Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 04/12/2020 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Văn hóa thời đại

Người hát dân ca cuối dòng Bến Hải

22/01/2014 lúc 15:17







L





ê Thị Bích Nồng tuy cũng là người Vĩnh Giang, nhưng không phải là người làng Tùng để mà tự hào với câu vè truyền tụng: “Văn chương Xuân Mỹ, lý sự Thuỷ Khê, Làm thuê Cẩm Phổ...chèo cạn làng Tùng...”. Bà người thôn Cổ Trai Đông, sát bên làng Tùng Luật. Cũng là một làng quê đơn sơ mà xinh đẹp nằm cuối dòng  Bến Hải mang vị mặn của biển. Cha mẹ của bà đều là những người đam mê ca hát, họ hò hát đối đáp với nhau mà nên vợ nên chồng.
Thời chống Pháp, Bích Nồng - một cô bé mới mười hai tuổi là đội viên đội truyền tin của xã. Học đến lớp 7 thì nghĩ học vì mẹ ốm, phải ở nhà trông em và giúp đỡ việc nhà. Hoà bình lập lại, đất nước chia đôi. Những năm chưa khoá tuyến (1954 - 1956) Bích Nồng trong đội văn nghệ xã Vĩnh Giang thường theo đàn chị Châu Loan biểu diễn trên sông phục vụ đồng bào bờ Nam và làm công tác địch vận. Năm 1960, bà tham gia Đội văn nghệ công an vũ trang Vĩnh Linh (D.41) biểu diễn phục vụ cho các chiến sĩ và đồng bào từ Vịnh Mốc lên đến Giàng Phao, Hói Cụ. Trong lòng dân vẫn còn lưu giữ hình ảnh những người nghệ sĩ đã một thời đồng cam cộng khổ, đem tiếng hát phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng.
Năm 1967, Bích Nồng chuyển sang làm chiến sĩ của “Đội tuyên truyền văn hoá Trung đoàn 270” bảo vệ giới tuyến (Người dân thường gọi là Đoàn văn công Khu đội Vĩnh Linh). Với giọng hò trời phú, trong trẻo, ngân rung như giọng của Châu Loan, những buổi đi làm địch vận, giọng hò của Bích Nồng đã góp phần cảm hoá tâm hồn những người lính bên kia chiến tuyến. Theo lão nghệ nhân Ái Chủng - nguyên phó trưởng Đoàn văn công khu đội: “Nếu gọi loa đọc chủ trương đương lối thì địch bắn pháo dữ dội để át đi tiếng tuyên truyền. Nhưng khi Bích Nồng cất lên giọng hò: Bước tới Hiền Lương sao chặn đường nghẹn lại / Đáo tới bờ Bến Hải sao gác mái tình duyên...ơ...hờ... thì bọn địch im re để mà nghe”.
Đoàn văn công Khu đội Vĩnh Linh có nhiều lần vượt sông sang bờ Nam phục vụ đồng bào ở Trung Giang và các chiến sĩ tiểu đoàn 47. Tết Mậu Thân 1968, Bích Nồng và đồng đội suýt chết tại bến đò Xuân Mỵ khi máy bay của giặc thả bom tới tấp, ngăn chặn bộ đội ta vận chuyển đạn vào Nam. Rồi những buổi biểu diễn trên chiến hào, phục vụ chiến sĩ trước giờ xuất kích. Những buổi biểu diễn không có ánh sáng nhưng cháy bỏng niềm tin và ấm áp tình đồng đội. Thời ấy, đi Cồn Cỏ tính mạng như treo đầu sợi tóc. Thế mà Bích Nồng đã vượt bom, vượt đạn, hai lần cùng đồng đội ra phục vụ các chiến sĩ giữ đảo. Bà là một trong những người đầu tiên của Trung đoàn 270 được kết nạp vào Đảng. Tuổi xuân của bà trôi đi trong khói lửa chiến tranh, để rồi lan truyền một câu vè của đoàn lính trẻ: “Vĩnh Giang có chị Bích Nồng, hai mươi tám tuổi chưa chồng vẫn vui”.
Tháng 4 năm 1969, tại Tân Kỳ (Nghệ An) đã tổ chức hội diễn văn nghệ quần chúng toàn Quân khu 4. Đang ở trạm 66, Bích Nồng được tuyển chọn vào đoàn nghệ thuật tổng hợp của quân khu ra Hà Nội phục vụ đồng bào và chiến sĩ Thủ đô. Và chuyến đi này đã để lại cho bà một kỷ niệm sâu sắc,, một niềm vinh hạnh lớn lao của đời nghệ sĩ.
Mới diễn được hơn mười đêm, trên có lệnh chọn năm diễn viên gồm Minh Huệ (văn công Quân khu 4), Mai Tư (Đội tuyên truyền văn hoá Nghệ An), Tuấn Mỹ (Đội tuyên truyền văn hoá Hà Tĩnh), Minh Lý (Đội tuyên truyên văn hoá Quảng Bình) và Bích Nồng (Đội tuyên truyền văn hoá Vĩnh Linh) luyện tập một số tiết mục dân ca để phục vụ khách trung ương. Năm chị em rối rít chuẩn bị. Vừa mừng vừa lo. Không biết sẽ được hát phục vụ cho vị khách nào. Chiều 7/5/1969, khi Thủ đô vừa lên đèn, một chiếc xe con đến đón năm chị em và đưa tới Phủ chủ tịch. Đồng chí Vũ Kỳ ra đón và bảo rằng: “Tối nay Bác cho phép năm cháu thay mặt cho lực lượng văn nghệ tuyến lửa Quân khu 4 vào thăm và hát cho Bác nghe một số làn điệu dân ca quê hương”. Ôi, cả năm người tưởng như trong mơ. Điều ao ước đến quá bất ngờ. Nhưng khi gặp Bác, cả năm cô gái đều bật khóc, vì thấy Bác sức khoẻ đã yếu mà đất nước đang ở vào những ngày cam go nhất. Bác cười hiền từ, ân cần hỏi han từng cháu. Nghe Bích Nồng kể chuyện Vĩnh Linh, gương chiến đấu và hy sinh của quân dân đôi bờ Bắc Nam sông Bến Hải, Bác xúc động rơi nước mắt. Thấy vậy, sợ Bác mệt, Bích Nồng không dám kể nữa, và hò cho Bác nghe một làn điệu ru con:
“À ơi... ru em, em ngủ cho ngoan
Để mẹ đi chợ bán rau bán chè”.
Vừa dứt câu hò, Bác nói ngay: “Cháu Nồng hò chưa đúng. Hồi nhỏ ở Huế, Bác đã nghe các mẹ, các chị ngân những chỗ ư ư ư dài chứ không ngắn như cháu đã hò. Và lời câu hò ấy là : Ru tam, tam théc cho muồi / để mạ đi chợ mua vôi ăn trầu / mua vôi chợ Quán chợ Cầu / mua cau Nam Phổ mua trầu chợ Dinh”. Người âu yến nhìn khắp lượt năm chị em và dặn: Hát dân ca khi gặp những bài bản cổ không nên pha trộn từ cũ với từ mới, phải hát đúng tiếng địa phương, từ nước phải hát là nác, ruộng phải gọi là roọng như thế mới thấy được cái hay, cái vốn cổ dân ca của dân tộc.
Những tưởng niềm hạnh phúc ấy chỉ đến được một lần thì chiều ngày 17/5/1969 cả năm cô gái của Quân khu 4 lại được Bác cho gọi và thăm và chúc thọ nhân ngày sinh lần thứ 79 của Người. Hôm ấy, Bác rất vui. Bác hỏi Bích Nồng chuyện bà con Vĩnh Linh bom đạn ác liệt rứa có sản xuất được không, có còn ăn cơm bữa diếp nữa không; rồi chuyện tiếp tế cho bộ đội đảo Cồn Cỏ... Nghe Bích Nồng thưa chuyện bà con Vĩnh Linh đã thoát cảnh cơm “bữa diếp”, đã có cơm, khoai, sắn ăn no; và bộ đội đảo Cồn Cỏ vâng lời Bác đã bắn hạ nhiều máy bay giặc Mỹ. Nghe thế, Bác vui lắm. Bác chúc quân dân Vĩnh Linh sản xuất, chiến đấu tốt để “năm châu khen ngợi Vĩnh Linh anh hùng”....
 

