Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 25/09/2021 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Văn hóa thời đại

Tư tưởng phật giáo - Một ngọn nguồn cảm hứng nghệ thuật

17/04/2014 lúc 14:46






N





ội dung tư tưởng Phật giáo hết sức đa dạng, hết sức phổ biến; phổ biến hơn cả Đạo giáo và Nho giáo. Có thể nói tôn giáo chủ yếu của người Việt Nam là Phật giáo. Theo thống kê của Ban Tôn giáo Chính phủ năm 1993, số tính đồ phật tử xuất gia khoảng ba triệu người, số thường xuyên đến chùa tham gia Phật sự khoảng mười triệu người, số chịu ảnh hưởng khoảng vài chục triệu. Con số ấy bây giờ chắc chắn lớn hơn.
Đức Phật Tổ đắc đạo là nhờ ngài đã tìm ra hai thuyết lớn là “tứ diệu đế” và “thập nhị nhân duyên” có thể coi là nội dung tư tưởng chủ yếu của Phật giáo. “Tứ diệu đế” là: Khổ, tập, diệt, đạo được coi là bốn chân lý: Đời là bể khổ; nguồn gốc của cái khổ chính là dục vọng (tập); phải làm mất nguyên nhân sinh ra cái khổ (diệt); con đường dẫn đến giải thoát mọi nỗi khổ (đạo). Tuy cách giải thích “tứ diệu đế” còn có chỗ khoảng trống huyền bí, nhưng phải thừa nhận rằng...

Một số so sánh về hình tượng nhân vật người phụ nữ trong ca dao của VN và trong Kinh thi của TQ

22/01/2014 lúc 16:00






K





inh Thi của Trung Quốc và Ca Dao của người Việt đều là những tác phẩm văn học dân gian. Kinh thi có 305 bài, Ca Dao Việt Nam là cả nghìn bài. Cả hai đều được người đời sau san định lại và cố định hoá bằng văn bản. Giữa Ca Dao người Việt và Kinh Thi của Trung Quốc có nhiều nét tương đồng và dị biệt, thử đưa một ví dụ đơn giản mà ai cũng có thể dễ dàng nhận ra một nét khu biệt giữa chúng là: Kinh Thi thường được làm bằng thơ 4 câu, 4 chữ; còn Ca Dao của ngừơi Việt lại được làm bằng thể lục bát; còn một điều tương đồng là ca dao người Việt và Kinh thi của Trung Quốc đều có một địa vị quan trọng trong đời sống tinh thần, trong lòng quần chúng đông đảo của hai nước. Ở đây chúng tôi chỉ giới hạn bài viết trong phạm vi cụ thể: đi tìm một số nét tương đồng và dị biệt nơi hình tượng nhân vật người phụ nữ trong Kinh Thi của người Trung Quốc và trong Ca Dao người Việt. Với quan niệm: trong tác phẩm tự sự hình tượng nhân vật là nơi thể hiện tập trung lý tưởng đạo đức thẩm mỹ của tác giả, là cái tác động đến người đọc trên ba mặt: nội dung nghệ thuật, trình độ và  hiệu lực của sáng tạo nghệ thuật ngôn từ. Ở đây chúng tôi nghĩ rằng vẫn có một sự rào đón trước sau. Khi chúng tôi gọi Ca Dao là loại tác phẩm tự sự mà trước nay theo quan niệm chung của nhiều người thì Ca Dao - Dân Ca là thuộc loại hình trữ tình dân gian mà trữ tình và tự sự hai khái niệm này được các tác giả trong Từ điển thuật ngữ văn học phân định một cách rạch ròi. Thế nhưng đi sâu vào khảo sát Ca Dao Dân Ca. Chúng tôi thấy Ca Dao Dân Ca là thể loại dung chứa trong đó nhiều điều phức tạp. Trong ca dao dân ca ta thấy có sự tham gia của những yếu tố tự sự và trữ tình đậm đặc và sự tham gia của những yếu tố tự sự lại chiếm một vai trò rất quan trọng trong việc kiến tạo bài Ca Dao, trong việc phản ánh cái tôi trữ tình những yếu tố trữ tình nhiều khi được bắt rễ từ cái nền tự sự. Nhiều bài Ca Dao có thật đầy đủ những đặc trưng tính chất của loại hình tự sự mà các tác giả trong Từ điển thuật ngữ văn học đã nêu. Ví dụ như bài: “Sáng ngày mai em đi hái dâu”, có đầy đủ yếu tố của một câu truyện: từ cốt truyện nhân vật, sự đối thoại giữa nhân vật. Nói như thế để thấy rằng trong ca dao yếu tố tự sự trữ tình xen hoà quyện lẫn nhau khó có một cái nhìn tuyệt đối để phân định. Nên chăng đã đến lúc chúng ta cũng cần phải nhìn nhận những yếu tố tự sự trong Ca Dao - một loại trữ tình dân gian như ta hằng quan niệm. Lẽ dĩ nhiên nếu chúng ta chấp nhận sự có mặt của tự sự trong Ca Dao, hoặc là xem ca dao cũng là một tác phẩm tự sự, thì khái niệm tự sự này, có ít, nhiều sự khác với những quan niệm về tự sự trong văn học viết.
Đặt Ca Dao người Việt và Kinh Thi trong cùng một hệ thống, nhìn hình tượng người phụ nữ theo cái nhìn loại hình (types) chúng ta sẽ thấy nét tương đồng đầu tiên giữa hai hình tượng người phụ nữ, đó là những người phụ nữ này đều là những người đẹp, tràn trề sức sống, đều muốn phô vẻ thanh xuân của mình ra.
                       Cổ tay em trắng như ngà
                       Con mắt em sắc như là dao cau
                       Miệng cười như thể hoa ngâu
                       Cái khăn đội đầu như thể hoa sen
Người con gái trong Ca Dao Việt Nam xuất hiện với một vẻ đẹp thật hoàn mỹ, với làn da trắng con mắt sắc, cái miệng cười rất xinh, thêm vào đó lại còn rất khéo tay thể hiện ở chi tiết biết vấn khăn. Và đây là người phụ nữ trong Kinh Thi.
                       Hữu nữ đồng xa
                       Nhan như thuấn hoa
                       Tương ngao tương tường
                       Bội ngọc quỳnh cư
                       Bỉ mỹ Mạnh Khương
                       Tuân mỹ thả đô
                                      (Hữu nữ đồng xa - Trịnh Phong 9)
Dịch nghĩa: Có người con gái ngồi chung xe với mình dung nhan đẹp đẽ như hoa cây Thuấn, sắp sửa ngao du, thì nàng đeo ngọc cư. Nàng Mạnh Khương đẹp đẽ kia, thật là đẹp đẽ lại nhàn nhã....
 

