Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 25/09/2021 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Văn hóa thời đại

Khi văn chương được xem là hàng hóa

17/04/2014 lúc 14:42






1





. Đánh giá thành tựu văn học, nghệ thuật trong 10 năm qua, Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị có đoạn viết: “Đã hình thành một thị trường hàng hoá và dịch vụ các sản phẩm văn học, nghệ thuật; đưa các sản phẩm văn học, nghệ thuật có chất lượng ra nước ngoài, góp phần khẳng định nước ta là địa chỉ giao lưu văn hoá quốc tế trong thời kỳ mới”(1). Nếu tôi không nhầm thì đây là lần đầu tiên trong một văn bản chính thức của Đảng thừa nhận “sản phẩm văn học, nghệ thuật” là hàng hoá. Đó là một trong những nét rất mới, thể hiện tinh thần dám nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật. Sẽ trở thành hàng hoá khi có người bán và người mua, có giá cả và giá trị, có kinh doanh và giá trị thặng dư, có đầu vào và đầu ra, có cả cạnh tranh với đủ ngón nghề tinh vi. Thật ra, văn chương và nghệ thuật, đã trở thành hàng hoá rồi, từ cái thuở Tản Đà phải kêu lên “Văn chương hạ giá rẻ như bèo”; cho đến thời kỳ bao cấp cho dù “mua như cướp, bán như cho” thì vào nhà hát, rạp chiếu phim vẫn phải mua vé, tại bìa 4 mỗi cuốn sách vẫn ghi rõ giá bán. Sự thật là như thế, nhưng trong một thời gian rất dài chúng ta né tránh, sợ gọi văn chương là hàng hoá thì làm giảm cái chức năng cao quý của nó đi. Và sợ nữa là sợ sai quan điểm, sẽ bị phê phán, quy kết này nọ...Nhưng mặc mọi sự sợ hãi, né tránh, thị trường vẫn là thị trường, và các quy luật giá trị vẫn cứ vẫy vùng trong một chiếc áo dù đã bị cố tình làm cho nhỏ lại.
Là hàng hoá thì nó phải sống đủ thân phận của hàng hoá. Nghĩa là, cuối cùng thì người mua quyết định tất cả. Và thế là, lúc sáng tác nhà văn hăm hở, tự tin, say đắm tức là chủ động còn khi cái tài năng, tâm huyết đã được vật hoá, họ bị đẩy lùi phía sau cuốn sách, cam chịu và chờ đợi sự phán quyết của “thượng đế” đối với đứa con tinh thần của mình. Vì vậy, với cách nhìn thoáng rộng, chúng ta thừa nhận văn chương là hàng hoá. Nhưng dù có là hàng hoá nó cũng không biến thành thứ vật dụng, tiện nghi thông th­êng. Nên gọi văn chương là hàng hoá đặc biệt chăng? Hàng hoá đặc biệt thì thị trường cũng đặc biệt.
2. Có hàng hoá thì có thị trường. Văn chương đã trở thành hàng hoá thì có chợ văn chương. Trong cái chợ ấy nhu cầu luôn luôn tươi sống.
Bản năng được cắm hoa. Sở thích là ông chủ. Nhà văn chỉ còn là nửa vầng trăng của quy luật cung cầu. Đồng thời với việc anh tác động vào nửa kia thì anh cũng bị nửa kia tác động lại. Một bước của tha hoá. Phiên chợ ồn ào hoá ra một dòng thác thử thách bản lĩnh. Có người vui vΠđể cho cơn lũ cuốn đi. Không ít người bướng không chịu đánh mất mình. Thị hiếu được vuốt ve. Bánh lái của thị trường bắt đầu hoạt động. Sex ư? Bạo lực, gala cười rẻ tiền ư? Ám chỉ chửi bới ư? Có cầu thì có cung. Thị hiếu luôn luôn biết cách tự bào chữa.
Câu chuyện sẽ trở nên đơn giản hơn và dễ hiểu hơn nếu chỉ có cuộc đối thoại tay đôi giữa người viết và người đọc. Mối quan hệ tinh khiết này bị phá vỡ bởi sự xuất hiện của nhân vật thứ ba - các nhà kinh doanh. Giữa chữ hay và chữ dở có thêm một chữ lợi. Hãy cẩn thận với chữ lợi này. Nó hiền lành và hung dữ, vô cảm và ranh ma, ngọt ngào và cay đắng. Và ở đâu, lúc nào nó cũng vô cùng thực dụng. Một tình thế mới xuất hiện: thật giả, trắng đen, tốt xấu lẫn lộn. Bản chất của thị trường là nhất thời. Hồn cốt của văn chương là bền vững. Cuộc xung đột không dễ hoà giải. Có những cuốn sách được vồ vập một lúc rồi chìm lặng chỏng trơ. Có những cuốn sách hôm nay bị hờ hững, ghẻ lạnh nhưng lại được đời sau tôn vinh, sủng ái. Vậy chân lý là ở đâu. Nhà văn chi phối thị trường hay ngược lại? Theo tôi là cả hai. Nhưng cái quyết định là bản lĩnh của các nhà sáng tạo.
3. Vậy cái thị trường mà chúng tôi muốn bàn đến hôm nay là thị trường nào. Hội nhập rồi. Vào WTO rồi, ta đang đi vận động để thế giới công nhận Việt Nam có thị trường đầy đủ. Thị trường đầy đủ là thị trường như thế nào? Người Mỹ, người Anh, người Pháp công nhận ta có thị trường đầy đủ đương nhiên là theo tiêu chuẩn của họ, phải là thị trường tự do với sự tác động dữ dội của các quy luật của chủ nghĩa tư bản. Trong khi đó, ta nói vận hành nền kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Vậy thị trường đầu tư và thị trường định hướng xã hội khác nhau như thế nào?
Trên lý thuyết, chúng ta không có nhà xuất bản tư nhân. Ngoài một số nhà xuất bản khá giả nhờ được hỗ trợ đầu vào hoặc bao tiêu sản phẩm đầu ra, còn nhiều nhà xuất bản đang lâm vào tình trạng khó khăn. Khó khăn nhưng vẫn sống được vì có các nhà sách. Các nhà sách này đang đóng vai trò cấp vốn, thao túng các nhà xuất bản, dưới danh nghĩa liên kết. Họ là tư nhân, đại diện cho người đọc, sứ giả của thị hiếu. Sách tốt mà không bán được thì họ cũng không in. Và ngược lại. Muốn định hướng thì ngoài luật pháp, chúng ta phải tìm cách tác động vào vốn của cả xuất bản và báo chí. Là nhà cấp vốn, sự định hướng sẽ hùng hồn hơn nhiều, hiệu quả hơn nhiều.
4. Dịch vụ là một khâu quan trọng của thị trường. Hãy chú ý đến vai trò của phát hành và quảng cáo. Phát hành của chúng ta chưa tốt. Có những cuốn sách chiết khấu 46% phát hành phí. Lưu thông phân phối lấn át nhà sản xuất. Thật nghịch lý. Trong thị trường văn chương, chỉ nhà văn mới duy nhất là nhà sản xuất. Phát hành, quảng cáo đều là dịch vụ. Một chiếc chăn bị kéo cho dịch vụ quá nhiều thì nhà văn phải chịu rét.
Ở Mỹ có một dịch vụ hỗ trợ các nhà văn. Bên cạnh Hội các nhà văn Mỹ gần 2.000 người, còn có Hội những người bảo hộ các nhà văn cũng với số lượng tương đương. Có nhà văn tham gia cả hai Hội, nhưng chủ yếu Hội bảo trợ (tạm gọi là thế) là những luật sư. Khi nhà văn viết xong một cuốn sách, anh ta nhấc máy điện thoại lên, ít phút sau sẽ có người của Hội bảo hộ xuất hiện. Nhà văn muốn in sách ở đâu, khổ sách, bìa sách thế nào, lấy bao nhiều phần trăm giá bìa cứ nói hết với người bảo hộ. Người bảo hộ đi tìm nhà xuất bản thoả mãn yêu cầu của nhà văn và họ thay mặt nhà văn ký các hợp đồng. Đương nhiên, quá trình thương thuyết sẽ diễn ra nhiều lần, cả nhà văn và nhà xuất bản đều phải điều chỉnh ham muốn lợi ích, cho đến lúc hai bên đều có thể chấp nhận được. Người bảo hộ không được các nhà xuất bản trả tiền. Anh ta lấy từ 10 - 12% hoa hồng từ khoản nhuận bút của nhà văn. Nhuận bút càng nhiều, hoa hồng càng lớn, do vậy các nhà bảo hộ luôn đứng về phía nhà văn...
 