Cái đầu nóng nhưng cái tâm không được loạn

22/01/2014 lúc 15:16






G





ần 40 năm kể từ thủa tập tọng cầm bút cho đến nay tôi chưa hề viết một dòng có tính chất lý luận hay phê bình văn học, hoặc một cái gì đại loại thế. Lí do rất đơn giản. Tôi quan niệm, ngọn gió và cánh buồm có hai chức phận khác nhau. Gặp gió thuận chiều thì buồm lướt nhanh hơn. Còn lỡ như gặp khi không thuận, việc của buồm không phải là cản gió mà phải biết tự trở tay lèo để vượt lên.
Tuy nhiên gần đây tôi cảm thấy cách nghĩ đơn giản ấy của mình đã không còn ổn. Từ ngày đất nước mở cửa hội nhập, quá nhiều luồng gió thổi vào tạo nên những cơn lốc xoáy, có lúc gần như hỗn loạn. Liệu những người sáng tác có còn đủ bản lĩnh để xoay xở tay chèo?
Nếu như thế kỉ trước hai tiếng Độc lập là mục tiêu khát vọng cháy bỏng nhất của cả dân tộc, thì những năm tháng này Đổi mới lại trở thành nỗi niềm canh cánh, giục giã tất cả mọi con người, mọi công việc, mọi lĩnh vực.
Người sáng tạo văn học càng sốt ruột hơn. Bởi bản thân công việc sáng tạo tự nó muôn thủa đã hàm chứa nỗi khát khao đổi mới. Không một người cầm bút nào, kể cả những người đã gần đất xa trời mà lại thủ tiêu ước mơ đổi mới. Không nhà văn nào lại nói rằng mình muốn viết một cái giống như cái đã có của mình hoặc của người khác. Nhà sáng tác nào khi ngồi vào bàn cũng tràn đầy ý chí muốn viết một cái gì đó khác hẳn cái hôm qua, khác hẳn mọi người, không lặp lại bất cứ ai. Đương nhiên có làm được như thế không lại là chuyện khác.
Người làm lí luận phê bình cũng có khát vọng như vậy. Tôi chắc thế.
Nhưng tại sao có vẻ cả hai phía lại không hiểu được nhau? Tại sao một số nhà lí luận cứ nhất quyết quy cho một số đông các nhà văn là không chịu đổi mới. Tệ hơn, khi thấy các tác phẩm ra đời không tuân theo cái định hướng mà nhà lí luận đang o bế thì lập tức họ sổ toẹt? Có người đã kết luận xanh rờn : Các nhà văn Việt Nam không hề biết viết tiểu thuyết!
Tôi thật sự giật mình trước lời kết án đanh thép ấy, và cũng vì vậy mà cố lần dò theo từng trang viết của các nhà lí luận ấy để xem xem theo họ thì viết tiểu thuyết phải thế nào. Cuối cùng cũng ngã té ngửa ra. Có nhà đưa ra “khuôn mẫu”, tiểu thuyết hiện đại không cần đến chân dung nhân vật mà phải như ông Jon hay bà Jep ( thủa trước là ông ốp, ông ép), chỉ cần khái niệm nhân vật là X hay Y gì đó... Có nhà còn kêu lên khắc khoải: tại sao bao nhiêu tác phẩm hiện đại thế giới đã được dịch mà các nhà văn không chịu đọc, không chịu cách tân, tại sao lại cứ cặm cụi kể chuyện …Có nhà đưa ra “môtíp” nội dung của văn học Việt Nam ngày nay phải là một cuộc sống vô nghĩa, một xã hội vô hồn, một cảm giác phi lí…Có nhà tụng ca một vài truyện ngắn của một nhà văn coi đó như là vệt khai sáng của văn chương đổi mới, rằng phải đạp đổ tảng đá truyền thống, xé toang mọi ràng buộc tổ tiên, phải ghê tởm cái gọi là bản sắc và đạo lí dân tộc .
Phạm vi bài viết này tôi chưa tranh luận trực tiếp chuyện đúng sai của những luận điểm ấy. Tôi chỉ muốn hỏi các nhà kia rằng, tại sao trong lúc gào thét kêu gọi người sáng tác phải đổi mới, không được lặp lại cái cũ, thì các nhà lí luận ấy lại mang những “trường phái” “chủ nghĩa” đã cũ rích của thế giới ra làm bài giảng định hướng? Tất cả những hình mẫu nói ở trên chẳng phải đã thấy ở Jang-pon-sac, ở Cap-kaz, và nhiều bậc hiện sinh của một thời xa xăm rồi sao? Ngay cả cái gọi là hậu hiện đại, tân hình thức cũng là chuyện thế giới có từ nhiều thập kỉ trước. Tôi chưa hề có thái độ chê bai, phủ định các trào lưu đó. Nhưng tại sao Văn học Việt Nam hôm nay cứ phải nhặng lên vì những thứ ấy? Những nhà hiện sinh chủ nghĩa rất vĩ đại. Những phát kiến của họ có giá trị nhất định trong thời đại họ sống. Thì cũng như chủ nghĩa hiện thực XHCN đó thôi. Cái gì cũng có yếu tố lịch sử.
Ai quyết định cho phép sự tồn tại hay cần phải thải loại các phát minh vĩ đại ấy. Chắc chắn không phải là ý chí của một nhóm người mà chính là trí khôn của số đông người tiêu thụ sản phẩm. Cộng đồng các quốc gia và loài người trên toàn thế giới đủ bình tĩnh để nhận mặt cái gì là có ích lâu dài, cái gì buộc phải trở thành rác thải....
 