Hoàng Phủ Ngọc Tường : Vẫn sống để viết

22/01/2014 lúc 15:59






T





rong bài Nhàn đàm viết về hoa ngũ sắc, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã ghi lại cảm xúc mình trước ngày bỏ phố lên rừng gần bốn mươi năm trước."Chào bầy hoa ngũ sắc ven đường, Cười sặc sỡ bên khung trời thơ ấu". Bài viết nhắc đến cuộc gặp gỡ với Kiều Thái ở Kim Long - người bạn gái thời sinh viên, sau này là giáo sư Triết học tại Đại học Munich. Sau lần gặp nhau năm 1965, hai người bạn một người lên rừng cầm súng, một người ra nước ngoài du học, hơn hai mươi năm sau mới gặp lại.
Trước ngày lên rừng, anh Tường là giáo sư dạy triết tại trường Quốc học Huế. Giáo sư Trung học thời ấy là một chức danh danh giá, có mức lương gấp hai viên chức thông thường. Vì vậy việc anh dứt áo ra đi không xuất phát từ bất mãn danh phận hay bức xúc về cơm áo, mà từ một khát vọng mang màu sắc lý tưởng.
Khi lên rừng, anh mới chỉ có thơ. Khởi đầu là những tâm sự của người thầy giáo, trong đối thoại tâm tư với học trò: "Đọc sử xưa, em hỏi,/ Lúc nước non lâm nguy,/Có phải chăng Nguyễn Trãi,/Xếp bút nghiên ra đi?" Người giáo sư trẻ tuổi của trường Quốc Học ngày ấy, người đọc rất nhiều thi thư của văn hóa đông tây, có lẽ đã làm theo sự thôi thúc của câu thơ Đuờng về trai thời loạn: "Ninh vi bách phu trưởng - Thắng tác nhất thư sinh" (Hoàng Phủ Ngọc Tường dịch và "update" câu thơ với giọng hóm hỉnh cố hữu của anh: "Thà làm đội trưởng của một trăm thanh niên xung phong hơn làm một anh chàng sinh viên mọt sách"). Hoàng Phủ Ngọc Tường, từ khởi điểm cuộc đời, bị chi phối rất mạnh mẽ bởi ý niệm "Kẻ Sĩ" mà anh đã mang trong tâm khảm từ ảnh hưởng phong hóa Nho học của đất Huế, nơi anh lớn lên và trưởng thành.
Sau này, anh viết nhiều về các danh nhân: Nguyễn Trãi, Đặng Huy Trứ, Đào Duy Từ... Tôi ngờ rằng danh nhân để lại ảnh hưởng sâu đậm nhất trên cuộc đời và hành trạng của anh chính là Nguyễn Công Trứ, với ý tưởng tích cực về công danh "Đã mang tiếng đứng trong trời đất, Phải có danh gì với núi sông." Anh rất trọng chữ Danh "Chỉ có người chuộng hư danh mới đáng chê, còn người hiếu danh làm nên cái tên mình bằng cả một quá trình lao động lâu dài thì đáng nể". Cụ Nguyễn Công Trứ đã đề cao vai trò Kẻ sĩ "Tước hữu ngũ, sĩ cư kỳ liệt / Dân hữu tứ, sĩ vi chi tiên". Bởi vậy trong đời anh Tường, lúc nào anh cũng muốn dấn bước lên trước, ý thức về người trí thức đi tiên phong luôn dẫn dắt những lựa chọn lớn của anh.
Xuất thân là học sinh rồi giáo sư Quốc học, anh được đào tạo thực sự cơ bản về học vấn; Cái vốn học vấn rất uyên thâm đó, đặc biệt là sự am tường về triết Tây và triết Đông, đã giúp anh đi vào cuộc sống với những phân tích, mổ xẻ đầy sáng tạo, điều mà nhiều nhà văn bây giờ không làm được vì thiếu sự tích lũy những kiến thức công cụ.
Mặt khác, nếu không có khoảng thời gian lặn lội trên Trường Sơn hay gắn bó với tuyến lửa Vĩnh Linh thì anh sẽ thiếu hẳn một mảng vốn sống rộng lớn và chắc chắn sau 1975 anh không cầm bút viết sớm như vậy (những tác giả miền Nam cùng xuất phát trong phong trào đấu tranh ở đô thị với anh, như Trần Duy Phiên và các tác giả khác trong nhóm Việt, phải đến hơn mươi năm sau mới trở lại văn đàn). Nếu như thế, có thể ta đã không có một Hoàng Phủ Ngọc Tường với gia tài tác phẩm phong phú như hiện nay. 
Một nhà nghiên cứu văn học ở Pháp, anh Đặng Tiến, đã nhận định rằng văn chương Hoàng Phủ Ngọc Tường là sản phẩm của chiến tranh cách mạng, bởi thời kỳ ở miền Nam, anh hầu như không viết gì, tất cả tác phẩm đều ra đời sau khi anh thoát ly.
Nhận xét đó có phần đúng. Tuy vậy, năm1975, sau mười năm lên rừng rồi ra Bắc, khi quay về Huế, anh mới chỉ có thơ và một tập ký đầu tay (Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu, 1972). (Anh rời Huế từ 1965 cho đến 1975 mới trở về, không có mặt trong mùa xuân 1968 như nhiều người đã hiểu lầm, do vô tình hay cố ý). Thời gian từ 75 trở đi, anh mới chuyên tâm sáng tác liên tục và được định danh là một nhà văn chuyên viết ký, sau lời nhận xét rất nặng cân của Nguyễn Tuân: "Ký Hoàng Phủ Ngọc Tường có rất nhiều ánh lửa. Ai đã đặt tên cho dòng sông - viết về sông Hương,Ngọn núi ảo ảnh - viết về núi Bạch Mã, và nhiều bút ký về văn hóa, lịch sử, thiên nhiên và con người xứ Huế, cùng với những tác phẩm được tập hợp trong 15 cuốn sách đã làm cho anh trở thành một tác gia kinh điển về thể loại ký trong văn học Việt Nam.
Vìvậy theo tôi, văn chương Hoàng Phủ Ngọc Tường là sản phẩm của thời kỳ đất nước thống nhất, với cảm hứng chủ đạo từ tâm thức người nghệ sĩ trong ba mươi năm qua: hàn gắn dân tộc và đổi mới xã hội.”
Hoàn cảnh xuất thân và quá trình sống làm cho anh, dù muốn dù không, đã thực sự là một cầu nối hiệu quả nhất giữa giới trí thức từ hai miền Nam Bắc, giữa người cầm bút trong nước với trí thức hải ngoại. Những năm từ bảy lăm cho đến trước khi anh bị tai biến não năm 1998, căn hộ anh ở là nơi gặp gỡ của anh em văn bút trong nước, ngoài nước khi qua Huế....
 

Thăm thẳm bóng người - Một thành tựu

17/04/2014 lúc 14:46






T





ập Tùy bút Thăm thẳm bóng người của Đỗ Chu là một tác phẩm hay, có sức cuốn hút, trang nào đọc cũng hấp dẫn. Tập sách xâu chuỗi miên man hàng trăm mẩu chuyện. Câu chuyện về lương y Thiên Tích dài hơn ba chục trang, chuyện về cụ Trần Trọng Kim chỉ nhắc qua không quá năm dòng.
...Cụ Trần Trọng Kim vốn là một thanh tra tiểu học thời Tây, sau đó ra làm Thủ tướng. Lúc bãi chức có tờ báo tới phỏng vấn xin cụ kể cho một chuyện gì thật đặc biệt trong mấy tháng giữ chức, cụ nghĩ một tý rồi bảo, có chuyện này, tôi thấy lấp ló sau mỗi thằng quan An Nam đều có một tên ăn cắp vặt (trang 14).
Câu chuyện về thày lang Thiên Tích phong phú hơn nhiều nhưng mẩu chuyện về cụ Trần lại có ấn tượng mạnh mẽ riêng của nó.
Đỗ Chu hay la cà ở những quán cóc. Ngồi quán nước, tác giả biết được rất nhiều chuyện. Một câu chuyện thương tâm, tác giả biết có một người con trai hay ôm đàn ra ngồi quán nước hát. “Càng hát càng vang càng xa, tiếng hát trong vắt rung lên thổn thức như muốn hút lấy hồn người nghe” (tr.20), Nhưng rồi người có giọng hát đẹp này bị đi tù vì tội “thời chiến mà hát nhạc vàng”. Con trai đi tù bà mẹ buồn bã mà chết. Và người con trai ở tù ra “hóa thằng ngớ ngẩn, quên cả lối về, đến nỗi nhà cửa rơi gọn vào tay người ta rồi mà chẳng buồn kêu ai. Trong không khí tập tùy bút, tôi thấy “thăm thẳm bóng người" ở người con trai mải mê đàn hát bị tống cổ vào tù. Và “thăm thẳm bóng người” vật vờ trong đời một người mẹ thương nhớ con trai đến không sống nổi nữa. Đằng sau chuyện đi tù vì hát nhạc vàng thực ra lại là chuyện toan tính cướp nhà cướp của của nhau. Trong nhiều câu chuyện tác giả kể, cách nhìn “thăm thẳm bóng người" là một cách nhìn nhân hậu, nhiều chỗ có  màu sắc tâm linh. Trong “thăm thẳm bóng người" có bóng ta. Có thăm thẳm bóng Nguyễn Tuân với những kiệt tác ông để lại cho đời. Tô Hoài còn đấy, “đứng chống đòn gánh, dưới chân là hai quang sách nặng”, bóng của hàng triệu độc giả hòa vào bóng Tô Hoài trong những tác phẩm bất hủ của ông. Trước “cốt kiêu” và uy bút của hai ông, Đỗ Chu - lần đầu tiên tôi thấy - đứng khép nép.
Trong tập tùy bút của Đỗ Chu, Thăm thẳm bóng người trước hết là những ký ức, là vong, là âm hồn của các chiến sĩ ngã xuống trên chiến trường. “Người đi mà bóng vẫn còn” (tr. 169). Thiếu tướng Chu Phác đến tuổi nghỉ hưu quyết định lên đường lần thứ hai, ông cùng với bè bạn trở lại chiến trường xưa tìm hài cốt của đồng đội xấu số. Qua những câu chuyện tìm vong gọi hồn hiện lên một thế giới nửa hư nửa thực, cả người âm và người dương thế đều sinh động và không ít cảm động. Có những chuyện lạ lùng (ai tin được đến đâu thì tin). Những người sống có năng lực đặc biệt để tìm người chết đã là một nhẽ, đằng này lại còn có cả những “hồn” người chết cũng có năng lực mách bảo để tìm ra “những người đang còn sống sờ sờ mà bấy lâu nay vẫn bị xem là đã chết”.
Một ngày nọ có “hồn” một vị chỉ huy đã hy sinh ở mặt trận Nà Sản từ Thu Đông 1952 bỗng gọi Chu Phác tới mà bảo, thằng ấy nó đã chết đâu mà chú mày hỏi anh có hay gặp nó không. Nó vẫn sống và vẫn nhớ đến bọn mày. Hãy tìm về mạn biển, tới làng ấy, xóm ấy là sẽ gặp.
Mò mẫm mất mấy ngày rồi cũng tìm tới được xóm ấy làng ấy. Bạn anh quả thật vẫn còn, anh ấy đang ngồi khuất trong vườn chuối chẻ nan đan dậm. Gặp lại là để ôm lấy nhau dở khóc dở cười, là để vạch áo bạn ra nhìn vào tấm lưng trần mà hỏi, sao lưng mày lắm vết roi vết sẹo vậy? Bạn móm mém kể rằng, mấy vết này là mảnh cối ở trận ấy trận nọ, còn những vết roi lằn ngang lằn dọc là của đồng chí mình để lại sau mấy cuộc chỉnh đốn tổ chức! (tr.196-197).
Đỗ Chu quan tâm đến việc chăm sóc những ngôi mộ của những binh sĩ phía bên kia với những suy nghĩ hết sức nghiêm chỉnh: Đây cũng lại là một thách thức lớn, một công việc lớn của toàn xã hội, chừng nào vẫn còn thiếu một cách nhìn đầy đủ trước vấn đề hết sức hệ trọng này, dân tộc ta chưa thể tìm được một dáng đứng mới (tr 194). Một việc mà nhiều người Việt Nam trong nước không hề quan tâm hoặc tưởng rằng có thể bỏ qua được, Đỗ Chu lại thấy chính từ việc này mà thiên hạ nhận ra cái dáng đứng của cả dân tộc....
 