Một dòng thơ lặng lẽ

23/01/2014 lúc 09:42






P





han Văn Quang - Một dòng thơ lặng lẽ tự nhiên chảy ra từ tình yêu sâu nặng chân thật với quê hương. Một dòng thơ ít biến đổi về mặt hình thức nhưng không hề lạt lẽo giả tạo về tình cảm. Một dòng thơ hiền lành chân chất, man mác buồn trong cấu trúc truyền thống quen thuộc mà sự hoài niệm, theo tôi là âm hưởng chủ đạo của tập thơ mang tên Dấu mùa se lạnh này.
Tôi hình dung, bên chiếc thúng đời, gã ngồi trệt xuống cỏ nhặt ra những hạt thóc thơ, dù lép, dù chắc nhưng đều thấm đẫm nắng gió quê nhà và mồ hôi nước mắt của bao kiếp người cơ khổ. Những hạt thóc thơ của gã chưa qua xay giã giần sàng, phảng phất hương đồng gió nội, rặm rụa xa xót và gần gũi làm sao. Thơ gã - Phan Văn Quang - đáng yêu chính là ở điểm ấy. Thơ như đời, thô mộc, bình dị mà ân nghĩa trước sau.
Như nhiều người làm thơ khác, mẹ - cha luôn là nỗi nhớ thương và yêu dấu của cuộc đời. Về chợ Tỉnh, giữa eo xèo ồn ã cảnh bán mua, Quang vẫn để lòng mình lắng lại với những kỷ niệm cũ xưa và ngẫm suy về mẹ - cha, về cuộc đời:
Chợ chiều quang gánh đừng buông
Đếm bao lưng thúng vô thường nghiêng qua
Con từ máu thịt mẹ cha
Chông chênh giữa chợ bước ra cuộc đời
                   (Con về chợ Tỉnh)
Mới chỉ mấy chấm phá, những thân phận đã hiện ra, cuộc sống gạo chợ nước sông bấp bênh, chông chênh biết mấy. Và, cái điều hiển nhiên, rất hiển nhiên của loài người thêm lần nữa được trình bày qua thơ của thi sĩ chân đất Phan Văn Quang: không ai chọn trước được cho mình quê hương và mẹ. Ở một hoàn cảnh khác, khi đưa các con về viếng mộ ông bà, Phan văn Quang cũng có những câu thơ đầy lay động:
Chiến tranh ngăn cả lối về
Con sông cách một rẻo quê mẹ nằm
Tính ta già ba chục năm
Từ nay mẹ lại được nằm bên cha
 
Cháu chưa biết mặt ông bà
Lạy hai phần mộ chia xa lại gần
                   ( Mẹ và Cha)
Hình ảnh quê nhà trong thơ Quang hiện lên bao giờ cũng nét và ngập tràn tình thương mến. Dù nói tới cái buồn, sự khắc khổ, nhưng nó vẫn mang nét Quảng Trị và dấu riêng của người cầm bút:
Đất nẫu lòng chênh dáng mẹ gian nan
Thân chuối úng nghiêng chiều quê lạc gió
Phù sa núi phủ bạc đầu ngọn cỏ
Bàn chân trần nứt nẻ dấu bùn non
 
Đời làng và khúc sông con
Đêm mờ ảo lay ngọn đèn leo lắt
Chiếc lá - mẩu trăng vàng mẹ nhặt
Ngọn tre buồn lẳng lặng giữa đêm riêng
(Mảnh trăng qua mùa lũ)
          Có lẽ, cuộc đời Quang, chông chênh từ chợ bước ra nên hình ảnh chợ quê luôn là nỗi ám ảnh của gã. Hình ảnh chợ xuất hiện với tần suất khá dày trong thơ gã. Đó là một góc quê nhà yêu dấu gắn liền với tuổi thơ, tuổi trẻ. Ai ngờ rằng ẩn trong dáng bộ có vẻ bụi đời của gã là một tâm hồn trong trẻo hồn nhiên:...
 