Nhận thức lý luận là quá trình vừa định hướng vừa cởi mở

17/04/2014 lúc 14:47






Đ





ọc lại Đề cương văn hoá Việt Nam năm - 1943 cho đến Văn kiện Hội nghị BCH Trung ương ( Khoá VIII -1998) và gần đây là Nghị quyết của Bộ chính trị về Xây dựng và phát triển văn học, nghẹ thuật trong thời kỳ mới( gọi tắt là Nghị quyết 23-2008), chúng tôi thấy nhận thức lý luận của Đảng mang tính định hướng cho từng giai đoạn lịch sử, vừa đa dạng hoá, hiện đại hoá trong tư duy lý luận. Điều đó không có gì lạ, bởi đời sống lý luận nào mà thiếu “dấu chân thực tiển”; ngược lại thực tiển sáng tạo sẽ phát triển nghiêng ngã, nếu thiếu sự cách tân trong đường lối, luận điểm, luận đề triết mỹ. Người viết bài này xin trao đổi ba vấn đề hiện đang có sự khác nhau hoặc thiếu hụt trong quá trình sáng tạo, nhất là ở một số văn nghệ sĩ trẻ; biết đâu có ích cho nhiều phía: Nhà quản lý, nhà lý luận, nhà sáng tác và bạn đọc.
I.Văn kiện đường lối văn hoá và tác phẩm lý luận văn nghệ.
Văn kiện đường lối của Đảng Cộng Sản Việt Nam về văn hoá là kết tinh trí tuệ, tri thức,minh triết của một tập thể nhà lãnh đạo, nhà khoa học, tổng kết một giai đoạn lịch sử, kế thừa những tinh hoa, giá trị truyền thống, đề xuất những nội dung mới tương ứng với yêu cầu của thời đại. Văn kiện đường lối văn hoá là nền tảng của nhiều lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn: đạo đức, pháp luật, giáo giục, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, báo chí , thông tin và truyền thông vv… Ph.Ăngghen nói: “Các nhà triết học muốn làm gì thì làm, họ vẫn bị triết học thống trị”. Trong văn cảnh cụ thể của câu nói ứng dụng vào lĩnh vực nghệ thuật: văn chương, sân khấu, âm nhạc, hội hoạ, điện ảnh, chính luận và nhiều loại hình mới ra đời trong thời hậu hiện đại đều chịu sự chi phối của triết học. Hiện nay trong nhận thức của một số nhà lý luận văn nghệ có mấy điều chưa ổn. Một là, đem đường lối văn hoá đồng nhất với ý thức hệ. Không phải! Làm như vậy là vừa thu hẹp đường lối vừa làm khó cho nhà sáng tạo. Đường lối văn hoá rộng hơn ý thức hệ. Ví dụ: Trong Đề cương văn hoá 1943đường lối được thể hiện ở ba lĩnh vực: tư tưởng, học thuật, nghệ thuật. Từ đó đến nay ba nội dung trên vẫn có giá trị, vẫn mang ý nghĩa thực tiển. Nhưng những nguy cơ văn hoá Việt Nam dưới ách phát xít Nhật – Pháp thì bị thời đại vượt qua. Nhiệm vụ của những nhà văn hoá mácxít cũng có nhiều điểm không cần thiết cho đời sống văn nghệ hôm nay. Các thể chế chính trị rồi sẽ qua đi cùng lịch sử,  nhưng tính dân tộc, tính khoa học, tính nhân dân thì sẽ trường tồn. Hai là, không thể đặt đường lối văn hoá, các tác phẩm bất hủ có tính cương lĩnh cùng hàng với những tác phẩm lý luận văn nghệ. Hịch Tướng Sĩ, Bình Ngô Đại Cáo, Hịch Tây Sơn, Tuyên ngôn độc lập vv…là những tinh hoa văn hiến, là văn bản triết học cao nhất đương thời với nội hàm bao chứa nhiều lĩnh vực: lịch sử, chính trị, kinh tế- xã hội, văn hoá, có những giá trị Chân, Thiện, Mỹ của cả dân tộc. Ở đây không có chuyện đặt lại câu hỏi những tác phẩm triết học- chính luận nói trên có phải là tác phẩm lý luận không? nếu ai đó nghĩ và viết như vậy, thật ngây thơ! Nghị quyết TW V(khoá VIII) về Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc mở đầu bằng sự khái quát hoá truyền thống nhân văn của tiến trình dân tộc dựng nước và giữ nước: “ Văn hoá Việt Nam là thành quả hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam…, đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách bản lĩnhViệt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc”. Nó bao chứa ít nhất là sáu lĩnh vực: tư tưởng đạo đức lối sống; giáo dục khoa học; văn học nghệ thuật; thông tin đại chúng; giao lưu văn hoá. Nói Nghị quyết TW V là một văn bản triết học, bởi ngoài những giá trị lý luận văn hoá, ý nghĩa thực tiển, còn có lượng thông tin rộng, tính dự báo cao phản ánh đường lối chính trị- xã hội vĩ mô qua gần 15 năm đổi mới.
Còn những tiểu luận của những nhà lãnh đạo cấp cao vốn là những nhà văn hoá lớn về đề tài văn hoá- nghệ thuật như Chủ nghĩa Mác và vấn đề văn hoá Việt Nam(1944) của Trường Chinh; Hiểu biết khám phá và sáng tạo phục vụ Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội, Giữ gìn trong sáng tiếng Việt(1966)của Phạm Văn Đồng. Và nhiều tác phẩm khác nữa là những tác phẩm lý luận văn nghệ xuất sắc, bởi vì trong đó các tác giả đã tổng kết những vấn đề lớn của thế giới và trong nước có ảnh hưởng đến đời sống sáng tạo văn nghệ, lượng thông tin nhiều, tính dự báo những “điều có thể xảy ra” với những giá trị tu từ của lối diễn đạt. Bàn về sức tưởng tượng của người nghệ sĩ, Trường Chinh viết: “ Văn nghệ không mơ tưởng khác nào con chim không cánh, cái thuyền không buồm, tưởng tượng có tính sáng tạo của người làm văn nghệ ít nhiều mang tính chất lãng mạn cách mạng…Không tưởng tượng sao được! Xuất phát từ đời sống thực tế và dựa vào quy luật phát triển khách quan của sự vật, trí tưởng tượng của ta có thể đi trước hiện thực một vài bước và nâng đời sống thực tế vươn lên”(1). Nói về cái giàu và cái đẹp của tiếng Việt, sau khi đánh giá rất cao ca dao và Truyện Kiều, coi đó là những viên ngọc quý, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng viết: “ Cái tinh hoa đặc sắc và đọc đáo của tiếng Việt được thể hiện ở nhiều câu thơ vừa là hoạ vừa là nhạc, ví dụ như câu thơ Nguyễn Du tả Từ Hải…..Tiếng Việt hiện nay có khả năng rất lớn…để diễn tả đời sống tư tưởng và tình cảm ngày phong phú, đẹp đẽ của dân tộc ta. Bản thân nó đã giàu, nó lại còn có khả năng biến hoá vô cùng, nếu chúng ta biết giữ nó, dùng nó, phát triển nó”(2)....

Con ngựa trong một số tác phẩm nổi tiếng

26/05/2014 lúc 09:05






Đ





ã từ lâu, con ngựa gắn bó với con người, giúp con người tăng tốc độ, kiếm sống, đánh trận và tăng thêm vẻ đẹp cho con người nên hình ảnh con ngựa đã được thể hiện đậm nét trong nhiều tác phẩm văn học nổi tiếng như con ngựa Rốt-xi-năng trong tiểu thuyết Đông-ki-sốt, ngựa Ô Chùy của Hạng Võ, Xích Thố của Quan Vân Trường…gần gũi hơn với người đọc Việt Nam là con ngựa sắt trong truyện Thánh Gióng – con ngựa bay lên trời sau khi đánh thắng giặc ngoại xâm!.
Tuy vây, những con ngựa vừa kể chỉ được thể hiện như là phương tiện, là vật trang sức cho con người. Trong văn học Việt Nam hiện đại có hai truyện ngắn đã thể hiện con ngựa như là một “nhân vật” có máu thịt, có tình cảm đến mức, khi nó phải vĩnh biệt cõi đời, hẳn không ít độc giả đã rơi nước mắt.
 
Truyện thứ nhất là của cây đại thụ trong làng văn Việt Nam: nhà văn Nguyễn Công Hoan. Truyện có tựa đề: Con ngựa già viết năm 1938. Ông kể lại một kỷ niệm hồi nhỏ, khi có dịp quan sát con ngựa ô của quan huyện đã mua lại của một ông Tây. “Vì lẽ đó nó cũng có tên là ngựa tây…Nó không hiền lành như ngựa ta. Nó dữ, khỏe mạnh và hung hăng lắm.() Nó đã cắn đã đá cho nhiều người lính hầu cai quản nó, thậm chí có lần nó đánh đổ xe khiến bà quan huyện lăn kềnh. Chỉ riêng với ông huyện là nó chịu thuần phục và đã mấy lần cứu ông thoát nạn…Đó là những câu chuyện tác giả nghe kể lại, còn “cao trào” hoặc là điểm thắt nút của truyện là cảnh mấy người lính chôn sống con ngựa, khi nó về già, đau ốm. Đau đớn hơn là do cái huyệt đào ngắn và cạn...

Một kho báu trong gia tài phi vật thể Quảng Trị

26/05/2014 lúc 09:04

I- Lần theo dấu vết cội nguồn:
Nhìn một cách tổng thể thì gia sản của văn hóa vùng đất Quảng Trị (cả vật thể và phi vật thể) hầu như đủ đầy vốn liếng không thua kém bất cứ vùng đất nào. Trong tay chúng ta, những gì đã sưu tầm được từ những văn hóa tiền sơ sử, văn hóa Sa huỳnh, văn hóa Chăm.v.v...cái gì cũng có. Điều đó nói lên rằng, gia đình dân tộc Việt Nam từ xa xưa đã sẵn có sự giao hòa, đã mang sẵn khát vọng hội tụ và rằng người Quảng Trị từ tổ tiên, cụ kỵ đến nay, bao giờ cũng cởi mở, chan hòa, rất xa lạ với tư tưởng khép kín, bảo thủ... Nhưng cũng như con người ta sống trên đời, mỗi người có riêng một thế mạnh. Thế mạnh không phải là cái duy nhất, nhưng là cái mà con người ấy, mảnh đất ấy dám đặt ra trước bàn dân thiên hạ để chứng tỏ mình. Trong văn hóa, thế mạnh chính là bản ngã.
Thế mạnh về văn hóa, có khi, có nơi là do trời ban. Trời nói ở đây chính là sự ngẫu nhiên của lịch sử trong cái thế tất nhiên của địa chính trị và địa lịch sử. "Nếu lịch sử chọn ta làm điểm tựa..." Nhà thơ lớn đã nói vậy nhiều lần.
 
Chúng ta hãy sơ bộ lược qua xem lịch sử chọn mảnh đất Quảng Trị làm điểm tựa như thế nào? Vũ trụ sinh ra đất đai và sinh ra con người để mà sống mà khai phá và làm nên những giá trị văn hóa trường cữu cho trái đất. Ấy là lẽ công bằng đầu tiên của tạo hóa. Mảnh đất Quảng Trị được sinh ra như thế. Và những tộc người trên đất Quảng Trị như Môn-khơ me (Tổ ông của Vân Kiều, Pacô), những nhóm người thuộc ngữ hệ Mã lai Đa đảo...