Nhọc nhằn khám phá biểu đạt của hai họa sĩ Lê Hữu Nam và Hồ Thanh Thọ

27/02/2014 lúc 15:20






C





uộc triển lãm Mỹ thuật ứng dụng của hai tác giả Lê Hữu Nam và Hồ Thanh Thọ vừa diễn ra ở Quảng Trị. Đây là hai hoạ sĩ trẻ đầy nhiệt huyết, say mê sáng tạo bởi một phương pháp biểu hiện mạch lạc, rất tự nhiên, khai thác nghệ thuật quảng bá đến tận cùng.
Hai tác giả đã tập trung quanh sự chuyển dịch về các biểu lộ cá nhân. Nếu người thưởng ngoạn có thể đồng hoá được với kinh nghiệm mà tác phẩm mỹ thuật ứng dụng đem lại trước mắt họ thì ở đó giá trị được tăng thêm, công chúng và hoạ sĩ cùng chia sẻ sự cảm thông chung. Đồng thời hình như lại xuất hiện sự trở về đồ hoạ ứng dụng có hình thể, trả lại với hình ảnh, quay về với con người và các hình thái khác nhau. Các tác phẩm Mỹ thuật ứng dụng mà hai tác giả Lê Hữu Nam và Hồ Thanh Thọ triển lãm lần đầu tiên tại Quảng Trị như là một mong muốn đặt nền tảng cho các triển lãm Mỹ thuật ứng dụng về sau ở Quảng Trị. Triển lãm có sự khác biệt về mặt trình bày cũng như thách thức tìm kiếm một chân trời rộng mở với các hình thức thể hiện phong phú hơn.
Tác phẩm Mỹ thuật ứng dụng tiếp tục có vai trò quan trọng trong sự diễn tả cảm xúc, vì vậy tính trừu tượng phối hợp với các yếu tố, hình thể đôi khi đem lại tín hiệu thẩm mỹ rõ rệt, có hai chiều hướng khác nhau nhằm giới thiệu, quảng bá về một đề tài nào đó của đời sống con người. Hình ảnh của một công ty, một doanh nghiệp, hoặc biểu tượng sự sáng tạo của một đơn vị chủ thể nào đó vẫn còn là chủ đề chính trong triển lãm này. Hiển nhiên việc sáng tạo dựa trên các biểu tượng gắn với tính đặc thù của một đối tượng muốn thể hiện, được xem như muốn chối bỏ lối tạo hình truyền thống để mang lại một phương thức truyền đạt thông tin khác thường hoặc vay mượn từ ẩn số di sản. Các tác phẩm mỹ thuật ứng dụng của Nam và Thọ triển khai sự diễn tả cá biệt và tự do trong cách nhìn, đôi khi sự tự do còn vụng về ở một số tác phẩm như là sự phản ứng chống lại trào lưu trí thức hoá nghệ thuật thị trường, nhất là vào giai đoạn mỹ thuật ứng dụng hội nhập đa dạng như hiện nay.
Lê Hữu Nam diễn tả các chủ đề mang nhiều gợi ý về thị giác, phối hợp hướng dẫn giữa ý thức và vô thức. Có thể thấy rõ ở nhóm tác phẩm Poster giới thiệu, quảng bá dự án Sài Gòn, quảng bá du lịch Huế. Trong xã hội tiêu thụ đầy cạnh tranh như ngày nay, hình thức bên ngoài của một chủ thể thực sự là yếu tố quan trọng. Thiết kế tạo mẫu, đồ hoạ vi tính, đồ hoạ ứng dụng luôn gắn liền với cuộc sống. Mọi sinh hoạt trong cuộc sống diễn ra xung quanh ta từ các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hoá, chính trị, y tế... luôn có sự góp mặt của đồ hoạ ứng dụng. Mỗi ấn phẩm đồ hoạ có mặt trong cuộc sống đều để lại dấu ấn thẩm mỹ và tư duy sáng tạo của họa sĩ đồ hoạ (Designer), góp phần làm sinh động đời sống xã hội trong xu thế hiện nay. Tuy nhiên, không phải mọi sản phẩm đồ hoạ đều phục vụ cho mục đích thương mại, vẫn có những tác phẩm sử dụng cho các mục đích xã hội và nghệ thuật, các tác phẩm Poster của Nam là một ví dụ....

Đọc

22/01/2014 lúc 15:44




 








M





ột niềm vui mới đến với bạn bè đầu năm mới, Thanh Tịnh Đông Hưng, một Blogger trong hội Blogs Quảng Trị đã trình làng tập thơ đầu tay " Cầu vồng cõng những cơn mưa ". Tập thơ gồm 51 bài với gần 100  trang do nhà xuất bản Giao thông vận tải ấn hành. Tôi may mắn là người đọc sớm nhất nên niềm vui, niềm xúc động ngấm dần trong cảm thức triền miên trước những trang thơ đằm thắm dung dị vừa ảo vừa thực của một tâm hồn tươi trẻ.
Vâng! Tôi quen Thanh Tịnh khá lâu và chỉ biết anh là một doanh nhân lãng tử thích ngao du đây đó chứ chưa hề biết anh là người làm thơ! Tình cờ vào mạng, tôi thấy một Blogger mang tên Thanh Tịnh Đông Hưng và khuôn mặt dễ thương của anh mà vui mừng đến ứa nước mắt! Trời ơi! Thanh Tịnh đây rồi, mấy bài thơ đầu tay lên trang không dấu được tiếng quê chân chất mà gần gũi mang phong vị đồng quê chiêm trũng, mảnh đất nuôi anh thành người.
Từ bấy đến nay, tên anh thường xuyên có mặt trên trang Blogs sôi nổi nhất, thơ anh càng viết càng hay, càng thuyết phục bạn đọc!
Thanh Tịnh có một tâm hồn đa cảm thiết tha tình đời, tình em và quê hương đồng chua nước mặn.
                         Trông mưa - nắng đốt mắt vàng
                  Lúa vừa ngậm chẹn lụt tràn đồng sâu
                         Mảnh mai thân gái dãi dầu
                   Ngực tròn chấm nước phèn nâu nhặt mùa
                                      (Em gái đồng chiêm trũng)
Ai có về miền chiêm trũng mới thấy xót xa cho dân quê lặn ngụp trong biển nước để vớt lên những hạt vàng trĩu nặng mồ hôi. Chính anh, đứa con quê dãi dầu sương nắng mới cảm được cái gian lao cơ cực của người quê!
Viết về mẹ, thấm trong anh với từng con chữ, chân tình mà sâu nặng, giản dị mà có sức ngân bởi anh biết chấm phá hình ảnh cô đặc ơn tình cho mảnh đời thương khó nuôi con:
 
                    Mẹ là cha đũa lẻ cong oằn
                    Nứt nẻ khô cằn tiếng ầu ơ
                    Kết sợi thương đau tơ lòng xây tổ
                    Bên ráo con nằm mái dột mẹ nghiêng
                                                           (Mẹ)
Suy nghiệm cuộc đời bằng thiện tâm để nuôi dưỡng cái cội nguồn cuộc sống,Thanh Tịnh tôn thờ chữ Tâm bằng cuộc sống thường ngày nên anh thanh thản bước đi trong xồ bồ cuộc sống thực tại. Anh là doanh nhân nhưng công việc kinh doanh đối với anh chỉ là phương tiện để vươn tới cái cao đẹp của cuộc sống thanh tao bằng những cảm xúc thăng hoa trong một tâm hồn hướng thiện. Trên đường đời tấp nập, anh giật mình tịnh tâm khi nghe vọng tiếng chuông ngân kéo anh về với cõi thiền:...
 