Vai trò, ý nghĩa câu thơ trong cấu trúc tứ tuyệt

23/01/2014 lúc 09:36






C





âu thơ là đơn vị cấu thành cơ bản của tác phẩm thơ. Nói chung câu thơ  trùng với dòng thơ (như trong thơ 4, 5, 6,7 ,8 tiếng) chỉ riêng lục bát hai dòng, tự do một dòng nhiều câu hoặc một câu nhiều dòng (như trường hợp bài thơ Tập qua hàngcủa Chế Lan Viên).
Vì thế, có lẽ nên thống nhất quan điểm tính đơn vị câu thơ ở chỗ là ngắt xuống dòng bốn lần như trong  tứ tuyệt.
Theo quan điểm trên thì câu thơ là một dòng thơ, là một đơn vị nhịp điệu, đơn vị ý nghĩa thơ, đơn vị liên kết trong bài thơ. Theo L.Timôphêep, câu thơ là một đơn vị đơn giản nhất của ngôn ngữ xúc cảm, là đơn vị ngữ điệu độc lập, là  hình thức tổ chức ngôn ngữ để bộc lộ tính cách(có lẽ đấy là cái tôi- VVL nhấn mạnh). Câu thơ còn là một đơn vị của lời văn, lời nói nghệ thuật. “Người mang lời nói có giọng nói riêng, nhờ vậy, thế giới bên trong của nhân vật, không chỉ được phát hiện ở ý nghĩa lôgic của lời nói mà còn bộc lộ qua cách nói, cách tổ chức lời nói”. Giọng nói riêng ấy chính là phong cách ở nhà thơ, thường đóng dấu rõ nét trên một thể loại sở trường nào đó.
Trên đại thể, câu thơ hiện đại khác câu thơ truyền  thống ở chỗ mang lời nói tự nhiên của đời sống vào thơ. Câu thơ tự do đã chiếm ưu thế với tính năng động , co duỗi tự nhiên, ít lệ thuộc vào vần, câu thơ toàn vần bằng hay toàn vần trắc; hoặc phần lớn là vần bằng, phần lớn là vần trắc, vào hoà thanh và nhịp cố định. Nhịp của thơ là nhịp điệu của tâm hồn.
Các câu thơ mang ý nghĩa triết học hay tổng kết một vấn đề, nêu lên một kinh nghiệm, một bài học, một suy nghĩ sâu sắc, một nhận xét, một quan sát tinh tế, lịch lãm thường là những câu thơ hay của tứ tuyệt, trọn vẹn cả hình thức nghệ thuật: Ngữ điệu, tiết tấu lạ và thuận tai, cách dùng ẩn dụ tinh tế, cách chọn từ công phu. Theo PGS Nguyễn Khắc Phi: “Trong các cuốn từ điển danh cú (những câu thơ hay, những câu văn hay) xuất bản gần đây ở Trung Quốc, những câu thơ tuyệt cú đời Đường thường chiếm tỷ lệ cao nhất so với các thể tài khác. Nhiều  danh cú trích từ tuyệt cú đời Đường đã biến thành câu nói thường ngày thể hiện những chân lý phổ quát của cuộc sống muôn thuở”.
Mỗi bài thơ tứ tuyệt là một chỉnh thể trọn vẹn. “Thể tuyệt cú cũng theo phương hướng khai - thừa - chuyển - hợp của luật thi”. Nghĩa là câu đầu khởi nhập, câu hai chuyển tiếp câu đầu, câu ba chuyển từ đề mục để khởi phát ý mới và câu bốn là hội tụ của ba câu trên nhập lại cùng nhau.
Song xét trong thực tế không bao quát được sự đa dạng trong cấu trúc của thơ tứ tuyệt . Có kiểu bài từng câu có vị trí độc lập (nhất  cú nhất tuyệt) tạo nên vẻ đẹp của bức tranh tứ bình. Bài ngũ tuyệt dưới đây có thể xem là khá tiêu biểu cho sự toàn vẹn ấy:
Tháng năm xanh ai đốt
Tàn tro bay trắng đầu
Về quê thăm bạn cũ
Mây bồng bềnh mắt nhau
(Thăm bạn - Nguyễn Ngọc Oánh)
Nhà thơ có cái tài lấy một sợi tóc (một hoán dụ) từ xanh đến bạc mà gói được cái kiếp người ngắn ngủi trong bể dâu thân phận. Bài tứ tuyệt cô đọng trong mỗi chữ mỗi câu mà chất chứa, dồn nén tình người, tình bạn sâu nặng và cảm động.
Song bố cục thường gặp nhất ở một bài tứ tuyệt là theo công thức 2/2. Tuy nhiên, theo khảo sát một số lượng lớn thơ tứ tuyệt đời Đường của của PGS Nguyễn Khắc Phi thì thấy “bố cục hết sức đa dạng: 1/1/1/1, 2/1/1, 1/1/2, 1/3, 3/1”.
Cũng cần thấy rằng đặc điểm thơ tứ tuyệt không chỉ thể hiện qua cách luật (vì nếu xét vậy thì thơ tứ tuyệt hiện đại khó nhận ra trong cấu trúc này).
1. Câu thơ thứ nhất:
Câu thứ nhất là khởihoặc phá - Giữ vị trí khiêm tốn, chỉ là sự mở đề, tạo ra “duyên cớ” để triển khai tứ thơ nhưng thường ngay trong câu đầu đã hàm chứa nội dung, hàm chứa tình cảm tác giả. GS Phan Ngọc cho rằng: do cái tứ nảy sinh bài thơ tứ tuyệt là chủ yếu nên thường  cái câu hay nhất, cái câu phát hiện tứ thơ thường đến trước. Câu ấy thường lùi vào vị trí thứ 3,4 của bài thơ. Câu một hoặc hai chỉ làm cái việc “lắp ghép” cho hợp lý để hoàn thiện bài thơ. Lý thuyết thì như vậy nhưng theo chúng tôi, “vạn sự khởi đầu nan”, vào đề xuôi chèo mát mái được phải tìm giọng. G. Maket, nhà văn lớn của Châu Mỹ La -tinh và của thế giới thú nhận rằng bắt đầu tác phẩmTrăm năm cô đơn rất vất vả vì không tìm được giọng. Nên không thể coi thường thể “thơ cầm tay” (chữ Chế Lan Viên) như tứ tuyệt....
 

Lễ hội cách mạng với việc GD truyền thống cho thế hệ trẻ góc nhìn từ Quảng Trị

17/04/2014 lúc 14:43

      IV) Một số kinh nghiệm trong việc xác định, quy hoạch và xây dựng các lễ hội Cách mạng ở Quảng Trị.
Như đã nói ở phần trên, chúng ta có thể tổ chức một đại lễ vô cùng hoành tráng có nhiều vạn người tham gia, cũng có các hoạt động văn hóa nghệ thuật rất đặc sắc, tạo nên tiếng vang rất lớn, nhưng không phải là lễ hội.
Muốn xác định một hoạt động cộng đồng có phải là lễ hội hay không cần tìm hiểu trở lại sự ra đời và tồn tại của loại hình này trong dân gian và truyền thống. Theo chúng tôi có 3 thuộc tính căn bản để nhận diện chúng.
a) Thuộc tính thứ nhất là một sự tô héi tù nguyÖn của nhân dân, trước hết do một cộng đồng dân cư hẹp (một làng hoặc một vùng miền) tự đứng ra tổ chức. Chính quyền cùng cấp hoặc cấp trên chỉ làm nhiệm vụ bảo trợ, quản lý. Nếu sức sống của lễ hội lớn có thể lôi cuốn khách hành hương cả nước và quốc tế đến, nhưng vẫn không phải là cuộc mét tin lớn của Nhà nước. Tất nhiên, việc hình thành được những lễ hội mới (tức là chưa có tiền lệ trong dân gian) thì lúc đầu Nhà nước có thể đứng ra tổ chức, tuyên truyền cổ động. Nhưng khi đưa ra chủ trương đó, Nhà nước cần xác định thật khách quan xem nội dung lễ hội này có đáp ứng được nhu cầu tự thân của nhân dân hay không. Và như phần trên đã nói, nếu câu trả lời là không hoặc rất ít thì dù có cổ động đến mấy, tổ chức hay đến mấy nó vẫn không thể tồn tại lâu bền được.
b) Thuộc tính thứ hai là tính định kì. Lễ hội phải là hoạt động định kì đúng vào một ngày nhất định trong năm hoặc trong vài ba năm, giống như ngày giỗ, chạp của gia dình, dòng họ hay một làng xã. Có như vậy nó mới trở thành tâm thức của cộng đồng, nó sẽ trở nên thiªng ho¸.Tôi thấy hiện nay khi dịch ra ngôn ngữ quốc tế, người nước ngoài hiểu lễ hội là Festival. Theo tôi hiểu như vậy chỉ đúng một phần, chưa đúng hoàn toàn với phàm trù Lễ hội của văn hóa Việt Nam. Lễ hộiHoa §µ L¹t hay Cµ phª T©y Nguyªn, hay Cè §« HuÕthì dùng Festival được.Vì nó đơn thuần là tổ chức một cuộc gặp gỡ giao lưu. Ở Quảng Trị chúng tôi cũng tổ chức thành công một số loại Festival như thế. Đó là Lễ hội Văn hóa-Du lịch NhÞp cÇu xuyªn ¸hay Liên hoan nghệ thuật TiÕng h¸t ®­êng ChÝn xanh. Nhưng Lễ hội Chùa Hương, Đền Hùng, Yên Tử v..v.. thì không đúng. Lễ hội Tri ân tháng bảy, Đêm Thành Cổ hay Ngày hội thống nhất non sông ở Quảng Trị thì cũng không thể gọi là Festival đựơc. Một cuộc giao lưu không nhất thiết phải diễn ra đúng một ngày nào đó, thậm chí căn cứ vào điều kiện cụ thể cũng không nhất thiết phải đúng năm đã hẹn. Nhưng một lễ hội cũng giống như ngày giỗ chạp ông bà, giµu lµm kÐp hÑp lµm ®¬n nhưng không thể bỏ và cũng không thể sai ngày. Rất tiếc là hiện chưa biết thay  từ Festival bằng từ gì?
c) Một lễ hội muốn tồn tại lâu bền và tự nguyện bắt buộc phải đảm bảo thỏa mãn một số yêu cầu thiết yếu của cộng đồng và của từng cá nhân. Nổi bật là các nhu cầu tâm linh, tín ngưỡng và nhu cầu vui chơi, giải trí, giao lưu tìm hiểu, liên kết bạn bè. Ông cha vẫn nói: V¨n lµ tiÕng chim gäi ®µn. Lễ hội văn hóa chính là tiếng chim gọi đàn, gọi đồng loại, bạn bè. Kết cấu một Lễ hội thường có 2 phần. Phần Lễ chính là để thỏa mãn nhu cầu tâm linh. Phần Hội là hoạt động thỏa mãn sự giao lưu và giải trí.
Lễ hội mới, Lễ hội Cách mạng đương nhiên phải mang nội dung mới, nội dung Cách mạng. Nhưng nếu không tôn trọng quy luật ra đời và tồn tại của hình thức lễ hội thì chúng ta vẫn chỉ tổ chức được một cuộc mét tin, một lễ kỉ niệm hay một ngày ra quân tuyên truyền chính trị chứ không thể xây nên một loại hình lễ hội để trở thành di sản văn hóa cho đời sau.
Qua thực tiễn hoạt động văn hóa tại Quảng Trị chúng tôi tự rút ra cho mình một số kinh nghiệm như sau:
1- Muốn xây dựng thành công một Lễ hội Cách mạng yếu tố đầu tiên phải tính đến đó là Thiªn thêi. §Þa lîi, Nh©n hoµ.
Thực chất thì đó là xác định không gian và địa điểm chính của Lễ hội.
Ở trên đã nói, một Lễ hội văn hóa phải đặt trong một không gian văn hóa, phải trở thành một phần của không gian văn hóa đó. Tuy nhiên trong cái không gian văn hóa chung đó, không phải muốn bày đặt ra lễ hội ở chỗ nào cũng được. Ngày giỗ tổ nhất thiết phải diễn ra chỗ có mộ tổ hoặc đình thờ tổ. Ngày hội làng là ở đình làng hoặc chí ít cũng tại một nơi nào đó ở giữa làng. Một lễ hội Cách mạng phải gắn với một địa chỉ, một di tích lịch sử mà tự bản thân nó đã từng cuốn hút sự hướng đến của cộng đồng. Lễ hội Thống nhất non sông phải ở di tích chia cắt đất nước. Đêm tưởng niệm Thành Cổ và thả hoa đèn thì phải ở Thành Cổ và sông Thạch Hãn. Lễ tri ân tháng bảy phải là Nghĩa trang quốc gia. Nói theo phạm trù văn hóa thì phải tôn vinh giá trị phi vật thể ngay ở những nơi tọa lạc di sản vật thể. Có được một địa điểm như vậy chính là có §Þa lîi....
 