Băn khoăn văn chương năm đầu thế kỷ

26/05/2014 lúc 09:03






V





ài năm trở lại đây, thực trạng văn học đang làm cho nhiều người băn khoăn tự hỏi: Tại sao điều chúng ta mong đợi về một sự bứt phá của văn chương vẫn le lói ở đâu đó phía chân trời? Và như đang có một nghịch lý: Nếu tính theo đầu tác phẩm, trong những năm tháng này, có thể chúng ta đâu dễ kém ai, còn nếu tính theo chất lượng tác phẩm thì không phải lúc nào chúng ta cũng có thể mỉm cười và trong nhiều trường hợp, đôi khi lại còn rầu lòng nhăn nhó. Như một thống kê có tính chất tư liệu, trong năm 2000, 43 nhà sản xuất trong cả nước đã cho trình làng 10.777 đầu sách với tổng số 180 triệu bản, trong đó, văn học nghệ thuật 2.610 đầu sách. Một con số quả còn quá khiêm tốn, nhưng nó lại cho phép nhận diện một thực tế rằng sách vở văn chương đâu đến mức hiếm hoi. Chỉ hiềm một nỗi, nhà văn vẫn sáng tác, văn chương vẫn ra lò, các cửa hàng sách tự chọn vẫn tấp nập khai trương...còn nhiều người thì lượn qua quầy sách văn học như lượn qua một thế giới khác mình!
 
Thống kê trong phạm vi cá nhân, đã có hàng trăm cuốn tiểu thuyết được xuất bản để tham gia cuộc thi tiểu thuyết của Hội Nhà văn và hầu như cuốn nào cũng khiêm tốn dừng lại ở con số 1000 bản cho một lần phát hành. Nói tới số lượng phát hành, trong giới hạn của nó, chỉ nhằm nói tới tỉ lệ quá chênh lệch  giữa tiểu thuyết với một thị trường sách khổng lồ có hàng triệu bản ra đời trong cả năm để dễ cảm thông cho các nhà văn. Và như một hệ lụy của thời đại công nghiệp, người đọc bây giờ đang tỏ ra không thích thú với những tác phẩm dài hơi...

Để hiểu đúng câu Kiều về chữ

22/01/2014 lúc 14:52






C





ó một câu Kiều không dùng đến điển tích, không cần phải chú giải mà ai cũng dễ dàng hiểu được, đó là câu: “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Nhưng không phải câu Kiều tưởng dễ dàng hiểu được này hoàn toàn được hiểu đúng thần thái thâm hậu của nó trong bất kỳ mọi nơi, mọi lúc, trong những dịp “lẩy Kiều”. Những người có “chữ tâm” đích thực trong đời này không phải là ít và hết thảy họ đều yêu mến, nâng niu câu Kiều nhân nghĩa lung linh này. Nhưng những người nhân danh “chữ tâm” lại cũng không phải là ít và đôi khi “chữ tâm” nhân danh này bị đem đối lập với chữ tài. Và như thế chữ tài lại bị dè bỉu, bị đố kỵ. Và như thế hai chữ “tâm, tài” tương đố. Ngày xưa, khi viết Truyện Kiều để chứng minh cho thuyết “tài mệnh tương đố” (“Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”), Nguyễn Du đã không ngờ đến cái tình cảnh “tâm, tài tương đố” này.
Thực ra, đại thi hào Nguyễn Du chỉ đem chữ tài đối lập với chữ mệnh chứ chưa hề đem chữ tài đối lập với chữ tâm bao giờ cả. Không đối lập hai chữ “tâm-tài” nhưng lại bảo: “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”, “rắc rối” chữ nghĩa là ở chỗ đó. Chẳng lẽ Nguyễn Du viết đến 3254 câu thần bút để ca ngợi một trang tuyệt thế về Tài-Tình-Sắc như Thuý Kiều mà lại đi dè bỉu “chữ tài” chăng? Hoàn toàn không, chữ tài trong cách hiểu của Nguyễn Du cũng như của cổ nhân là đã bao hàm cả chữ tâm, chữ đức ở trong đó nữa. Chả thế mà cha ông ta đã từng quý trọng, nâng niu hai chữ “hiền tài” và chính người tài là bậc hiền nhân ở đời cho nên phải “chiêu hiền đãi sĩ” (trong câu thành ngữ này thì chữ hiền chính là chữ tài, hai chữ từ chỗ gắn kết nhau đã trở nên đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa). Thuý Kiều, nhân vật chính của Truyện Kiều mà Nguyễn Du đã thác ngụ trọn vẹn tư tưởng nghệ thuật tuyệt diệu của mình, Thuý Kiều, về nhiều mặt lại chính là một phiên bản đắt giá về “cái tôi” của Nguyễn Du, nhân vật ấy có đủ hai chữ tâm, tài gắn kết nhau (thực ra, hai chữ tâm, tài trong hình tượng nghệ thuật Thuý Kiều là không thể chia cắt nhau được, có chia cắt là chia cắt tương đối theo lô gích hình thức thôi chứ không chia cắt được trong lô gích nghệ thuật và trong “phép biện chứng” của Nguyễn Du). Bảo chứng cho phẩm hạnh Thuý Kiều quả không có gì đáng giá hơn lời khen, lời đánh giá của các vị cao tăng. Sư Giác Duyên khen:
“Người sao hiếu nghĩa đủ đường
Kiếp sao rặt những đoạn trường thế thôi”
Sư Tam Hợp đạo cô khen cả hai chữ tài, chữ tình gắn kết nhau trong con người Thuý Kiều:
“Thuý Kiều sắc sảo khôn ngoan
Vô duyên là phận hồng nhan đã đành
Lại mang lấy một chữ tình
Khư khư mình buộc lấy mình vào trong”
hoặc:
“Lấy tình thâm trả nghĩa thâm
Bán mình đã động hiếu tâm đến trời”
Không riêng gì các vị sư đạo cao đức dày mà ngay cả đến những kẻ thù của Thuý Kiều, những kẻ từng đày đoạ, hành hạ Thuý Kiều đến độ vùi hoa, dập liễu không xót tay, những kẻ ấy không những không dè bỉu mà còn vô cùng nể trọng một Thuý Kiều tài tình quá đỗi. Hoạn Thư nhiều lần khen ngợi cái tài của Thuý Kiều giá đáng nghìn vàng:...
 