Văn Xương và văn chương

07/02/2014 lúc 20:47






V





ăn Xương tên thật là Văn Bốn. Anh chính thức cầm bút chưa đầy một chục năm nhưng sức viết khá mạnh, đã cho ra đời 2 tập truyện "Hoa gạo đỏ bên sông" NXB Hội nhà văn năm 2006 và "Hồn trầm" NXB Lao động năm 2008.
Văn Xương là cựu chiến binh, hiện đang là cán bộ dân sự nhưng có thể nói anh là "Nhà văn quân đội" viết về  đề tài chiến tranh, đề tài người lính là chủ yếu. Với công tác của mình anh rất có lợi thế, tiếp xúc được nhiều ngành, đi được nhiều nơi, hiểu sâu sắc đời sống, tâm tư người lao động. Hình như anh đang cất dấu, để dành vốn sống ấy. Ký ức về chiến tranh, di hoạ của chiến tranh luôn ám ảnh không nguôi trong anh. Sống trên mảnh đất một thời máu lửa ác liệt nhất đất nước, có dòng sông Hiền Lương và vĩ tuyến 17 chia đôi Tổ quốc suốt 21 năm, đi đâu cũng bắt gặp những địa danh gắn liền với những chiến công oai hùng, lừng lẫy: đường 9 Khe Sanh, Thành Cổ, Cửa Việt, Gio Linh, Dốc Miếu, ... 

Nghĩ về biểu tượng trâu trong tâm thức Việt

06/02/2014 lúc 23:14






B





iểu tượng (symbol) là một thành tố không thể thiếu trong mỗi nền văn hoá. Trong khi đi tìm một định nghĩa cho văn hoá, các nhà nghiên cứu đã thừa nhận rằng, xét về một phương diện nào đó, văn hoá là một hệ biểu tượng. Khi chúng ta đề cập đến vấn đề đặc trưng tư duy của dân tộc hay tâm thức Việt qua vốn từ vựng nói chung và qua biểu tượng “trâu” trong kho tàng thành ngữ, tục ngữ, ca dao nói riêng là muốn đặt vấn đề này trong mối quan hệ biện chứng giữa ngôn ngữ và tư duy, hay ngôn ngữ và văn hoá; trong đó ngôn ngữ được xem là “hiện thực trực tiếp của tư tưởng”, và biểu tượng là “sự phóng chiếu” văn hoá dân tộc.
Trước khi nói nhiều hơn về biểu tượng “trâu”, chúng tôi quan niệm biểu tượng là những hình ảnh cảm tính về hiện thực khách quan, thể hiện quan niệm thẩm mĩ, tư tưởng của từng tác giả, từng thời đại, từng dân tộc và từng khu vực cư trú. Theo định nghĩa giản dị của K.G.Jung, “biểu tượng là một cái gì, ngoài ý nghĩa vốn có của nó, còn hàm chứa một ý nghĩa khác, tức ngoài nghĩa đen còn có nghĩa bóng”(1). Để tạo nên các biểu tượng, nghĩa đen, nghĩa biểu vật của các từ ngữ, các kí hiệu sẽ không được khai thác, ở đây, chủ yếu nghĩa bóng, nghĩa biểu cảm của ngôn ngữ...

Hình tượng Bác Hồ trong nghệ thuật tạo hình

17/04/2014 lúc 14:46






C





hủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam, một nhà họat động chính trị, một nhà tư tưởng, anh hùng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất, danh nhân văn hóa thế giới. Sinh thời, Người luôn luôn gần gũi với nhân dân, chăm lo cho đời sống của nhân dân, dâng hiến cả cuộc đời mình cho dân tộc, vì vậy nhân dân ta gọi Người là “Bác Hồ” với tấm lòng kính yêu.
Trong các đề tài để thể hiện tác phẩm của mình, hình tượng Bác Hồ bao giờ cũng là đề tài vô cùng phong phú, là nguồn cảm hứng vô tận trong những sáng tạo của giới mỹ thuật. Các tác giả đã đặt nhiều trí tuệ, tình cảm vào đề tài kỳ diệu này và bao giờ cũng cảm thấy lo lắng, băn khoăn, sợ rằng chưa đủ tài năng để thể hiện thành công như mong muốn.
Trong kháng chiến chống Pháp và những năm tháng hòa bình đầu tiên, các họa sĩ và các nhà điêu khắc có nhiều điều kiện được vẽ Bác chan hòa với các tầng lớp nhân dân. Các tác phẩm thể hiện  Người từ khi còn nhỏ, tuổi thanh niên ra đi tìm đường cứu nước, họat động cách mạng ở nước ngoài rồi trở về Tổ quốc lãnh đạo nhân dân giành thắng lợi trong cuộc cách mạng tháng Tám đến hình ảnh của người trong cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà. Tất cả các tác phẩm về Bác được thể hiện qua bàn tay và khối óc của giới mỹ thuật đều toátlên hình ảnh gần gũi, thân thương của một vị lãnh tụ vĩ đại nhưng hết sức khiêm tốn và giản dị, một hình ảnh luôn luôn làm xúc động lòng người.
Các họa sĩ Tô Ngọc Vân, Nguyễn Đỗ Cung, nhà điêu khắc Nguyễn Thị Kim là những người được vinh dự vẽ chân dung và nặn tượng Bác sau cách mạng tháng Tám thành công (tháng 5/1946). Mặc dù vào thời điểm này, chính quyền cách mạng đang còn non trẻ, đứng trước những thử thách lớn lao, thù trong giặc ngòai, các đảng phái phản động chỉ chờ cơ hội để bóp chết nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa chưa đầy một tuổi. Tuy bận rộn trăm công nghìn việc nhưng Bác vẫn giành cho các họa sĩ đầu tiên được thể hiện chân dung của mình tại Bắc bộ phủ (nơi làm việc của Bác ở Hà Nội). Những tác phẩm đó đã thành công rất lớn. Bức sơn dầu và khắc gỗ của họa sĩ Tô Ngọc Vân vẽ Bác đang ngồi làm việc trong bộ áo quần kaki vàng nhạt và đôi giày Nùng màu xanh chàm; họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung ghi lại hình ảnh Bác trên một tranh mực nho, nét mặt của lãnh tụ nhìn nghiêng khắc khổ; nhà nữ điêu khắc Nguyễn Thị Kim thể hiện Bác trong tư thế đang chú tâm vào công việc, tượng bán thân nhưng vẫn toát lên phong thái giản dị ở bộ y phục.
Năm 1947, ở Đồng Tháp Mười, tỉnh Cà Mau, nhà điêu khắc Diệp Minh Châu trong một đêm xúc động, đã lấy máu từ tay mình vẽ “Bác với 3 em thiếu nhi Bắc - Trung - Nam”, điều đặc biệt là lúc ấy ông chưa hề được gặp Bác lần nào. Nét vẽ ân tình, xúc động đã mở đầu cho hàng lọat tác phẩm vẽ và nặn tượng về Bác sau này. Luôn luôn ấp ủ với đề tài được sáng tác về Bác, nhà điêu khắc Diệp Minh Châu được ưu ái ở bên Bác gần nữa năm với lý do là từ miền Nam ra vẽ Bác, đưa về cho đồng bào miền Nam xem hình bóng của Người.
Cuối năm 1958, theo nguyện vọng của Sứ quán Cộng hòa dân chủ Đức muốn có pho tượng hoặc bức họa cỡ lớn về Hồ Chủ Tịch mà tác giả phải là người Đức, Bác đã đồng ý để nhà điêu khắc Đức Henrich Đrácke đến nặn tượng Bác. Để kết hợp, Bác cho một số anh chị em Việt Nam cùng đến làm. Hàng ngày, Bác dành một giờ rưỡi đầu buổi sáng ngồi mẫu cho nhà điêu khắc Đức và các bạn đồng nghiệp Việt Nam (gồm các họa sĩ và nhà điêu khắc Trần Văn Lẩm, Diệp Minh Châu và Trần Văn Cẩn). Mặc dù ở tuổi gần 70 nhưng Bác vẫn ngồi thanh thản, ung dung trên bục cao, không hề tỏ ra mệt mỏi để mọi người tiện quan sát làm việc. Không phải chỉ lần này người nước ngòai nặn tượng Bác mà sau đó cũng có một số họa sĩ nước ngoài vẽ Bác, Bác cũng cho một số họa sĩ trong nước được kết hợp....

Phụ nữ và đề tài chiến tranh

03/05/2014 lúc 09:16






Đ





 
ề tài chiến tranh trở thành đề tài trung tâm của văn học, đặc biệt ở giai đoạn 1945 - 1975. Trong giai đoạn này, tác phẩm viết về chiến tranh chiếm vị trí quan trọng, góp phần xác định đặc điểm, diện mạo và thành tựu văn học. Có thể kể ra hàng loạt những tên tuổi gắn liền với mảng đề tài trung tâm này, nhưng sự đóng góp của nhà văn nữ vẫn còn mờ nhạt.