Lặng lẽ Thúy Sâm

23/01/2014 lúc 09:13






T





húy Sâm lặng lẽ lao động bằng cây bút, chăm chỉ như một nông dân vùng sâu vùng xa trồng dược liệu quý, cần mẫn như con tằm kéo kén và hôm nay có được nén tơ vàng thơm “Cánh sóng miền xa”. Đây là tập bút ký, tùy bút, ghi chép gồm một số tác phẩm đã đăng tải trên các báo, tạp chí và các tuyển tập văn chọn lọc.
Thúy Sâm khiêm tốn nói rằng: Em viết văn không nhằm trải một manh chiếu giữa làng văn cả nước, chỉ viết bằng tình yêu và trách nhiệm. Nay tập hợp lại làm món quà tinh thần nho nhỏ gửi tặng nhân dân tỉnh nhà và những bạn văn thân thiết đó đây.
Đáng trân trọng là bản lĩnh và định hướng của Thúy Sâm. Tất cả những tác phẩm đều tập trung vào đối tượng công - nông - binh, vào cuộc sống lao động sản xuất, dựng xây, tình cảm cách mạng và tình cảm thuần Việt của họ. Giữa bao nhiêu nhốn nháo đi tìm cái khác lạ đến mức kỳ khôi, tác phẩm của Thúy Sâm bám chặt vào cội nguồn: Đất Quảng Trị, người Quảng Trị. Giữa bao nhiêu mưu toan lấy chủ quan của cá nhân làm thước đo thẩm định lại lịch sử đã qua, vĩ nhân đã được tôn vinh, Thúy Sâm vẫn đứng vững và bước đi trên con đường văn hóa văn nghệ của Đảng. Trước khi đặt bút xuống trang giấy đã trả lời được những câu hỏi viết như thế nào? Viết cho ai? Viết để làm gì? Tác phẩm viết ra chứa đựng nội dung trong sáng, rõ ràng quan điểm địch ta, tốt xấu, phải trái, nhìn rõ khó khăn, gian khổ của công cuộc xây dựng nhưng vẫn nhìn thấy phía trước một tương lai ngày càng tốt đẹp hơn.
Thúy Sâm đã từng là lính. Quê Thúy Sâm ở vùng biển Vĩnh Linh. Cái vùng quê ven biển ấy trong chiến tranh đã chịu ba tầng hỏa lực tàn sát của địch, từ trời dội xuống, từ Nam bắn ra, từ biển dội vào. Miền quê ấy đã có biết bao người con ưu tú hy sinh để chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, chi viện cho Cồn Cỏ anh hùng đứng vững cho đến ngày chiến thắng. Nay Thuý Sâm cầm bút viết văn, viết báo, mặc áo trắng, áo hoa nhiều sắc màu nhưng trở về với đồng đội tâm hồn bao giờ cũng đậm đà màu xanh của lính. Trở về với đồng đội là trở về với chính mình.
Đó là lý do Thúy Sâm vượt biển ra với những người lính giữ Cồn Cỏ - mảnh đất của Tổ quốc giữa trùng khơi; leo lên đỉnh Ba-rai cao vút lên Cù Bai với những chiến sĩ Biên phòng; tìm đến những chiến sĩ xây dựng đất nước trong thời bình ở những nơi xa xôi, hiểm trở; ghé thăm những cựu binh đào địa đạo Vĩnh Linh và những người trở lại với đời thường xây dựng cuộc sống mới.
Viết về người lính, Thúy Sâm phản ánh những hy sinh gian khổ của họ trong thời chiến và trong thời bình nhưng không dừng lại ở đó. Gian khổ và hy sinh của người lính người nào cũng biết, thời nào cũng biết, nhà văn nào cũng viết. Thúy Sâm chỉ lấy đó làm nền để tôn vinh phẩm chất cao quý của anh Bộ đội Cụ Hồ:Dù thời chiến đầy bom đạn, dù thời bao cấp nhiều thiếu thốn, thời thị trường đầy những đua chen, anh Bộ đội Cụ Hồ vẫn đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết, vì nhiệm vụ sẵn sàng tạm gác hạnh phúc và quyền lợi riêng tư. Từ trung tá Nguyễn Tấn Trịnh đồn trưởng đồn Cù Bai đến người lính già lái xe Đinh Văn Khả, những người lính trẻ Công Bình, Phan Hồng Chương, Nguyễn Văn Thắng… mỗi người một nét đẹp, mỗi cá tính riêng nhưng tất cả cùng một phẩm chất cách mạng.
Viết về công nông Thúy Sâm không thiên về miêu tả những giọt mồ hôi, gõ búa, gieo trồng, gặt hái… bởi nó cũng “xưa như trái đất”. Tác giả tập trung phát hiện những ý chí vươn lên làm ăn ngày càng no đủ, làm giàu, phát hiện những con người táo bạo và dũng cảm vượt lên hoàn cảnh, tưởng là bình thường mà phi thường, có sức lay trời chuyển đất. ấy là những người nông dân Triệu Phong chỉ một chiếc xe kéo tay dám dời cả làng ra vùng cát, giăng dây chia nhau đất, áp dụng khoa học kỹ thuật trồng lạc, dưa hấu, bắp… và đã thắng lợi. Một vùng cát hàng ngàn héc ta hàng ngàn năm ngủ yên và gây hại bây giờ đã “nở hoa” trở thành vùng sinh thái trù phú và xanh tươi màu hoa trái “hiện rõ lên màu ấm no”.
Họ là những công nhân giữa đại ngàn xanh, chăm chỉ ươm mầm trồng thêm hàng ngàn héc ta bạch đàn, keo… phủ xanh đồi trọc. Họ dám ra đảo xa xây dựng làng mới, huyện đảo. Họ chắt chiu dòng nhựa trắng cho đời… Mỗi con người một vị trí, một công việc khác nhau trở thành nhân vật trong văn Thúy Sâm là con người mới xã hội chủ nghĩa. Là mẫu người của thời hội nhập không thể hòa tan...
 