Nhà văn

22/01/2014 lúc 14:51






B





log-web là trang ảo. Ảo nhưng sức sống của nó lại mạnh hơn cả sách báo giấy, vì nó là cái mới. Bây giờ nhiều nhà văn “mù vi tính” nên bảo “Không blog-web (gọi chung là blog) cũng chẳng chết ai”, nên số nhà văn chơi blog ở nước ta không đông lắm. So với số người viết văn cả nước thì người có blog quá nhỏ, có lẽ chưa tới một phần trăm. Nhưng, ngược lại không khí blog nhà văn thật sôi động, vui đáo để. Họ sáng tác trên blog, đọc nhau, cảm nhận, trao đổi bàn luận việc nước, việc đời rất rôm rả.
Do văn nhân có blog đếm trên đầu ngón tay, nên tôi xin kể tên để bạn đọc làm quen : Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Quang Lập, Trần Nhương, Văn Chinh, Hà Phạm Phú, Phạm Xuân Nguyên, Tuyết Nga, Trạng Hạ, Nguyễn Hữu Quý, Trần Quang Đạo, Vương Cường, Hoàng Cát. Dương Hướng, Trần Thanh Giao, Nguyễn Quang Thân, Phong Điệp, Hoàng Đình Quang, Nguyên Hùng, Thu Nguyệt, Nguyễn Đức Thiện, Nguyễn Ngọc Tư, Thai Sắc, Tùng Bách, Lê Huy Mậu, Khôi Vũ, Hồ Tĩnh Tâm, Huỳnh Thúy Kiều, Lý Lan, Nhật Tuấn, Lê Thị Kim, Trần Xuân An, Trang Thế Hy, Thái Bá Tân, Trần Ninh Hồ, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Hòa, Đỗ Trọng Khơi, Văn Công Hùng, Văn Thanh, Phạm Dạ Thủy; Hoàng Vũ Thuật, Hải Kỳ, Xuân Đức, Phan Văn Quang, Nguyễn Khắc Phục, Đức Tiên, Phan Bùi Bảo Thi, Nguyễn Ngọc Hạnh, Bùi Quang Thanh, Từ Nguyên Tỉnh, Mạnh Lê (đã mất), Lâm Thị Mỹ Dạ; Võ Quê, Văn Cầm Hải, Mai Văn Hoan, Nguyễn Khắc Thạch, Lãng Hiển Xuân, Nguyễn Văn Vinh... Gần đây có xuất hiện thêm Trần Hoàng Cương, Nguyễn Quang Vinh, Phạm Ngọc Tiến , Hạ Nguyên.v.v..Đặc biệt, các nhà văn, nhà thơ trẻ có blog-web rất đông: Nguyễn Vĩnh Tiến, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Huỳnh Lê Nhật Tấn, Trần Tiễn Cao Đăng,Thanh Xuân, Nguyễn Thế Hoàng Linh, Hoa Ngõ Hạnh, Trương Quế Chi, Lê Thiếu Nhơn , Phan An, Đỗ Trí Dũng , Từ Nữ Triệu Vương , Lê Nguyệt Minh, Ngô Thị Hạnh, Lê Anh Hoài, Ngô Thị Thanh Vân.v.v.. Giới sành mạng cho rằng , nhà văn trẻ đầu tiên khẳng định tên tuổi mình trên blog-web là Trần Thu Trang với tác phẩm Phải lấy người như anh. Tác phẩm của Trang sau đó đã được nhà xuất bản ấn hành. Blog là vậy đó! Chơi mà thật.Vậy chơi blog có gì hấp dẫn mà nhiều nhà văn say mê như vậy? Có nhà văn có một lúc hai blog như Nguyễn Quang Lập và Hoàng Đình Quang, vừa chơi trên 360o.yahoo.com vừa Vnweblogs.com
Trước hết blog mở ra một không gian mới mênh mông, không biên giới, tha hồ cho nhà văn vùng vẫy. Không gian đó tạo cho nhà văn có dịp để gặp gỡ trực tiếp với đông đảo độc giả người Việt trong và ngoài nước, nhất là từng lớp trẻ 8X, 9X. Blog là những trang nhật ký, hồi ức hay những sáng tác mới như thơ, tiểu thuyết, truyện dài, truyện dịch, tiểu phẩm, tản văn… nói lên tâm tình , tư tưởng của mình hay thông tin một vấn đề nào đó mà cộng đồng nhà văn đang quan tâm, được gửi đến độc giả không qua một khâu trung gian nào, nóng hổi và chân thật. Nhà văn viết blog theo cảm hứng chứ không phải từ đơn đặt hàng của ai cả. Viết để bày tỏ, bộc lộ chính mình, và “để chơi”,lại thoải mái cách tân về hình thức theo ý muốn . Thông qua blog nhiều chàng / nàng thơ đã gặp nhau rồi nên duyên nồng thắm. Có lẽ vì thế mà người đọc mạng thích thú chăng? Hàng ngày mở mạng đọc web đã trở thành “gu” của rất nhiều người, cả già lẫn trẻ. Họ trở thành những con “sâu mạng”.Người đọc mạng gấp hàng trăm nghìn lần người đọc sách báo in bằng giấy. Đó là lợi thế cho người cầm bút. Tôi ngày nào cũng lướt mạng vài ba lần, gặp chuyện hay đọc cả đêm. Tôi nghĩ nhà văn viết vài năm mới in được một tiểu thuyết hay tập thơ , may ra chỉ vài ba ngàn người đọc, nhưng văn chương mạng thì người đọc đông lắm. Tháng 3-2007, Nguyễn Trọng Tạo nổi hứng lập một mình 3 blog nguyentrong-tao.vnweblogs.com vàvanchuong.vnweblog.saoviet.vnweblogs.com. Blog nào cũng rôm rả như một tờ báo mạng, giới thiệu các tác giả trẻ, những bài thơ,bài văn hay, cập nhật những “sự kiện văn nghệ ” trong nước như chuyện đạo thơ, đạo nhạc, chuyện kiện tụng giữa các văn nghệ sĩ…hấp dẫn lắm. Đến cuối năm 2008, lượng người truy cập các blog của Nguyễn Trong Tạo đã lên tới hơn 140.000. Blogvanconghung.vnweblogs.com của nhà thơ Văn Công Hùng, một người Huế ở Pleiku đến nay đã có tới 130 000 lượt độc giả truy cập. Có bài viết ngắn mà có tới 3200 lượt người đọc. Nhà văn “bọ” Quảng Bình Nguyễn Quang Lập có cái blog nguyenquang-lap52.360.yahoo.com và cáinguyenquanglap.vnweblogs.com mới mấy tháng thôi đã có 160.000 lượt Số lượng tăng hàng ngày từ 5 đến 10 ngàn người truy cập. Trang Web của nhà văn Trần Nhương đến nay đã có trêm 700.000 người truy cập. Nữ nhà thơ trẻ Huỳnh Thúy Kiều ở Cà Mau mới tham gia Blog đã có 60.000 lượt người xem . Như vậy, nhà văn muốn nhiều người đọc mình, chia sẻ với mình phải viết văn bằng mạng. Tôi cũng được anh Tạo “mần”cho cái blog ngominh.vnweblogs.com....
 

Vài ý kiến viết về đề tài chiến tranh

22/01/2014 lúc 14:50






C





hiến tranh là đề tài lớn của nhiều nền văn học trên thế giới. Với Việt Nam nó càng lớn hơn. Lịch sử Việt Nam là một xâu chuổi những cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại, những chiến công vang lừng. Thực tế ấy đã cho văn học Việt Nam một nguồn sống vô tận, hừng hực lửa. Đề tài viết về chiến tranh không bao giờ cũ, không bao giờ cạn, chỉ tính riêng sau ngày giải phóng (1975) đến nay, năm nào cũng có một vài cuốn sách viết về chiến tranh. Các tạp chí, báo Trung ương và địa phương luôn có các tác phẩm viết về chiến tranh: Truyện ngắn, ký, hồi ký... Hầu hết các tác phẩm đó đều viết về hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Viết về chiến tranh bây giờ đang còn lợi thế, bởi ngoài tư liệu chiến tranh trên báo chí, kho lưu trữ trong nước và ngoài nước còn nhân chứng sống, một thế hệ những chiến binh, các tướng lĩnh, thanh niên xung phong, dân quân du kích, nhân dân trợ chiến. Người trong cuộc viết về cuộc chiến tranh mình trực tiếp tham gia. Một tầng lớp cầm bút kế cận, hoặc sinh ra sau chiến tranh hoặc trong chiến tranh còn quá bé, vẫn có ưu thế viết về thế hệ cha anh họ luôn sống cạnh mình. Về sau này, khi thế hệ những người trong cuộc đã đi qua, viết về chiến tranh chỉ dựa vào tra cứu tư liệu sẽ khó khăn hơn nhiều, không viết nhiều, viết tốt bây giờ sẽ thiệt thòi cho con cháu mai sau, sẽ thiệt thòi cho nền văn học đương đại, nói như vậy không có nghĩa là người trong cuộc viết về chiến tranh sẽ tốt hơn người ngoài cuộc. Dù sao, người cầm súng viết về chính mình, về đồng đội của mình sẽ có vốn thực tế phong phú và chính xác hơn.
Đọc một số tác phẩm gần đây của một số bạn viết sau chiến tranh, đã thấy có sự sai sót về vốn sống, đặc biệt là ở “chi tiết”.
Ví dụ miêu tả cuộc chiến đấu 81 ngày đêm ở Thành Cổ Quảng Trị, có bạn viết bộ đội ta dùng DKZ,... nả tới tấp vào đối phương. DKZ là vũ khí lợi hại ta chế tạo được từ những xưởng quân giới trong rừng Việt Bắc thời chống Pháp dùng bắn hạ xe cơ giới, lô cốt địch. Vũ khí đó được dùng trong chống Pháp và vài năm đầu của du kích chống Mỹ. Vì DKZ rất nặng nề, kém cơ động lại được thay thế bằng B40, B41 gọn nhẹ hơn rất nhiều, phù hợp với chiến trường cơ động cao nên về sau, và ở Thành Cổ Quảng Trị bộ đội ta không sử dụng nó.
Có bạn viết: “B52 là loại máy bay bay cao, bay xa, chở nhiều bom nhất nên duy nhất được người Mỹ tôn sùng là “Pháo đài bay””. Thực ra, B26 Mỹ sử dụng ở chiến trường Việt Nam cũng là pháo đài bay.
Trong chiến tranh chống Mỹ, người Mỹ sử dụng đạn pháo chụp (nổ gần mặt đất) tung mảnh, tung đinh xuống, sát thương bộ đội ta. Vì vậy, hầm hào chiến đấu phòng ngự của ta cũng đào rất hẹp, không có chuyện một hầm cá nhân mà ta và địch quần nhau, đấm đá thoải mái như trên võ đài.
Nhìn chung cuộc kháng chiến chống Mỹ, ta và địch đều có nhiều nét đặc thù, miếng ăn, cách đi đứng, nguỵ trang, trú ẩn, tình yêu, tình bạn... không có vốn sống thực tế, không dày công nghiên cứu sẽ nhầm lẫn, sai sót.
Không ít nhà nghiên cứu đã nhận định: Phần lớn các tác phẩm viết về chiến tranh của ta vẫn chưa viết hết về chiến tranh, thiếu “chiến tranh”.
Theo tôi, đó là một yêu cầu quá cao tới mức “bất khả thi”. “Chiến tranh và hoà bình” - Leptonxtôi, “Sông Đông êm đềm” - Sôlôkhốp và những tập hồi ký lớn “Nhớ lại và suy nghĩ” Nguyễn soái Giukốp, “Bộ tổng tham mưu Xô Viết trong chiến tranh” - X. Stemenko là những tác phẩm đồ sộ viết về chiến tranh, liệu đã viết đủ về chiến tranh chưa? Khi đã có một tác phẩm viết đủ về chiến tranh rồi, thử hỏi người khác còn viết làm gì nữa?
Một tác phẩm phản ánh một mảng hiện thực, nói lên một vấn đề tư tưởng biểu hiện những nét tình cảm, đến với người đọc bằng một phong cách riêng, nhiều tác phẩm gộp lại sẽ cho người đọc một cách nhìn, sự nhận thức ngày càng sâu rộng, đa sắc màu về chiến tranh. “Phản ánh đủ về chiến tranh” là công việc của nhiều tác phẩm, nhiều tác giả và nhiều thế hệ của những người cầm bút.
Song cũng phải thấy rằng, nền văn học đương đại của ta chưa có tác phẩm lớn xứng tầm với hiện thực vĩ đại của cuộc chiến tranh có một không hai trong lịch sử loài người đó là cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nhiều tác phẩm lại có cách viết na ná nhau: miêu tả một trận đánh nào đó, ta thắng, địch thua, ta anh hùng, địch hèn nhát, ta rất người, địch rất thú.
Viết về chiến tranh, không ít bạn viết sa vào miêu tả các cuộc giao tranh của hai phía, ầm ào bom đạn dội vào đầu nhau. Dù miêu tả quyết liệt bao nhiêu thì nét đặc thù của chiến tranh Việt - Mỹ vẫn không được lột tả, vẫn giống các trận đánh Trung Triều chống Mỹ, hoặc của nhân dân Xô Viết chống phát xít Đức. Bởi viết như vậy mới dừng lại ở hình thức mà hình thức chiến tranh nào cũng dội hoả lực vào đối phương....
 