Ngày xuân - Câu đối

22/01/2014 lúc 15:18






C





âu đối chiếm một vị trí quan trọng trong văn học Việt Nam. Câu đối là một hình thức sinh hoạt độc đáo, tao nhã của người Việt. Câu đối là nghệ thuật chơi chữ, thể hiện tài năng, trí tuệ thông minh, sắc sảo, khí phách và tình cảm, thái độ trước một con người, một sự việc hoặc một cảnh vật, một đối tượng nào đó mà tác giả quan tâm chú ý đến. Đề tài câu đối cũng khá phong phú và đa dạng nhưng thường tập trung vào: Xuân Tết vui mừng, mừng hỉ sự, ghi công, tang ma, châm biếm; câu đối danh lam, di tích... Trong đó, câu đối xuân vẫn được xem là một nét văn hoá truyền thống trong đời sống sinh hoạt của người Việt.
   Về mặt thể loại, hiện nay có rất nhiều cách phân chia. Nếu dựa vào cách làm, người ta phân câu đối thành ba loại: Câu đối sách (lấy chữ hoặc nghĩa trong sách mà đối); Câu đối tức cảnh (thấy cảnh gì thì làm câu đối về cảnh ấy); Câu đối chiết tự (“bẻ chữ” ra mà đối, chữ ở đây là chữ Hán bao gồm cả hình nét và nội dung ý nghĩa của câu chữ). Dựa vào cách tổ chức ngôn từ, câu đối được phân chia thành: Câu tiểu đối (câu đối nhỏ, mỗi vế từ ba đến sáu tiếng), câu đối thơ (câu đối đặt theo lối thơ thất ngôn),  câu đối phú (câu đối làm theo thể phú)... Nguyên tắc quan trọng nhất của câu đối là tính đối ngẫu. Hai vế trong câu đối phải cân bằng với nhau từ số lượng từ, thanh âm đến ý nghĩa.
   Câu đối bất luận ngắn hay dài, chữ Nôm hay chữ Hán, hoặc nửa Nôm nửa Hán điều cốt ở sự mới mẻ, sâu sắc về nội dung và hoàn thiện độc đáo về hình thức.
Câu đối có từ lâu đời, có nguồn gốc ở bên Tàu. Người Tàu xem câu đối là một thứ “đặc sản văn hoá thượng hạng”, và họ quan niệm: Nếu thơ văn là tinh hoa của chữ nghĩa, thì câu đối tinh hoa của tinh hoa. Câu đối có tên gọi xưa là Đào phù - vốn có nghĩa gốc từ tấm ván (phù) bằng gỗ đào được treo trước cửa để xua đuổi ma quỷ. Theo sách “Tống sử - Thục thế gia” thì câu đối đầu tiên chính chúa nước Thục là Mạnh Sưởng viết trên tấm gỗ đào vào năm 959, câu đối như sau: “Tân niên khai dư khánh/ Giai tiết hạ trường xuân” (Năm mới bày tiệc lớn/ Tiết đẹp mừng xuân dài). Trần Hậu Chủ có một câu đối được xem là chuẩn mực mà các bậc túc nho lấy đó là chuẩn mực là: “Nhật nguyệt quang thiên đức / Sơn hà tráng đế cư” (Nhật nguyệt sáng đức trời / Núi sông ân (vua) nhuần thấm).
Câu đối được du nhập vào nước ta từ rất sớm, lúc đó cùng với sự bành trướng về phương Nam thì văn hoá Trung Hoa đã hoà nhập với văn hoá phương Nam của người Việt cổ và đã trở thành một thành tố văn hoá của dân tộc Việt. Từ lúc nào không hay, câu đối đã trở thành món ăn tinh thần truyền thống của người Việt, một thú chơi tao nhã, phù hợp với nhiều trường hợp, hoàn cảnh và sinh hoạt xã hội khác nhau.
   Ngày xuân, nhâm nhi chén rượu, viết đôi câu đối cũng là một cái thú của người Việt ta. Những câu đối bằng mực Tàu giấy đỏ bên cạnh các loại tranh Đông Hồ đã tạo nên quang cảnh ngày Tết. Ngày xưa, Tết đến xuân về trong mỗi gia đình dù có thiếu thốn gì nhưng “Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ / Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh” (Trần Tế Xương) là không thể thiếu. Đây là nét đặc trưng đã có từ lâu đời trong những ngày Tết cổ truyền của người Việt. Những ngày giáp Tết ở những phiên chợ, những phố đông người thường có những ông đồ bày viết thuê:
                           Mỗi năm hoa đào nở
                           Lại thấy ông đồ già
                           Bày mực tàu giấy đỏ
                           Bên phố đông người qua
                                                               (Vũ Đình Liên)
   Câu đối Tết thường là câu đối đỏ. Theo quan niệm dân gian, màu đỏ vốn được coi là màu rực rỡ nhất, là biểu tượng của sức sống mãnh liệt. Màu đỏ vừa nổi trội vừa hài hoà với màu xanh của bánh chưng, màu vàng của hoa mai... làm không gian sáng tươi, tạo cảm giác ấm áp trong ngày xuân mới.
Trước hết, tôi xin mở đầu bằng một gia thoại về câu đối: Ngày xuân, có hai ông đồ cùng ngồi nhắm rượu. Ông đồ thôn Đông gắp một miếng chả nhai tóp tép rồi tung ra một vế đối: Chả ngon. Ông đồ thôn Đoài cũng đang bí vì cái từ “chả” hai nghĩa ấy, thì may nắm thay từ gầm gường một con Cóc nhảy ra, miệng cũng nhai tóp tép, ông liền đối ngay: Cóc sướng. “Cóc” đối với “Chả” thật tuyệt vời vì nó cũng mang hai nghĩa như vậy. Ông thôn Đông vờ cắn phải cái lưỡi kêu lên:...
 

Người hát dân ca cuối dòng Bến Hải

22/01/2014 lúc 15:17







L





ê Thị Bích Nồng tuy cũng là người Vĩnh Giang, nhưng không phải là người làng Tùng để mà tự hào với câu vè truyền tụng: “Văn chương Xuân Mỹ, lý sự Thuỷ Khê, Làm thuê Cẩm Phổ...chèo cạn làng Tùng...”. Bà người thôn Cổ Trai Đông, sát bên làng Tùng Luật. Cũng là một làng quê đơn sơ mà xinh đẹp nằm cuối dòng  Bến Hải mang vị mặn của biển. Cha mẹ của bà đều là những người đam mê ca hát, họ hò hát đối đáp với nhau mà nên vợ nên chồng.
Thời chống Pháp, Bích Nồng - một cô bé mới mười hai tuổi là đội viên đội truyền tin của xã. Học đến lớp 7 thì nghĩ học vì mẹ ốm, phải ở nhà trông em và giúp đỡ việc nhà. Hoà bình lập lại, đất nước chia đôi. Những năm chưa khoá tuyến (1954 - 1956) Bích Nồng trong đội văn nghệ xã Vĩnh Giang thường theo đàn chị Châu Loan biểu diễn trên sông phục vụ đồng bào bờ Nam và làm công tác địch vận. Năm 1960, bà tham gia Đội văn nghệ công an vũ trang Vĩnh Linh (D.41) biểu diễn phục vụ cho các chiến sĩ và đồng bào từ Vịnh Mốc lên đến Giàng Phao, Hói Cụ. Trong lòng dân vẫn còn lưu giữ hình ảnh những người nghệ sĩ đã một thời đồng cam cộng khổ, đem tiếng hát phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng.
Năm 1967, Bích Nồng chuyển sang làm chiến sĩ của “Đội tuyên truyền văn hoá Trung đoàn 270” bảo vệ giới tuyến (Người dân thường gọi là Đoàn văn công Khu đội Vĩnh Linh). Với giọng hò trời phú, trong trẻo, ngân rung như giọng của Châu Loan, những buổi đi làm địch vận, giọng hò của Bích Nồng đã góp phần cảm hoá tâm hồn những người lính bên kia chiến tuyến. Theo lão nghệ nhân Ái Chủng - nguyên phó trưởng Đoàn văn công khu đội: “Nếu gọi loa đọc chủ trương đương lối thì địch bắn pháo dữ dội để át đi tiếng tuyên truyền. Nhưng khi Bích Nồng cất lên giọng hò: Bước tới Hiền Lương sao chặn đường nghẹn lại / Đáo tới bờ Bến Hải sao gác mái tình duyên...ơ...hờ... thì bọn địch im re để mà nghe”.
Đoàn văn công Khu đội Vĩnh Linh có nhiều lần vượt sông sang bờ Nam phục vụ đồng bào ở Trung Giang và các chiến sĩ tiểu đoàn 47. Tết Mậu Thân 1968, Bích Nồng và đồng đội suýt chết tại bến đò Xuân Mỵ khi máy bay của giặc thả bom tới tấp, ngăn chặn bộ đội ta vận chuyển đạn vào Nam. Rồi những buổi biểu diễn trên chiến hào, phục vụ chiến sĩ trước giờ xuất kích. Những buổi biểu diễn không có ánh sáng nhưng cháy bỏng niềm tin và ấm áp tình đồng đội. Thời ấy, đi Cồn Cỏ tính mạng như treo đầu sợi tóc. Thế mà Bích Nồng đã vượt bom, vượt đạn, hai lần cùng đồng đội ra phục vụ các chiến sĩ giữ đảo. Bà là một trong những người đầu tiên của Trung đoàn 270 được kết nạp vào Đảng. Tuổi xuân của bà trôi đi trong khói lửa chiến tranh, để rồi lan truyền một câu vè của đoàn lính trẻ: “Vĩnh Giang có chị Bích Nồng, hai mươi tám tuổi chưa chồng vẫn vui”.
Tháng 4 năm 1969, tại Tân Kỳ (Nghệ An) đã tổ chức hội diễn văn nghệ quần chúng toàn Quân khu 4. Đang ở trạm 66, Bích Nồng được tuyển chọn vào đoàn nghệ thuật tổng hợp của quân khu ra Hà Nội phục vụ đồng bào và chiến sĩ Thủ đô. Và chuyến đi này đã để lại cho bà một kỷ niệm sâu sắc,, một niềm vinh hạnh lớn lao của đời nghệ sĩ.
Mới diễn được hơn mười đêm, trên có lệnh chọn năm diễn viên gồm Minh Huệ (văn công Quân khu 4), Mai Tư (Đội tuyên truyền văn hoá Nghệ An), Tuấn Mỹ (Đội tuyên truyền văn hoá Hà Tĩnh), Minh Lý (Đội tuyên truyên văn hoá Quảng Bình) và Bích Nồng (Đội tuyên truyền văn hoá Vĩnh Linh) luyện tập một số tiết mục dân ca để phục vụ khách trung ương. Năm chị em rối rít chuẩn bị. Vừa mừng vừa lo. Không biết sẽ được hát phục vụ cho vị khách nào. Chiều 7/5/1969, khi Thủ đô vừa lên đèn, một chiếc xe con đến đón năm chị em và đưa tới Phủ chủ tịch. Đồng chí Vũ Kỳ ra đón và bảo rằng: “Tối nay Bác cho phép năm cháu thay mặt cho lực lượng văn nghệ tuyến lửa Quân khu 4 vào thăm và hát cho Bác nghe một số làn điệu dân ca quê hương”. Ôi, cả năm người tưởng như trong mơ. Điều ao ước đến quá bất ngờ. Nhưng khi gặp Bác, cả năm cô gái đều bật khóc, vì thấy Bác sức khoẻ đã yếu mà đất nước đang ở vào những ngày cam go nhất. Bác cười hiền từ, ân cần hỏi han từng cháu. Nghe Bích Nồng kể chuyện Vĩnh Linh, gương chiến đấu và hy sinh của quân dân đôi bờ Bắc Nam sông Bến Hải, Bác xúc động rơi nước mắt. Thấy vậy, sợ Bác mệt, Bích Nồng không dám kể nữa, và hò cho Bác nghe một làn điệu ru con:
“À ơi... ru em, em ngủ cho ngoan
Để mẹ đi chợ bán rau bán chè”.
Vừa dứt câu hò, Bác nói ngay: “Cháu Nồng hò chưa đúng. Hồi nhỏ ở Huế, Bác đã nghe các mẹ, các chị ngân những chỗ ư ư ư dài chứ không ngắn như cháu đã hò. Và lời câu hò ấy là : Ru tam, tam théc cho muồi / để mạ đi chợ mua vôi ăn trầu / mua vôi chợ Quán chợ Cầu / mua cau Nam Phổ mua trầu chợ Dinh”. Người âu yến nhìn khắp lượt năm chị em và dặn: Hát dân ca khi gặp những bài bản cổ không nên pha trộn từ cũ với từ mới, phải hát đúng tiếng địa phương, từ nước phải hát là nác, ruộng phải gọi là roọng như thế mới thấy được cái hay, cái vốn cổ dân ca của dân tộc.
Những tưởng niềm hạnh phúc ấy chỉ đến được một lần thì chiều ngày 17/5/1969 cả năm cô gái của Quân khu 4 lại được Bác cho gọi và thăm và chúc thọ nhân ngày sinh lần thứ 79 của Người. Hôm ấy, Bác rất vui. Bác hỏi Bích Nồng chuyện bà con Vĩnh Linh bom đạn ác liệt rứa có sản xuất được không, có còn ăn cơm bữa diếp nữa không; rồi chuyện tiếp tế cho bộ đội đảo Cồn Cỏ... Nghe Bích Nồng thưa chuyện bà con Vĩnh Linh đã thoát cảnh cơm “bữa diếp”, đã có cơm, khoai, sắn ăn no; và bộ đội đảo Cồn Cỏ vâng lời Bác đã bắn hạ nhiều máy bay giặc Mỹ. Nghe thế, Bác vui lắm. Bác chúc quân dân Vĩnh Linh sản xuất, chiến đấu tốt để “năm châu khen ngợi Vĩnh Linh anh hùng”....
 