20 năm ca khúc Quảng Trị

23/01/2014 lúc 09:12






C





hiến tranh đã từng cày nát mảnh đất này, mấy chục năm hoà bình vẫn chưa liền sẹo. Bão lụt, nắng hạn, gió cát đã, đang và sẽ còn gây tai hoạ cho mảnh đất này... Nhưng sức sống cứ trồi lên: “Hoa là giấc mơ của Đất. Âm nhạc là khát vọng của Đất” (Hoàng Phủ Ngọc Tường). Hồn nhạc Quảng Trị đủ hằn lên năm tháng một cốt cách, một tinh thần của những con người giàu lòng thuỷ chung ân nghĩa, đoàn kết một lòng đối mặt cùng thử thách. Phải chăng, đây chính là những phẩm chất tinh tuý góp phần tạo nên và nuôi dưỡng nhiều hồn nhạc, để đến ngày tỉnh Quảng Trị được lập lại, trở về với tên gọi chính mình, thì những người con sinh ra từ núi cao sông dài của quê hương và bạn bè khắp chốn lại hát tiếp dòng giai điệu sử thi hoành tráng của một Quảng Trị dựng xây ngày mới. Vâng, “Tất nhiên là thế, những gì đã đủ sức mạnh chuyển hoá thành tâm hồn thì không thể tự nó mất đi, mà mãi mãi sinh thành” (Hoàng Phủ Ngọc Tường).
Tháng 7 năm 1989, tỉnh Quảng Trị được lập lại. Đồng hương Quảng Trị tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh viết thư nhắn nhủ Trần Hoàn cố gắng dành thời gian viết bài hát cho tỉnh nhà nhân sự kiện quan trọng đó. Ban Biên tập Báo Quảng Trị cũng đã tìm đến, đề nghị ông viết bài hát để đăng trên số báo đầu tiên. Nhạc sĩ nhận lời và khi chuẩn bị xuất bản số báo thứ 3 thì nhạc sĩ gửi đến toà soạn Báo một bản nhạc ghi ngày 10/7/1989, đó là ca khúc “Quảng Trị yêu thương”. Cùng lúc đó, ông tặng Đài phát thanh Quảng Trị băng thu thanh ca khúc này do NSƯT Ái Xuân thể hiện. Khó có thể nói hết cảm giác rưng rưng khi giai điệu đầy yêu thương và tự hào của bài hát vang lên trong bộn bề gian khó của những ngày đầu tỉnh nhà được lập lại:
“Quảng Trị ơi, quê mẹ của tôi ơi
Chẳng thể nào quên tiếng mẹ ru hời
Rằng không thơm cũng thể hương đàn
Không trong cũng thể nước nguồn Hàn chảy ra”
Quê hương tình sâu nghĩa nặng nên hầu như mỗi lần về thăm quê là ông lại có bài hát mới. Những “Gửi mẹ yêu thương” (Thơ Lê Bá Tạo), “Lang lư Khe Sanh”, “Đẹp lắm cuộc sống Quảng Trị ơi”, “Chào đường Chín xanh”... lần lượt ra đời trong niềm cảm hứng chân thành của người nhạc sĩ tài hoa.
Những ngày cuối năm 1989, Sở VHTT Quảng Trị có mời một đoàn nhạc sĩ từ Hà Nội vào thực tế sáng tác. Và chuyến đi này đã cho ra đời một loạt ca khúc hay, có sức sống lâu bền trong công chúng Quảng Trị nói riêng và cả nước nói chung. Đó là Tân Huyền với “Cỏ non Thành Cổ”, là lời nhắn nhủ chân tình mà mỗi người dân Quảng Trị hôm nay và mai sau luôn ghi nhớ. Là Thuận Yến với “Nỗi đau và hạnh phúc”, “Người được mang họ Hồ”; là Vũ Thanh với “Quảng Trị mảnh đất ta yêu”, và ước mơ về một thành phố bên sông Hiếu trong “Khát vọng Đông Hà”. Nhạc sĩ Huy Thục thì có “Bản làng mang họ Hồ”, Phú Quang có “Nhịp điệu Quảng Trị”,... Hoàng Sông Hương có “Trở lại Thành Cổ”... Cũng trong thời gian đó, hai nhạc sĩ Quảng Trị có hai bài viết về quê hương mình thật chân thành, da diết, đó là Lê Anh với “Giọng hò thương nhớ”, và Võ Thế Hùng với “Khúc ru Trường Sơn”. Đó là những gì có thể kể ra trong những ngày đầu tỉnh nhà được lập lại.
Thời gian sau, từ hiện thực cuộc sống tái thiết quê hương, bức tranh Quảng Trị đã được vẽ trong những gam màu tươi sáng, mộc mạc, chân thành và rất đỗi yêu thương. Nhạc sĩ Lê Anh làm hẳn một album mang tên “Giọng hò thương nhớ” với hầu hết các sáng tác viết về các địa phương trong tỉnh. Nhạc sĩ Thanh Liêm với album “Hoa cỏ”, trong đó có các ca khúc rất được yêu thích như “Lời ru Akay”, “Về La Ngà”... Trần Tích sau thành công của bài “Mẹ” lại có “Nhịp cầu xuyên Á” phóng khoáng, tự tin, Nhạc sĩ trẻ Xuân Vũ định danh bằng ca khúc “Mồ hôi đá”, sau đó cũng rất thành công với “Bài ca thống nhất”, “Khúc ru rừng thiêng”. Nhạc sĩ Thanh Ngọc sau “Hoa phong ba” lại có một loạt bài ghi dấu ấn trong lòng công chúng như “Mùa trăng”, “Gio linh khúc ru tình”, “Âm vang bên Krông Klang”. Nhạc sĩ Lê Quang Nghệ vẫn trung thành với dòng nhạc dân gian truyền thống, trước lúc đi xa ông cũng kịp để lại cho đời một giai điệu “Về Cam Lộ” da diết ân tình....
 