Xuân Đức - Một thoáng chớp nhanh

17/04/2014 lúc 14:48






V





âng! Đúng thế! Đây chỉ là vài nét phác vội vàng. Xuân Đức có số lượng tác phẩm khá đồ sộ, bao gồm nhiều thể loại: Kịch bản sân khấu.Tiểu thuyết. Kịch bản phim. Truyện ngắn. Ký. Trường ca. Thơ. Ghi chép, Phóng sự, và cả những bài ...báo vặt. Anh cũng lại là một nghệ sĩ có đời sống phong phú, bề bộn và trắc ẩn. Để có một "Chân dung" tương đối đầy đủ về anh, có lẽ phải "huy động" đến cả một cuốn sách dày. Nhưng làm điều đó bây giờ, e chừng lại... quá sớm. Bởi anh vẫn đang đi, vẫn đang tiếp tục sáng tạo. Nhiều điều bất ngờ nữa dường như vẫn còn ở phía trước.
Xuân Đức là cây bút đa tài. Ở thể loại nào, anh cũng có những đóng góp rất đáng được ghi nhận. Vở kịch dài "Tổ Quốc", Xuân Đức viết chung với Đào Hồng Cẩm đã được Nhà nước traoGiải thưởng Hồ Chí Minh ngay từ đợt I năm 1996. Riêng cá nhân Xuân Đức, năm 2007, cả hai Hội đồng nghệ thuật Chuyên ngành Văn học và Sân khấu đều đề cử anh. Anh đã xin rút tên trong Danh sách đề cử của Hội đồng Sân khấu, để nhận Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2008 cho ba cuốn tiểu thuyết bề thế: Cửa gió, Ngườikhông mang họ và Tượng đồng đen một chân.
Một người có nhiều thành tựu trong thể loại Tiểu thuyết và Sân khấu như thế nhưng lại luôn đau đáu với thơ. Mà cũng phải thôi. Bởi trước hết, Xuân Đức là thi sĩ. Anh tạo dựng cơ nghiệp văn chương của mình bắt đầu bằng thơ. Ngay từ những năm Sáu mươi của ... thế kỷ trước, Xuân Đức đã có trường ca Trăng Cồn Cỏ, được nhà thơ lớn Chế Lan Viên biểu dương và hết lời ca ngợi. Trường ca đã được in trọn vẹn cả một trang trên báo Quân đội nhân dân. Cũng trong thờì gian ấy, báo Nhân Dân giới thiệu một trang thơ Lý Phương Liên. Vào những năm tháng linh thiêng ấy, chúng ta có rất nhiều nhà thơ trẻ nổi tiếng, nhưng được giới thiệu ưu ái trang trọng như vậy thì chỉ có Lý Phương Liên và Xuân Đức. Một người ở Thủ đô Hà Nội. Một người giữa tuyến lửa Vĩnh Linh. Ở những thời khắc ấy, đây là hai tài năng thơ thuộc hạng đặc biệt. 
II
Mãi sau này, tôi mới có dịp gặp Xuân Đức và rồi lại ở cùng buồng với anh. Đó là dịp tháng 10 năm 1976. Khi ấy, cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước của chúng ta vừa mới kết thúc. Tổng Cục Chính trị triệu tập những cây bút từ khắp các chiến trường về Hà Nội theo học lớp Đại học Viết văn Nguyễn Du. Trong ký ức của nhà văn Nguyễn Khắc Trường, "Đấy là những người lính đã qua trận mạc, giờ không còn vướng súng ống chiến trận, nên đã dồn hết tâm lực cho mỗi trang văn. Họ viết ùng ục như đào hào, bắn súng". Nhớ lại thời ấy, sao mà vui thế. Ngày nào, mấy anh em cũng quần tụ nghe tác phẩm của nhau và góp ý cho nhau. Trong các cuộc bàn thảo thâu đêm suốt sáng ấy, tôi thường hong hóng chờ nghe ý kiến của Lê Lựu, Xuân Đức và Nguyễn Khắc Trường. Cứ như cách cảm nhận của tôi thời đó thì cả ba ông nhà văn này đều rất tinh nghề. Nguyễn Khắc Trường như "hàn thử biểu văn chương". Anh thường chỉ tung ra lời thẩm định có tính kết luận. Những nhận định ấy thường rất chuẩn xác nhưng cách diễn giải của anh thì lại ấp úng, không được mạch lạc. Lê Lựu rất giỏi nắm bắt các vấn đề. Nhiều cái truyện của mấy "ông anh" tôi, tôi thấy cũng chỉ bàng bạc, thường thường. Thậm chí có truyện còn rất nhạt. Có cảm giác tác giả cứ thấy sao thì kể vậy, kể nôm na ở mức bản năng, chẳng có quái gì cả. Vậy mà Lê Lựu vẫn tìm được một điều gì đó rất thâm thuý. Thực ra, cái điều gì đó ấy là do Lê Lựu nghĩ ra, rồi đắp điếm thêm vào, vì cái truyện nó cần phải thế. Và cứ phải thế nó mới ra cái truyện. Cứ như quan niệm của Lê Lựu, ở bất cứ một tác phẩm nào, dù lớn hay nhỏ, người viết cũng phải có một vấn đề gì đó muốn chuyển tải đến người đọc. Không có cái đó thì đừng cầm bút viết. Nhưng điều gửi gắm ấy lại không được phơi tênh hênh hay nói toẹt ra một cách lộ liễu, mà lại phải chìm lặn trong cốt truyện, trong số phận của nhân vật. Và như thế có nghĩa là cái truyện phải viết lại, xoay lại mới đứng được. Nhưng viết lại thế nào? Xoay lại thế nào, thì tác giả không hình thể dung được. Ngay cả chính Lê Lựu cũng chẳng biết câu chuyện nên bắt đầu từ đâu và kết thúc ở đâu? Xuân Đức thì ngược lại. Anh phát hiện và nắm bắt vấn đề rất nhanh. Và rồi ngay lập tức, anh có thể giúp tác giả đảo lộn, tháo tung cái truyện ra rồi sắp xếp bố cục lại, cấu trúc lại theo một hình thái mới để tác phẩm hấp dẫn hơn và hiệu quả hơn. Xuân Đức có thể chắp tay sau lưng, đọc oang oang một mạch từ đầu cho đến hết truyện như một nghệ sĩ kịch cương. Đấy là một biệt tài của Xuân Đức, cũng là cái Xuân Đức hơn người...
 