Cái đầu nóng nhưng cái tâm không được loạn

22/01/2014 lúc 15:16






G





ần 40 năm kể từ thủa tập tọng cầm bút cho đến nay tôi chưa hề viết một dòng có tính chất lý luận hay phê bình văn học, hoặc một cái gì đại loại thế. Lí do rất đơn giản. Tôi quan niệm, ngọn gió và cánh buồm có hai chức phận khác nhau. Gặp gió thuận chiều thì buồm lướt nhanh hơn. Còn lỡ như gặp khi không thuận, việc của buồm không phải là cản gió mà phải biết tự trở tay lèo để vượt lên.
Tuy nhiên gần đây tôi cảm thấy cách nghĩ đơn giản ấy của mình đã không còn ổn. Từ ngày đất nước mở cửa hội nhập, quá nhiều luồng gió thổi vào tạo nên những cơn lốc xoáy, có lúc gần như hỗn loạn. Liệu những người sáng tác có còn đủ bản lĩnh để xoay xở tay chèo?
Nếu như thế kỉ trước hai tiếng Độc lập là mục tiêu khát vọng cháy bỏng nhất của cả dân tộc, thì những năm tháng này Đổi mới lại trở thành nỗi niềm canh cánh, giục giã tất cả mọi con người, mọi công việc, mọi lĩnh vực.
Người sáng tạo văn học càng sốt ruột hơn. Bởi bản thân công việc sáng tạo tự nó muôn thủa đã hàm chứa nỗi khát khao đổi mới. Không một người cầm bút nào, kể cả những người đã gần đất xa trời mà lại thủ tiêu ước mơ đổi mới. Không nhà văn nào lại nói rằng mình muốn viết một cái giống như cái đã có của mình hoặc của người khác. Nhà sáng tác nào khi ngồi vào bàn cũng tràn đầy ý chí muốn viết một cái gì đó khác hẳn cái hôm qua, khác hẳn mọi người, không lặp lại bất cứ ai. Đương nhiên có làm được như thế không lại là chuyện khác.
Người làm lí luận phê bình cũng có khát vọng như vậy. Tôi chắc thế.
Nhưng tại sao có vẻ cả hai phía lại không hiểu được nhau? Tại sao một số nhà lí luận cứ nhất quyết quy cho một số đông các nhà văn là không chịu đổi mới. Tệ hơn, khi thấy các tác phẩm ra đời không tuân theo cái định hướng mà nhà lí luận đang o bế thì lập tức họ sổ toẹt? Có người đã kết luận xanh rờn : Các nhà văn Việt Nam không hề biết viết tiểu thuyết!
Tôi thật sự giật mình trước lời kết án đanh thép ấy, và cũng vì vậy mà cố lần dò theo từng trang viết của các nhà lí luận ấy để xem xem theo họ thì viết tiểu thuyết phải thế nào. Cuối cùng cũng ngã té ngửa ra. Có nhà đưa ra “khuôn mẫu”, tiểu thuyết hiện đại không cần đến chân dung nhân vật mà phải như ông Jon hay bà Jep ( thủa trước là ông ốp, ông ép), chỉ cần khái niệm nhân vật là X hay Y gì đó... Có nhà còn kêu lên khắc khoải: tại sao bao nhiêu tác phẩm hiện đại thế giới đã được dịch mà các nhà văn không chịu đọc, không chịu cách tân, tại sao lại cứ cặm cụi kể chuyện …Có nhà đưa ra “môtíp” nội dung của văn học Việt Nam ngày nay phải là một cuộc sống vô nghĩa, một xã hội vô hồn, một cảm giác phi lí…Có nhà tụng ca một vài truyện ngắn của một nhà văn coi đó như là vệt khai sáng của văn chương đổi mới, rằng phải đạp đổ tảng đá truyền thống, xé toang mọi ràng buộc tổ tiên, phải ghê tởm cái gọi là bản sắc và đạo lí dân tộc .
Phạm vi bài viết này tôi chưa tranh luận trực tiếp chuyện đúng sai của những luận điểm ấy. Tôi chỉ muốn hỏi các nhà kia rằng, tại sao trong lúc gào thét kêu gọi người sáng tác phải đổi mới, không được lặp lại cái cũ, thì các nhà lí luận ấy lại mang những “trường phái” “chủ nghĩa” đã cũ rích của thế giới ra làm bài giảng định hướng? Tất cả những hình mẫu nói ở trên chẳng phải đã thấy ở Jang-pon-sac, ở Cap-kaz, và nhiều bậc hiện sinh của một thời xa xăm rồi sao? Ngay cả cái gọi là hậu hiện đại, tân hình thức cũng là chuyện thế giới có từ nhiều thập kỉ trước. Tôi chưa hề có thái độ chê bai, phủ định các trào lưu đó. Nhưng tại sao Văn học Việt Nam hôm nay cứ phải nhặng lên vì những thứ ấy? Những nhà hiện sinh chủ nghĩa rất vĩ đại. Những phát kiến của họ có giá trị nhất định trong thời đại họ sống. Thì cũng như chủ nghĩa hiện thực XHCN đó thôi. Cái gì cũng có yếu tố lịch sử.
Ai quyết định cho phép sự tồn tại hay cần phải thải loại các phát minh vĩ đại ấy. Chắc chắn không phải là ý chí của một nhóm người mà chính là trí khôn của số đông người tiêu thụ sản phẩm. Cộng đồng các quốc gia và loài người trên toàn thế giới đủ bình tĩnh để nhận mặt cái gì là có ích lâu dài, cái gì buộc phải trở thành rác thải....
 