Miền quê thương nhớ - Mảnh hồn quê thắm thiết Chế Lan Viên

23/01/2014 lúc 09:11






A





i cũng có một miền quê thân thương nơi sinh ra và lớn lên ở đó. Cũng có khi đó là cái gốc, là cội nguồn gia đình, gia tộc để từ đó ra đi và trưởng thành.
Trong những năm đánh Mỹ, do hoàn cảnh tạm thời chia cắt, nhiều nhà văn tập kết miền Nam, đã phải xa cách quê nhà. Tưởng hai năm mà đằng đẵng gấp mười lần thế.
Đây cũng là thời nổi lên trong văn học, một dòng thơ văn - tạm gọi là thơ văn đấu tranh thống nhất. Tế Hanh nổi tiếng với Con sông quê hương, Xuân Diệu day dứt một nỗi niềm Nhớ quê Nam trong đó có sông Gò Bồi, có tháp Chàm Bình Định…, còn Tố Hữu có Quê mẹ là tiếng hát của tình thương yêu, tôn vinh người mẹ gắn kết máu thịt với quê hương và cách mạng.
Chế Lan Viên cũng là nhà thơ miền Nam, có quê Nam. Bởi Quảng Trị và Bình Định nằm ở phía bên kia giới tuyến. Thực ra là hai quê hương nhưng tạm ở một miền. Tiểu sử ghi ông sinh ở Cam Lộ, Quảng Trị. Đến năm 1927 gia đình chuyển vào An Nhơn, Bình Định. Theo dòng sáng tác, Chế Lan Viên được coi là người viết sớm nhất cho dòng văn học đấu tranh thống nhất: Gửi mẹ trong vùng giặc chiếm (1952) được in trong Gửi các anh.
Điều đặc biệt với Chế Lan Viên là quê hương sinh thành cũng là vùng quê sáng tác. Nơi đó là dấu ấn sâu đậm cuộc đời mà cũng là mảnh tâm hồn thắm thiết trong đời thơ. Ngay cả ở Hội An, một đô thị cổ, nơi Chế Lan Viên đã có ít tuổi thơ ở đó (sáu, bảy tuổi), mà cũng sâu nặng tình yêu Hội An Chẳng là quê/ Mà là hương khổ thế! (Hội An) "Hương chùa hay hương tóc" đã quyện thành "hương người", "hương quê".
      
Quảng Trị, Bình Định, hai miền quê hương ruột thịt nổi lên như mảnh hồn thơ sáng láng Chế Lan Viên.
Thực ra Quảng Trị chỉ là quê hương thuở ấu thơ. Nhưng sau này, đây lại là địa bàn hoạt động của chàng thanh niên yêu nước sôi nổi trong kháng chiến. Ở chiến trường Bình Trị Thiên, tính ác liệt lại như tăng gấp bội vì là vùng đất nghèo sỏi đá trong vùng kìm kẹp của kẻ địch. Gửi mẹ trong vùng giặc chiếm (1952) là những giọt nước mắt lặn vào bên trong, nhớ thương bà mẹ đẻ cũng là bà mẹ chiến sĩ. Bài thơ thành thật cảm động khiến người đọc chảy nước mắt.
Nay mẹ bị cầm chân nơi đất giặc
Bốn phía là gươm, bốn bề là sắt
Mẹ mến thương ơi! Con mẹ đây rồi!
Nhưng mắt con không khóc nữa
Chừ có khóc cũng khóc thành ra lửa
Có ngã đau cũng dậy cho mẹ cười
Con sống hiên ngang và nếu chết sẽ nên đời.
Thương mẹ, nhớ quê, hẹn ngày kháng chiến thành công: Con sẽ lại khóc ròng / mẹ sẽ thương hơn....
 

Lễ hội cách mạng với việc giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ góc nhìn từ Quảng Trị

17/04/2014 lúc 14:43






Q





uảng Trị, một mảnh đất nhỏ nằm gần chính giữa trung điểm của Tổ quốc mà một nhà văn đã ví là điểm tỳ vai của chiếc đòn gánh trĩu nặng hai đầu giang sơn Việt Nam.
Quảng Trị không có nhiều lợi thế về phát triển kinh tế nhưng lại là vùng đất giao thoa của các luồng văn hóa đông - tây - nam - bắc nên trầm tích trong nó một gia tài văn hóa không nhỏ.
Quảng Trị là đất phên dậu, là chốn giáp ranh của những cuộc chiến khốc liệt và dai dẳng nhất trong lịch sử dựng nước và giữ nước của Việt Nam. Đặc biệt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Quảng Trị trở thành nơi chia cắt, thành giới tuyến quân sự và nơi đụng đầu trực tiếp của hai thế lực Cách mạng và phản Cách mạng điển hình của lịch sử nhân loại. Vì thế mảnh đất này đã trở thành tro bụi của sự hủy diệt, thành nghĩa địa chung của hàng vạn người con cả dân tộc cũng như nhiều con người bên kia chiến tuyến.
Với một đặc điểm lịch sử như vậy, Quảng Trị trở thành vùng đất chịu sự biến động lớn nhất, li tán và xáo trộn nhất. Điều đó cắt nghĩa vì sao, một vùng đất có bề dày và chiều sâu văn hóa như Quảng Trị mà hôm nay rất nhiều di sản văn hóa cả vật thể lẫn phi vật thể đều bị phai nhạt, vụn vỡ, thậm chí nhiều di sản chỉ còn lại trong ký ức.
Có lẽ gia tài văn hóa đồ sộ nhất, nóng hổi nhất khả dĩ đưa tầm vóc văn hóa Quảng Trị ngang tầm với những vùng đất khác trong nước cũng như trên thế giới đó chính là di sản văn hóa Chiến tranh và Cách mạng.
Trong nhiều năm qua, mặc dầu phải vật lộn với công cuộc tái thiết lại quê hương từ tro bụi chiến tranh với bao gánh nặng của di chứng hậu chiến, nhưng Đảng bộ và nhân dân  Quảng Trị vẫn coi việc bảo tồn và phát huy các giá trị của di sản đó như là một động lực để tạo ra sức mạnh vật chất cho công cuộc đổi mới và xây dựng quê hương.
Trong tất cả những thành tựu về xây dựng đời sống tinh thần cho nhân dân thì việc xây dựng và tổ chức có hiệu quả các lễ hội mới - Lễ hội Cách mạng là một cố gắng lớn rất đáng ghi nhận. Và thực tế cho thấy, các lễ hội Cách mạng được tổ chức thành công không chỉ đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt tinh thần của nhân dân mà còn góp phần giáo dục truyền thống một cách rất có hiệu quả đối với cộng dồng, nhất là thế hệ trẻ, đã tạo nên một sức mạnh mới cho sự phát triển, gắn kết truyền thống anh hùng trong quá khứ với khát vọng đổi mới hôm nay, vừa hun đúc tình yêu quê hương mãnh liệt cho con em Quảng Trị, vừa tạo thêm cơ hội để đồng bào, đồng chí trên cả nước tiếp tục hướng về Quảng Trị, tiếp sức cho Quảng Trị vươn lên tiến kịp bạn bè.
Có thể nói, xây dựng và tổ chức các lễ hội Cách mạng là một mũi đột phá trong nhiệm vụ xây dựng đời sống văn hóa và cũng là cách đột phá để tạo nên tiềm năng mới cho sự nghiệp phát triển kinh tế của Quảng Trị.
Bằng thực tiễn hoạt động, chúng tôi xin tự rút ra một số kinh nghiệm và bài học trước hết cho chính bản thân mình, sau  hầu mong bạn bè có thể tham khảo, bổ cứu.
I - Tổ chức lễ hội, một cách thức vật thể hóa những giá trị phi vật thể.
Cũng phải mất một thời gian kể từ khi những khái niệm và phạm trù Văn hóa được hiểu một cách thấu đáo cả bề rộng lẫn chiều sâu thì chúng ta mới có thể nhận thức được điều căn bản này: trên một Di sản Văn hóa nếu không có những giá trị phi vật thể thì sẽ chẳng có giá trị vật thể. Và như thế cũng chẳng còn có gì để gọi là Di sản văn hóa. Lý thuyết có vẻ đơn giản nhưng trên thực tế đã từng xẩy ra sự hiểu và làm không đúng hoặc không đầy đủ. Lấy một vài ví dụ trong việc trùng tu, tôn tạo các di tích. Trong khoảng mươi năm trở lại đây, nhất là sau khi có nghị quyết TW 5- khóa 8, Đảng và nhà nước rất quan tâm đến sự nghiệp này nên đã bố trí nguồn ngân sách tuy chưa thật nhiều nhưng cũng đã tạo nên những "cú hích" mạnh mẽ để toàn xã hội có sự quan tâm hơn việc bảo tồn và phát huy các giá trị của Di sản văn hóa. Hầu như địa phương nào cũng có được một số dự án nằm trong chương trình mục tiêu này. Quảng Trị là một địa phương có nhiều di tích Lịch sử cách mạng được quan tâm đầu tư và trên thực tế đã triển khai tương đối có hiệu quả. Tuy nhiên không phải nơi nào cũng làm tốt. Cái đáng trách nhất là ở một số địa phương chỉ chăm chăm chạy làm sao để có dự án đầu tư. Lãnh đạo thì coi đó là nguồn bổ sung chỉ số tăng trương RDP. Dân thì coi đây là dịp để " khoe" dòng họ mình, thôn xã mình. Còn cơ quan đầu tư, các Chủ đầu tư hay các Ban quản lý dự án thì..có nhiều “chùm khế ngọt” để hái! Nói đến chuyện..khế ngọt, đã từng có chuyện  chính các địa phương có di tích nhưng không bảo vệ được dự án mà phải nhờ chính các Công ty xây dựng (tức là bên B) đi bảo vệ giúp mới thành công. Lý do vì sao chắc nhiều người đã rõ....
 