Bạn tôi là người Quảng Trị

12/05/2014 lúc 16:28






V





ới tôi mùa thu này náo nức hơn khi biết mình được về dự trại sáng tác của Liên hiệp các Hội VHNT toàn quốc, tổ chức tại Hà Nội. Trong thâm tâm tôi mong gặp được một số anh chị em văn nghệ sỹ ở Huế và Quảng Trị ra. Chờ từ ngày 26-7-2001đến hôm khai mạc không thấy ai. Sau có nghe tin Trần Hữu Tháp ở Huế không ra được. Còn đại diện của Quảng Trị thì sau đó một ngày mới thấy lệnh khệnh ra đến nơi. Đó là nhà thơ Hải Hiền, tên cúng cơm là Trần Đức Trực. Dáng vóc anh to lớn, mái tóc bơ phờ. Nụ cười cởi mở nhưng... móm hai răng cửa. Hai cái ba lô bé tí tẹo trên tấm lưng phản phạt xuống. Hải Hiền hỏi tôi:
- Anh ở Liên hiệp phải không? Tôi xin đăng ký ngoại trú.
- Không ạ! Tôi cũng là "trại viên" thôi. Ở Phú Thọ anh ạ. Hải Hiền vồ lấy tay tôi lắc lắc:
- Phú Thọ có Đền Hùng phải không? Nì! Cả đời tôi còn mỗi một mong muốn được thăm Đền Hùng đó ông!
Tôi mời anh bữa nào rảnh lên thăm Đền Hùng. Nhà tôi ở cách đền có tám cây số.
 
Từ hôm đó chúng tôi kết bạn, rồi thân nhau, mặc dù tôi và anh hai tính cách khác biệt.Tôi trầm tính, ngại va chạm, cay đắng. Anh ồn ào, dễ gần "ăn sóng nói gió". Lại nghiện rượu và thuốc lào...

"Nắng mặn" – Cuộc hành trình trở về tuổi thơ

12/05/2014 lúc 16:27






N





hà thơ Ngô Minh vừa cho ra đời tập thơ với tên gọi "Nắng mặn". Đây là tập thơ thứ chín của anh (ngoài hai tập phóng sự và tiểu luận). Bạn đọc không chỉ biết anh qua tư cách nhà thơ, nhà báo, nhà phê bình văn học mà còn nhà thơ viết cho thiếu nhi. Anh đã tỏ ra rất xuất sắc khi biết khai thác hợp lý "mảnh vườn" tưởng như dễ mà khó chơi này.
 
Ai trong đời cũng có một tuổi thơ, những năm tháng tuổi thơ thường để lại dấu ấn sâu đậm trong tâm hồn mỗi người. Tuổi thơ kết dọng trong mỗi chúng ta một quá khứ nguyên vẹn, chỉ cần một phép nhiệm màu nào đó thôi là thơ ấu của mỗi chúng ta từ chỗ sâu kín, xa xăm, mơ hồ hiển hiện. Nhà thơ Ngô Minh đã giúp chúng ta làm điều đó. Qua "Nắng mặn" tuổi thơ sáng lên, sinh động, lung linh đủ sắc màu. Trong cái thế giới bồng bềnh, mơ mộng của tuổi thơ ta bắt gặp những tình cảm ấm cúng trong mái ấm của gia đình: Ba là một/ Mẹ là hai/ Em là ba/ Thành một nhà. (Đếm đến ba). Là hình ảnh của người mẹ âm thầm lặng lẽ, chăm chút cho ta từng ngày, từng bữa cơm, tấm áo đã theo suốt ta trong cuộc đời: Cơm nóng mẹ xới/ Mẹ thổi phù phù/  bé lười ăn lắm/ mẹ bón từng thìa/ ... No rồi bé ngủ/ mẹ vội đi làm/ bé ơi có biết/ mẹ chẳng kịp ăn/ (Mẹ). Hay: Mẹ ngồi tay thoăn thoắt/ Đan áo rét cho con/ Trưa mùa thu con ngủ/ Sợi len xây bóng tròn. (Tấm áo cho con). Là hình ảnh của người cha như núi Thái Sơn, chỗ dựa vững chắc cho ta trong đời: Ba ngồi con vịn/ con trèo lên vai/ ba như giàn giáo/ con là thợ xây (Khi con tập đi). Hình ảnh của bà nội rất đỗi quen thuộc, nét mặt in hình thời gian được khắc họa rất sâu sắc, đầy ấn tượng trong sự nâng niu...

Văn học viết về chiến tranh cách mạng

12/05/2014 lúc 16:26






B





ất cứ một nền văn học chân chính nào, sự ra đời và phát triển của nó đều gắn bó sâu sắc với thời đại sinh ra nó, thực hiện xuất sắc nhiệm vụ của thời đại đó. Văn học Việt Nam sau 1945, đặc biệt là mảng văn học viết về đề tài chiến tranh Cách mạng là một hiện tượng độc đáo, đáp ứng cao độ những đòi hỏi bức thiết của thời đại, sáng tạo trên cảm hứng lớn của thời đại, có vị trí xứng đáng trong tiến trình văn học dân tộc dân tộc và cũng chịu những thách thức nghiệt ngã của thời gian.
1. Chúng ta đều biết rằng, nếu như nửa đầu thế kỷ XX, lịch sử xã hội Việt Nam chủ yếu là những cuộc vận động Cách mạng dữ dội, dẫn đến cao trào tháng Tám 1945, thì nửa sau, lịch sử chủ yếu là hai cuộc kháng chiến lâu dài nhằm bảo vệ thành quả của cách mạng, độc lập dân tộc và giải phóng đất nước, dẫn đến chiến thắng lịch sử 1954 và 1975. Một thời gian dài hậu chiến tranh (1975), những vấn đề của cuộc chiến vẫn còn in đậm trong đời sống tinh thần của dân tộc. Bởi vậy, có thể nói văn học về đề tài chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ sinh ra và phát triển là do đòi hỏi bức thiết của nhiệm vụ chính trị cấp bách của thời đại: Tất cả để chiến thắng kẻ thù xâm lược! Đó là ý thức công dân cao cả của văn học hòa trong ý thức chính trị cao cả của thời đại, được văn nghệ sỹ tự nguyện dâng hiến cả tình cảm, trí tuệ của mình, như một tất yếu lịch sử!
 
Khẩu hiệu "Văn nghệ phục vụ kháng chiến", đã làm hình thành một dòng văn học áp sát hiện thực chiến đấu, phản ánh tươi rói những diễn biến của cuộc chiến tranh, tạo ra một sinh khí khác hẳn với văn chương trước Cách mạng tháng Tám. Khác từ cách quan niệm về bản chất, chức năng của văn học, đến cảm nhận hiện thực, đến giọng điệu, nhân vật, ngôn ngữ và thái độ của văn nghệ sĩ. Một dòng văn học phục vụ "công nông binh", gần gũi, truyền cảm...

Nhất Lâm, thua được ta thờ ơ...

06/02/2014 lúc 23:11












 Cố Đô Huế, nhà văn Nhất Lâm đi đâu ai cũng nhận ra bởi anh thường đi xe đạp, đầu trần với  mái tóc bạc trắng chấm vai rất ai-ma-tơ. Mái tóc bạch kim óng ánh để trần trong nắng mưa của anh cứ bông bềnh trong gió với nụ cười hưng phấn tuổi thất tuần. Một ngày sau lũ Huế , anh Nhất Lâm hồ hởi đến tặng tôi tập tiểu thuyết “ Đồi không tên” anh viết về cuộc chiến đấu anh hùng của các chiến sĩ bộ đội, du kích vùng cao A Lưới với bọn Mỹ trên đồi thịt băm –theo cách gọi của lính Mỹ. Anh cho biết  để có tiền in sách anh phải vay mượn bạn bè hơn chục triệu đồng. Không biết có thu lại đủ vốn không. Nhưng nhìn cuốn sách dậy mùi mực thơm như mùi sự sống nồng nàn đang phục sinh trên mảnh đất A Lưới khốc liệt một thời. Chỉ riêng chuyện anh đã cất công đi lấy tư liệu mấy tháng trời rồi ngồi thức đêm dựng lại cuộc chiến đấu đó sau 30 năm trời, chứng tỏ tình yêu và trách nhiệm của một người cầm bút thật mãnh liệt.
Anh  Nhất Lâm viết báo, làm thơ , viết truyện ngắn, truyện ký.. sôi sục, tâm huyết ! Dường như mấy chục năm làm cán bộ địa chất, làm thanh tra của ngành giao thông cần mẫn , nghĩa là làm công việc của một người cán bộ cách mạng , anh vẫn chưa coi là làm. Về hưu , anh hì hục viết báo để nuôi mẹ già ở quê và  nuôi văn , nuôi thơ và nuôi hồn mình. Anh viết ngày viết đêm như chạy thi với tuổi. Năm nay bảy mươi hai rồi còn gì ! Có lần chuyện với tôi anh trầm ngâm  :” Còn sống là còn viết, Ngô Minh ạ ! Mình đã bỏ phí nhiều thời gian trai trẻ, tiếc lắm“... 