Nhận thức lý luận là quá trình vừa định hướng vừa cởi mở

17/04/2014 lúc 14:47






Đ





ọc lại Đề cương văn hoá Việt Nam năm - 1943 cho đến Văn kiện Hội nghị BCH Trung ương ( Khoá VIII -1998) và gần đây là Nghị quyết của Bộ chính trị về Xây dựng và phát triển văn học, nghẹ thuật trong thời kỳ mới( gọi tắt là Nghị quyết 23-2008), chúng tôi thấy nhận thức lý luận của Đảng mang tính định hướng cho từng giai đoạn lịch sử, vừa đa dạng hoá, hiện đại hoá trong tư duy lý luận. Điều đó không có gì lạ, bởi đời sống lý luận nào mà thiếu “dấu chân thực tiển”; ngược lại thực tiển sáng tạo sẽ phát triển nghiêng ngã, nếu thiếu sự cách tân trong đường lối, luận điểm, luận đề triết mỹ. Người viết bài này xin trao đổi ba vấn đề hiện đang có sự khác nhau hoặc thiếu hụt trong quá trình sáng tạo, nhất là ở một số văn nghệ sĩ trẻ; biết đâu có ích cho nhiều phía: Nhà quản lý, nhà lý luận, nhà sáng tác và bạn đọc.
I.Văn kiện đường lối văn hoá và tác phẩm lý luận văn nghệ.
Văn kiện đường lối của Đảng Cộng Sản Việt Nam về văn hoá là kết tinh trí tuệ, tri thức,minh triết của một tập thể nhà lãnh đạo, nhà khoa học, tổng kết một giai đoạn lịch sử, kế thừa những tinh hoa, giá trị truyền thống, đề xuất những nội dung mới tương ứng với yêu cầu của thời đại. Văn kiện đường lối văn hoá là nền tảng của nhiều lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn: đạo đức, pháp luật, giáo giục, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, báo chí , thông tin và truyền thông vv… Ph.Ăngghen nói: “Các nhà triết học muốn làm gì thì làm, họ vẫn bị triết học thống trị”. Trong văn cảnh cụ thể của câu nói ứng dụng vào lĩnh vực nghệ thuật: văn chương, sân khấu, âm nhạc, hội hoạ, điện ảnh, chính luận và nhiều loại hình mới ra đời trong thời hậu hiện đại đều chịu sự chi phối của triết học. Hiện nay trong nhận thức của một số nhà lý luận văn nghệ có mấy điều chưa ổn. Một là, đem đường lối văn hoá đồng nhất với ý thức hệ. Không phải! Làm như vậy là vừa thu hẹp đường lối vừa làm khó cho nhà sáng tạo. Đường lối văn hoá rộng hơn ý thức hệ. Ví dụ: Trong Đề cương văn hoá 1943đường lối được thể hiện ở ba lĩnh vực: tư tưởng, học thuật, nghệ thuật. Từ đó đến nay ba nội dung trên vẫn có giá trị, vẫn mang ý nghĩa thực tiển. Nhưng những nguy cơ văn hoá Việt Nam dưới ách phát xít Nhật – Pháp thì bị thời đại vượt qua. Nhiệm vụ của những nhà văn hoá mácxít cũng có nhiều điểm không cần thiết cho đời sống văn nghệ hôm nay. Các thể chế chính trị rồi sẽ qua đi cùng lịch sử,  nhưng tính dân tộc, tính khoa học, tính nhân dân thì sẽ trường tồn. Hai là, không thể đặt đường lối văn hoá, các tác phẩm bất hủ có tính cương lĩnh cùng hàng với những tác phẩm lý luận văn nghệ. Hịch Tướng Sĩ, Bình Ngô Đại Cáo, Hịch Tây Sơn, Tuyên ngôn độc lập vv…là những tinh hoa văn hiến, là văn bản triết học cao nhất đương thời với nội hàm bao chứa nhiều lĩnh vực: lịch sử, chính trị, kinh tế- xã hội, văn hoá, có những giá trị Chân, Thiện, Mỹ của cả dân tộc. Ở đây không có chuyện đặt lại câu hỏi những tác phẩm triết học- chính luận nói trên có phải là tác phẩm lý luận không? nếu ai đó nghĩ và viết như vậy, thật ngây thơ! Nghị quyết TW V(khoá VIII) về Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc mở đầu bằng sự khái quát hoá truyền thống nhân văn của tiến trình dân tộc dựng nước và giữ nước: “ Văn hoá Việt Nam là thành quả hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam…, đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách bản lĩnhViệt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc”. Nó bao chứa ít nhất là sáu lĩnh vực: tư tưởng đạo đức lối sống; giáo dục khoa học; văn học nghệ thuật; thông tin đại chúng; giao lưu văn hoá. Nói Nghị quyết TW V là một văn bản triết học, bởi ngoài những giá trị lý luận văn hoá, ý nghĩa thực tiển, còn có lượng thông tin rộng, tính dự báo cao phản ánh đường lối chính trị- xã hội vĩ mô qua gần 15 năm đổi mới.
Còn những tiểu luận của những nhà lãnh đạo cấp cao vốn là những nhà văn hoá lớn về đề tài văn hoá- nghệ thuật như Chủ nghĩa Mác và vấn đề văn hoá Việt Nam(1944) của Trường Chinh; Hiểu biết khám phá và sáng tạo phục vụ Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội, Giữ gìn trong sáng tiếng Việt(1966)của Phạm Văn Đồng. Và nhiều tác phẩm khác nữa là những tác phẩm lý luận văn nghệ xuất sắc, bởi vì trong đó các tác giả đã tổng kết những vấn đề lớn của thế giới và trong nước có ảnh hưởng đến đời sống sáng tạo văn nghệ, lượng thông tin nhiều, tính dự báo những “điều có thể xảy ra” với những giá trị tu từ của lối diễn đạt. Bàn về sức tưởng tượng của người nghệ sĩ, Trường Chinh viết: “ Văn nghệ không mơ tưởng khác nào con chim không cánh, cái thuyền không buồm, tưởng tượng có tính sáng tạo của người làm văn nghệ ít nhiều mang tính chất lãng mạn cách mạng…Không tưởng tượng sao được! Xuất phát từ đời sống thực tế và dựa vào quy luật phát triển khách quan của sự vật, trí tưởng tượng của ta có thể đi trước hiện thực một vài bước và nâng đời sống thực tế vươn lên”(1). Nói về cái giàu và cái đẹp của tiếng Việt, sau khi đánh giá rất cao ca dao và Truyện Kiều, coi đó là những viên ngọc quý, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng viết: “ Cái tinh hoa đặc sắc và đọc đáo của tiếng Việt được thể hiện ở nhiều câu thơ vừa là hoạ vừa là nhạc, ví dụ như câu thơ Nguyễn Du tả Từ Hải…..Tiếng Việt hiện nay có khả năng rất lớn…để diễn tả đời sống tư tưởng và tình cảm ngày phong phú, đẹp đẽ của dân tộc ta. Bản thân nó đã giàu, nó lại còn có khả năng biến hoá vô cùng, nếu chúng ta biết giữ nó, dùng nó, phát triển nó”(2)....

Con ngựa trong một số tác phẩm nổi tiếng

26/05/2014 lúc 09:05






Đ





ã từ lâu, con ngựa gắn bó với con người, giúp con người tăng tốc độ, kiếm sống, đánh trận và tăng thêm vẻ đẹp cho con người nên hình ảnh con ngựa đã được thể hiện đậm nét trong nhiều tác phẩm văn học nổi tiếng như con ngựa Rốt-xi-năng trong tiểu thuyết Đông-ki-sốt, ngựa Ô Chùy của Hạng Võ, Xích Thố của Quan Vân Trường…gần gũi hơn với người đọc Việt Nam là con ngựa sắt trong truyện Thánh Gióng – con ngựa bay lên trời sau khi đánh thắng giặc ngoại xâm!.
Tuy vây, những con ngựa vừa kể chỉ được thể hiện như là phương tiện, là vật trang sức cho con người. Trong văn học Việt Nam hiện đại có hai truyện ngắn đã thể hiện con ngựa như là một “nhân vật” có máu thịt, có tình cảm đến mức, khi nó phải vĩnh biệt cõi đời, hẳn không ít độc giả đã rơi nước mắt.
 
Truyện thứ nhất là của cây đại thụ trong làng văn Việt Nam: nhà văn Nguyễn Công Hoan. Truyện có tựa đề: Con ngựa già viết năm 1938. Ông kể lại một kỷ niệm hồi nhỏ, khi có dịp quan sát con ngựa ô của quan huyện đã mua lại của một ông Tây. “Vì lẽ đó nó cũng có tên là ngựa tây…Nó không hiền lành như ngựa ta. Nó dữ, khỏe mạnh và hung hăng lắm.() Nó đã cắn đã đá cho nhiều người lính hầu cai quản nó, thậm chí có lần nó đánh đổ xe khiến bà quan huyện lăn kềnh. Chỉ riêng với ông huyện là nó chịu thuần phục và đã mấy lần cứu ông thoát nạn…Đó là những câu chuyện tác giả nghe kể lại, còn “cao trào” hoặc là điểm thắt nút của truyện là cảnh mấy người lính chôn sống con ngựa, khi nó về già, đau ốm. Đau đớn hơn là do cái huyệt đào ngắn và cạn...