Hồn quê - Kỷ niệm một cuộc đời

22/01/2014 lúc 19:51






T





ác giả Văn Đản không phải là người sáng tác chuyên nghiệp. Suốt cuộc đời, ngoài 70 tuổi anh không đi đâu khỏi cái làng quê: Xóm Chùa xã Vĩnh Tân huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị, nơi anh sinh ra, lớn lên và hoàn thiện nhân cách.
Anh là một nông dân thực thụ, một nông dân trăm phần trăm. Nhưng là một nông dân nghệ sĩ. Thời chống Mỹ, như bao người dân khác ở quê hương, anh Văn Đản là một trong những người “Giỏi tay cày, hay tay súng” bám trụ ngoan cường trên mảnh đất ngút trời khói lửa bom đạn để sản xuất, chiến đấu, phục vụ chiến đấu, góp phần mình vào việc đưa lực lượng Dân quân Du kích x·Vĩnh Tân được Đảng và Nhà nước tuyên dương danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang” trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Từ thực tiễn hào hùng của những tÊm gương đánh Mỹ bảo vệ quê hương ®· gợi nguồn cảm xúc sáng tạo nơi người nghệ sĩ nông dân ấy. Và thế là Văn Đản ngoài c¸i cày, khẩu súng trước đó, nay lại có thêm cây bút, một cây bút “Trường Sơn” bể nắp là của hiếm mậu dịch b¸nphân phối thời đó. Có bút rồi Văn Đản hăm hở viết. Anh viết thơ ca, hò, vè, tổ khúc, hoạt cảnh dân ca, kịch nói, dàn dựng tập luyện cho đội Văn nghệ x· nhà phục vụ nhu cầu đời sống tinh thần ngay trên trận địa, đường hào, vốn rất thiếu thốn trong sự ác liệt triền miên của cuộc chiến tranh, góp phần vào phong trào “Tiếng hát át tiếng bom”.
Thỉnh thoảng anh chọn một số tác phẩm gửi báo “Thống nhất” của Khu ủy Vĩnh Linh, các tập san, tạp chí và báo nói của tỉnh, Trung ương.
Tôi ®· đọc Văn Đản, biết anh cùng một số tác giả của Vĩnh Linh như: Lưu NiÖm, Thanh Bình, Hải Hiền, Văn Tuyên, Gia Tự, Đình Dúng v.v… từ những năm 1967 - 1968 thế kỷ trước. Đó là sự quen biết trên mặt báo. Bốn mươi năm rôi mà những tứ thơ, vần thơ ấy vẫn còn đọng đến bây giờ....
 

Trịnh Hoàng Tân - Giai điệu trầm của những bến bờ xúc cảm

22/01/2014 lúc 19:50






N





ói đến hoạ sĩ miền Trung - Quảng Trị, anh em mỹ thuật nhớ ngay đến hoạ sĩ Trịnh Hoàng Tân không chỉ bởi những thành công trong sáng tạo nghệ thuật của anh mà còn bởi con người anh tràn đầy nhiệt tình bè bạn với lối sống chân tình và khát khao vươn tới của anh. Trong sự lầm lũi tiến về phía trước trong 20 năm qua ở Quảng Trị có ai được như anh với gần 30 giải thưởng mỹ thuật các hạng loại của Liên hiệp các Hội VHNH Việt Nam, Hội Mỹ thuật Việt Nam, các triển lãm mỹ thuật Toàn quốc, triển lãm Quân đội, triển lãm khu vực Bắc miền Trung và nhiều triển lãm lớn nhỏ khác nhau.
Có thể nói hoạ sĩ Trịnh Hoàng Tân vẽ khá đều tay, anh vẽ chủ yếu là sơn mài, đó cũng là sở trường của anh với nhiều chủ đề như chiến tranh cách mạng, lịch sử, lễ hội, sinh hoạt làng quê, phong cảnh... Trong loạt tranh về đề tài chiến tranh cách mạng, anh làm mọi người ngạc nhiên về cách nhìn mới lạ mà không kém phần sâu sắc qua những tranh về cuộc chiến tranh tàn khốc ở quê hương anh, nơi mà số lượng bom đạn của Mỹ dội xuống cao gấp 5 lần dân số. Tác phẩm Lòng đất sinh tồn (Sơn mài. 120X180) là một trong những tác phẩm cho thấy người hoạ sĩ khi yêu tha thiết quê hương thì họ vẽ xúc cảm và thuyết phục đến nhường nào. Anh vẽ về những người lính, người dân cầm súng, họ sống chiến đấu trong lòng địa đạo Vịnh Mốc hùng tráng trong một xúc cảm nhân văn và tư duy kỹ càng, chắt lọc hình tượng của anh. Tác phẩm của anh về chiến tranh cách mạng không tả sâu bom rơi, đạn nổ, khói lửa mịt mù như thông lệ mà sao ta vẫn nhìn thấy những người lính phủ đầy khói súng, anh nhấn mạnh về sức sống can trường, sự chịu đựng của con người trước bom đạn của kẻ thù, biểu tượng tinh thần yêu nước và niềm lạc quan của người dân, người lính trong cuộc chiến tranh bảo vệ đất nước. Một dạng tranh khác phản ánh về người lính, tình quân dân nhẹ nhàng hơn của anh cũng được chú ý và đem lại cho Trịnh Hoàng Tân những giải thưởng đáng kể như Biên cương ngày mới (Sơn mài. 120X180), Lính đảo (Sơn dầu 122X122), anh cảm nhận về đề tài chiến tranh cách mạng, về người lính và những hy sinh của họ theo cách của mình một cách trân trọng, nhẹ nhàng, sâu lắng như chính là anh là người trong cuộc, vì thế anh truyền cho người xem cả tinh thần nhân văn bên trong của những hình tượng nghệ thuật mà anh yêu mến...
 