Ngôn ngữ và tiếng bộ xã hội

22/01/2014 lúc 09:12






C





ách đây khoảng bảy tám năm, một sự kiện xảy ra ở Canada làm chấn động dư luận xã hội ở một số nước Châu Âu và Bắc Mỹ, khiến người ta quan tâm thực sự đến khía cạnh ý thức hệ của ngôn ngữ. Một học giả Pháp được mời đến Canada nói chuyện về quyền con người trong một hội thảo lớn. Học giả cho biết ông sẽ nói về những thành tựu mới về quuyền con người trên thế giới (nguyên văn: Sur les nouvelles acquistions du droit de I’homme dans le monde). Trong tiếng Pháp từ “ home” vừa có nghĩa là con người(cả nam lẫn nữ), vừa có nghĩa là người đàn ông. Rắc rối là ở chỗ đó. Phía Canada đề nghị học giả Pháp thay đổi từ “home” thành từ “humain” một từ bác học ít thông dụng-có nghĩa là con người cả nam lẫn nữ. Học giả Pháp không chịu, cho rằng người Pháp xưa nay quen dùng như thế, ai cũng hiểu như thế, không có gì phải thay đổi cả. Phía Canada cho rằng dân chúng Canada không chấp nhận sự “bất bình đẳng” ngôn ngữ đó và sự đôi co làm cho hội nghị không tiến hành được.
Chuyện trục trặc nói trên tưởng là việc nhỏ nhưng nó là giọt nước làm tràn ly sau cả một quá trình suy nghĩ để cải tiến ngôn ngữ làm cho ngôn ngữ phù hợp hơn với xu thế thời đại trong chiều hướng tiến bộ xã hội. Nhân dân Pháp vốn có truyền thống cách mạng, luôn tiên phong trong việc đấu tranh cho tự do, bình đẳng, bác ái. Thế mà trong tiếng Pháp tinh thần “trọng nam khinh nữ” thể hiện hết sức lộ liễu. Ngoài thí dụ vừa nêu về từ “home” vừa chỉ con người nói chung vừa chỉ người đàn ông...

Hãy để trường học là một đoàn tàu

22/01/2014 lúc 09:12






N





ếu bạn đã từng đọc cuốn sách “Tottochan - Cô bé ngồi bên cửa sổ” của Tetsuko Kuroyanagi (Nhật), tôi tin rằng khát vọng trở thành một người giáo viên sẽ phải bùng cháy trong lòng bạn. Trong truyện đó, có một ông hiệu trưởng dùng một đoàn tàu cũ làm phòng học cho trẻ em. Mỗi giờ học là một lần đoàn tàu chạy một chuyến – ông thầy nói với học trò như vậy! - mặc dù những toa tàu này vẫn đứng yên. Từ câu chuyện ấy, tôi nghĩ về người đứng lớp, hãy để trường học là một đoàn tàu, sinh động và phóng đãng. Để học trò xem việc học như một cuộc du ngoạn và thưởng lãm cái đẹp vốn có của đời sống này.
1. Trên chuyến tàu không có hình phạt đối với hành khách
Đã từng là một cậu bé trường làng, rồi học trò trường huyện, bây giờ là sinh viên đại học, tôi nhận thấy một điều là có những giờ học trôi rất chậm! Đơn giản bởi quý thầy cô không tạo hứng thú cho chúng tôi tiếp thu bài vở. Ngày còn học cấp hai, cô giáo dạy văn khi bình giảng “Ngục trung nhật kí” đã nói câu “nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại”, và chúng tôi đáo lại thành “nhất nhật tại giờ thiên thu tại ngoại” bởi vì những tiết văn quá chán! Thử tưởng tượng một môn học bồi đắp tâm hồn cho học sinh mà quý thầy cô không làm cho trái tim các em mở ra hứng lấy thì làm sao ngồi yên nghe giảng được?...

Bác Hồ nói về mối quan hệ giữa tính dân tộc và tính nhân dân trong VHNT

17/04/2014 lúc 14:48






T





rong mỗi nền văn hoá dân tộc, yếu tố bền vững và yếu tố tác động của nó đều liên quan tới các hoạt động sáng tạo và giao tiếp của mọi lực lượng người trong xã hội. Nhịp sống của văn hoá, sự sinh thành của nó đều do nhịp sống của lao động sáng tạo và hoạt động giao lưu của các nhóm người đông đảo trong cộng đồng quyết định. Quả tim đích thực của mỗi nền văn hoá dân tộc đều vận hành theo một cơ chế hoạt động của đông đảo nhân dân. Bởi vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định dứt khoát rằng, bằng những sáng tạo của mình, nhân dân đã nuôi dưỡng, phát triển và làm giàu nền văn hoá của mỗi dân tộc. Trong bài nói chuyện tại Đại hội những người tích cực tham gia hoạt động văn hoá, Người nói “Quần chúng là những người sáng tạo, công nông là những người sáng tạo…Những sáng tác ấy là những hòn ngọc quý”...
Diện mạo đặc thù của mỗi nền văn hoá dân tộc được sinh thành từ các phương thức sáng tạo trong lao động. Cơ chế công nghệ của tính dân tộc trong văn hoá, nghệ thuật được khởi nguyên từ lao động sản xuất của hàng triệu người. Có thể nói cách thức chế tác, truyền giữ - thước đo giá trị trong một cộng đồng người đông đảo vừa tạo nên yếu tố bền vững, vừa tạo nên yếu tố sinh thành của mỗi nền văn hoá dân tộc. Người nói “Văn hoá phải gắn liền với lao động sản xuất”(2), phải gắn với lao động sáng tạo của công nông- lực lượng đông nhất trong xã hội...

Lặng lẽ đong đầy một kiếp

22/01/2014 lúc 09:03






T





rải nghiệm, suy ngẫm, triết luận về nhân sinh, người thơ muốn lột khỏi con chữ để đạt đến sự siêu thoát của thơ trong cõi tịch mịch của tâm hồn thi sĩ. Đó là cảm nhận bao trùm nhất khi đọc đi đọc lại tập thơ “Lặng lẽ tôi” vừa được nhà thơ Nguyễn Hoa tặng. Ông đã từng là người lính đi qua chiến tranh, mất còn, thăng, trầm, buồn vui, cay đắng …Ông cũng có: Tuổi trẻ/ Xiết như dòng lũ/ Băng đạn bom xối xả (Trong giấc mơ tôi), ông cũng có kỷ niệm Năm ấy chiến tranh/…/Cùng khẩu súng tôi đi thời tự nguyện (Mây lành trời xa) Thế mà năm mươi bài thơ trong tập không nghe dư âm tiếng súng đùng đoàng, bom cày, đạn xới. Ông không làm một cuộc tái hiện. Lặng lẽ tôi không có chỗ cho bút pháp kể tả. Ở đó cũng không cho những cung bậc nỉ non, da diết, não lòng. Mọi thứ nhập vào xương cốt. Đau cũng không đến mức “tím ruột bầm gan miệng vẫn cười”, vui cũng không đến mức cửa miệng là cửa bể...
Ở cái tuổi sáu mươi Càng đêm, càng lạnh lập đông/ Gió, sao văng vẳng thinh không xui buồn (Vía biếc), ông chế ngự được cảm xúc, chế ngự được sự bốc đồng của ngôn ngữ. Tất cả như một lẽ đi về: “Vui xanh mềm cỏ ướt/ Buồn nuốt mây trắng trôi”… Nhưng cái cách nhà thơ “ngồi thiền” trước vật đổi sao dời, trước nhân tình thế thái mới thật khác người:...

« 4142434445 »

Dự thảo
Du Lịch Quảng Trị

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

05/12

25° - 27°

Mưa

06/12

24° - 26°

Mưa

07/12

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground
tư tưởng Hồ Chí Minh
Dấu xưa
Tiêu đề