Một kho báu trong gia tài phi vật thể Quảng Trị

26/05/2014 lúc 09:04

I- Lần theo dấu vết cội nguồn:
Nhìn một cách tổng thể thì gia sản của văn hóa vùng đất Quảng Trị (cả vật thể và phi vật thể) hầu như đủ đầy vốn liếng không thua kém bất cứ vùng đất nào. Trong tay chúng ta, những gì đã sưu tầm được từ những văn hóa tiền sơ sử, văn hóa Sa huỳnh, văn hóa Chăm.v.v...cái gì cũng có. Điều đó nói lên rằng, gia đình dân tộc Việt Nam từ xa xưa đã sẵn có sự giao hòa, đã mang sẵn khát vọng hội tụ và rằng người Quảng Trị từ tổ tiên, cụ kỵ đến nay, bao giờ cũng cởi mở, chan hòa, rất xa lạ với tư tưởng khép kín, bảo thủ... Nhưng cũng như con người ta sống trên đời, mỗi người có riêng một thế mạnh. Thế mạnh không phải là cái duy nhất, nhưng là cái mà con người ấy, mảnh đất ấy dám đặt ra trước bàn dân thiên hạ để chứng tỏ mình. Trong văn hóa, thế mạnh chính là bản ngã.
Thế mạnh về văn hóa, có khi, có nơi là do trời ban. Trời nói ở đây chính là sự ngẫu nhiên của lịch sử trong cái thế tất nhiên của địa chính trị và địa lịch sử. "Nếu lịch sử chọn ta làm điểm tựa..." Nhà thơ lớn đã nói vậy nhiều lần.
 
Chúng ta hãy sơ bộ lược qua xem lịch sử chọn mảnh đất Quảng Trị làm điểm tựa như thế nào? Vũ trụ sinh ra đất đai và sinh ra con người để mà sống mà khai phá và làm nên những giá trị văn hóa trường cữu cho trái đất. Ấy là lẽ công bằng đầu tiên của tạo hóa. Mảnh đất Quảng Trị được sinh ra như thế. Và những tộc người trên đất Quảng Trị như Môn-khơ me (Tổ ông của Vân Kiều, Pacô), những nhóm người thuộc ngữ hệ Mã lai Đa đảo...

Băn khoăn văn chương năm đầu thế kỷ

26/05/2014 lúc 09:03






V





ài năm trở lại đây, thực trạng văn học đang làm cho nhiều người băn khoăn tự hỏi: Tại sao điều chúng ta mong đợi về một sự bứt phá của văn chương vẫn le lói ở đâu đó phía chân trời? Và như đang có một nghịch lý: Nếu tính theo đầu tác phẩm, trong những năm tháng này, có thể chúng ta đâu dễ kém ai, còn nếu tính theo chất lượng tác phẩm thì không phải lúc nào chúng ta cũng có thể mỉm cười và trong nhiều trường hợp, đôi khi lại còn rầu lòng nhăn nhó. Như một thống kê có tính chất tư liệu, trong năm 2000, 43 nhà sản xuất trong cả nước đã cho trình làng 10.777 đầu sách với tổng số 180 triệu bản, trong đó, văn học nghệ thuật 2.610 đầu sách. Một con số quả còn quá khiêm tốn, nhưng nó lại cho phép nhận diện một thực tế rằng sách vở văn chương đâu đến mức hiếm hoi. Chỉ hiềm một nỗi, nhà văn vẫn sáng tác, văn chương vẫn ra lò, các cửa hàng sách tự chọn vẫn tấp nập khai trương...còn nhiều người thì lượn qua quầy sách văn học như lượn qua một thế giới khác mình!
 
Thống kê trong phạm vi cá nhân, đã có hàng trăm cuốn tiểu thuyết được xuất bản để tham gia cuộc thi tiểu thuyết của Hội Nhà văn và hầu như cuốn nào cũng khiêm tốn dừng lại ở con số 1000 bản cho một lần phát hành. Nói tới số lượng phát hành, trong giới hạn của nó, chỉ nhằm nói tới tỉ lệ quá chênh lệch  giữa tiểu thuyết với một thị trường sách khổng lồ có hàng triệu bản ra đời trong cả năm để dễ cảm thông cho các nhà văn. Và như một hệ lụy của thời đại công nghiệp, người đọc bây giờ đang tỏ ra không thích thú với những tác phẩm dài hơi...

Để hiểu đúng câu Kiều về chữ

22/01/2014 lúc 14:52






C





ó một câu Kiều không dùng đến điển tích, không cần phải chú giải mà ai cũng dễ dàng hiểu được, đó là câu: “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Nhưng không phải câu Kiều tưởng dễ dàng hiểu được này hoàn toàn được hiểu đúng thần thái thâm hậu của nó trong bất kỳ mọi nơi, mọi lúc, trong những dịp “lẩy Kiều”. Những người có “chữ tâm” đích thực trong đời này không phải là ít và hết thảy họ đều yêu mến, nâng niu câu Kiều nhân nghĩa lung linh này. Nhưng những người nhân danh “chữ tâm” lại cũng không phải là ít và đôi khi “chữ tâm” nhân danh này bị đem đối lập với chữ tài. Và như thế chữ tài lại bị dè bỉu, bị đố kỵ. Và như thế hai chữ “tâm, tài” tương đố. Ngày xưa, khi viết Truyện Kiều để chứng minh cho thuyết “tài mệnh tương đố” (“Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”), Nguyễn Du đã không ngờ đến cái tình cảnh “tâm, tài tương đố” này.
Thực ra, đại thi hào Nguyễn Du chỉ đem chữ tài đối lập với chữ mệnh chứ chưa hề đem chữ tài đối lập với chữ tâm bao giờ cả. Không đối lập hai chữ “tâm-tài” nhưng lại bảo: “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”, “rắc rối” chữ nghĩa là ở chỗ đó. Chẳng lẽ Nguyễn Du viết đến 3254 câu thần bút để ca ngợi một trang tuyệt thế về Tài-Tình-Sắc như Thuý Kiều mà lại đi dè bỉu “chữ tài” chăng? Hoàn toàn không, chữ tài trong cách hiểu của Nguyễn Du cũng như của cổ nhân là đã bao hàm cả chữ tâm, chữ đức ở trong đó nữa. Chả thế mà cha ông ta đã từng quý trọng, nâng niu hai chữ “hiền tài” và chính người tài là bậc hiền nhân ở đời cho nên phải “chiêu hiền đãi sĩ” (trong câu thành ngữ này thì chữ hiền chính là chữ tài, hai chữ từ chỗ gắn kết nhau đã trở nên đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa). Thuý Kiều, nhân vật chính của Truyện Kiều mà Nguyễn Du đã thác ngụ trọn vẹn tư tưởng nghệ thuật tuyệt diệu của mình, Thuý Kiều, về nhiều mặt lại chính là một phiên bản đắt giá về “cái tôi” của Nguyễn Du, nhân vật ấy có đủ hai chữ tâm, tài gắn kết nhau (thực ra, hai chữ tâm, tài trong hình tượng nghệ thuật Thuý Kiều là không thể chia cắt nhau được, có chia cắt là chia cắt tương đối theo lô gích hình thức thôi chứ không chia cắt được trong lô gích nghệ thuật và trong “phép biện chứng” của Nguyễn Du). Bảo chứng cho phẩm hạnh Thuý Kiều quả không có gì đáng giá hơn lời khen, lời đánh giá của các vị cao tăng. Sư Giác Duyên khen:
“Người sao hiếu nghĩa đủ đường
Kiếp sao rặt những đoạn trường thế thôi”
Sư Tam Hợp đạo cô khen cả hai chữ tài, chữ tình gắn kết nhau trong con người Thuý Kiều:
“Thuý Kiều sắc sảo khôn ngoan
Vô duyên là phận hồng nhan đã đành
Lại mang lấy một chữ tình
Khư khư mình buộc lấy mình vào trong”
hoặc:
“Lấy tình thâm trả nghĩa thâm
Bán mình đã động hiếu tâm đến trời”
Không riêng gì các vị sư đạo cao đức dày mà ngay cả đến những kẻ thù của Thuý Kiều, những kẻ từng đày đoạ, hành hạ Thuý Kiều đến độ vùi hoa, dập liễu không xót tay, những kẻ ấy không những không dè bỉu mà còn vô cùng nể trọng một Thuý Kiều tài tình quá đỗi. Hoạn Thư nhiều lần khen ngợi cái tài của Thuý Kiều giá đáng nghìn vàng:...
 

« 4243444546 »

Tạp chí số cũ
Dự thảo
tư tưởng Hồ Chí Minh
Du Lịch Quảng Trị

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

26/09

25° - 27°

Mưa

27/09

24° - 26°

Mưa

28/09

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground