ngữ chưa thật được trau chuốt, nhưng vẫn đọng lại sâu thẳm trong lòng người đọc nhiều thế hệ, kể cả thế hệ hôm nay: Màu tím hoa sim, Núi đôi, Quê Hương, Hương thầm, Cuộc chia ly màu đỏ v.v. Bí quyết thành công của những câu thơ hay, đầy xúc động nói trên là gì vậy?- Tài năng. Vậy tài năng trong sáng tạo thơ ca nằm ở đâu? Trước hết là ở sự chân thật. Có đau thì nói đau, nỗi đau của người trong cuộc. Sự giả dối trong thơ dễ bị người đọc lật tẩy. Loại hình nghệ thuật nào cũng cần có sự chân thật và sự chân thật trong nghệ thuật thường là cái được phản ánh sự thật cuộc sống, nhưng ở thơ đòi hỏi sự thật tối đa. Vì ở đấy nhà thơ và nhân vật trữ tình là một, trùng khít đến mức khó tách làm hai. Mọi thứ giả vờ, làm dáng, cường điệu cảm xúc của người viết thật xa lạ với tính chân thật trong thơ...

« 4344454647 »

Dự thảo
Du Lịch Quảng Trị

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

05/12

25° - 27°

Mưa

06/12

24° - 26°

Mưa

07/12

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground
tư tưởng Hồ Chí Minh
Dấu xưa
Tiêu đề