Phan Quang - Nghề báo - Nghiệp văn

22/01/2014 lúc 19:49






N





hà báo, nhà văn Phan Quang thuộc thế hệ đàn anh của tôi cả về tuổi đời lẫn tuổi nghề. Khi tôi mới là học sinh những năm đầu trung học cơ sở khi ông đã là biên tập viên báo Cứu quốc Liên khu IV, rồi phóng viên báo này ở các mặt trận Bình Trị Thiên, Thượng Lào, có quan hệ rộng với các nhà chính trị, nhà văn hóa ở vùng tự do Bắc miền Trung. Phan Quang không có điều kiện học lên cao, nhưng nhờ đam mê sự nghiệp báo chí, văn chương, đi nhiều, hiểu rộng, tinh thông tiếng Pháp đã tạo cho ông một phông văn hóa tổng quát (culture generale) và một phương pháp sáng tạo khoa học. Hơn 60 năm cầm bút, sự nghiệp báo chí, văn học của Phan Quang thật đồ sộ với 40 đầu sách, với tuyển tập 3 cuốn (1999) và nay là tuyển tập 10 năm () mà tôi đang có trong tay. Đó là chưa kể thì giờ vật chất cho công tác quản lý (ủy viên Bộ biên tập báo Nhân Dân), Chủ tịch Hội nhà báo Việt Nam nhiều khóa, Thứ trưởng bộ Thông tin, Tổng giám đốc Đài tiếng nói Việt Nam, đại biểu quốc hội ba khóa và là Phó chủ nhiệm Ủy ban đối ngoại của quốc Hội). Có thể nói, ít có nhà văn, nhà báo, nhà khoa học nào mà có sự kết hợp hài hòa giữa công tác quản lý và công tác chuyên môn. Cái trước bổ sung cho cái sau về chỗ đứng, cách nhìn; còn cái sau làm phong phú cho cái trước về tầm nhìn văn hóa, tố chất nhân văn trong ứng xử. Một số người cứ thiên kiến nghĩ rằng, công tác quản lý sẽ làm thui chột công tác chuyên môn. Ý kiến đó là sai lầm, chí ít là trường hợp Phan Quang.
Có nhiều chuyện để bàn về Tuyển tập của một nhà báo lớn, một nhà văn thành danh với gần 1000 trang sách có khối lượng thông tin lớn, kiến thức uyên bác nhiều bài có tính học thuật cao, tính thực tiễn ngồn ngộn (có thể dùng làm tài liệu giảng dạy ở các báo chí Học viện báo chí và tuyên truyền…), người viết dù có “chắc tay” cũng khó truyền đạt cho hết ý đẹp, lời hay của Tuyển tập. Vì vậy, trong bài viết này tôi xin nêu hai nội dung tâm đắc, sở đắc.
I. Chất lý luận, học thuật trong một số tiểu luận
Điều đọng lại sâu đậm nhất trong tôi là bài: Tư duy và phong cách báo chí Hồ Chí Minh. Bài viết không dài, nhưng tác giả đã nói đủ những điều cần nói mà Bác Hồ thường căn dặn báo giới: tính chiến đấu, tính nhân dân, vai trò chiến sĩ của nhà báo. Ý mới của bài viết là tác giả đã tiếp cận đối tượng từ góc nhìn văn hóa: “Báo chí vừa là một bộ phận cấu thành văn hóa, vừa là phương tiện xây dựng, truyền bá và thực thi văn hóa ( tr.660 ). Quan điểm báo chí của Hồ Chí Minh là tự do tư tưởng; văn phong báo chí phải giản dị, dễ hiểu phổ thông, hoạt bát, nhưng không có nghĩa là phàm tục, tự nhiên chủ nghĩa, thích thì tô hồng, không thích thì bôi đen. Nhà báo phải “viết cho văn chương, cho người đọc thấy hay, thấy văn chương mới thích đọc”. Hồ Chí Minh là người kế thừa V.I.Lênin và các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác trên bình diện báo chí kiểu mới, mà nội dung có liên quan đến bài viết này là tính văn hóa. Trong thời kỳ tân kinh tế ở Nga, một câu hỏi đặt ra bức thiết đối với chính quyền Xô Viết được Lênin đặt câu hỏi: “chúng ta thiếu gì ? - và trả lời: tính văn hóa, sự hiểu biết tri thức quản lý…”. Vậy tính văn hóa trong báo chí nằm ở đâu ? đó là quá trình dân chủ hóa, tự do hóa đối với toàn dân. Tri thức trên báo chí là cội nguồn của tự do báo chí. Ngày nay báo chí là nơi hội tụ một khối lượng khổng lồ tri thức, thông tin trôi nổi trên nhiều phương tiện truyền thông kể cả internet đang làm giàu trí tuệ loài người, trực tiếp tham gia và sản xuất xã hội. Nếu định hướng đúng thì ngay cả “sự thật thấp hèn”, “sự thật màu xám” cũng có giá trị phản biện hơn “sự giả dối cao thượng” như những hiện tượng thổi phồng thành tích trong một số ngành, đánh tráo việc chuyển giao đất nông nghiệp cho sân Golf với mục đích vụ lợi, ý đồ các dự án biến công viên Thống Nhất thành một kiểu Disneyland hoặc trung tâm thương mại hàng chục tầng tại công viên Tuổi trẻ ở Hà Nội đã bị hủy bỏ, do thiếu ý thức văn hóa.
Nhân hội thảo về Ngô Tất Tố, Phan Quang có bài Nghề báo nghiệp văn nói về mối quan hệ giữa văn học và báo chí với những kiến giải thuyết phục. Văn học triết luận hơn báo chí, nhưng báo lại lô gích hơn văn học. Dù là người sinh trước, kẻ đẻ sau, nhưng đều là anh em một nguồn cội. Cái này bổ sung cho cái kia, trong cái này có cái kia. Phần lớn các nhà văn trước khi thành danh đều đã làm báo hoặc là nhà báo chuyên nghiệp. Ông chê một số nhà báo “dường như mãi mê săn nguồn tin trực tuyến trên internet để chuyển vội đến người đọc mà xao nhãng… trau dồi chủ nghĩa…”. Bài báo mà thiếu chất văn, tệ hơn là văn vẻ lủng củng thì không chỉ gây phiền hà cho người đọc, mà còn làm hỏng tiếng mẹ đẻ. Dự báo của ông về quá tr×nh tích hợp giữa văn học và báo chí trong xu thế toàn cầu hóa là có cơ sở (tr.659). Trong các bài Con người và tâm linh, Về ý chí và tính cách Việt Nam, Cuộc bút chiến về Nho giáo, Nhân tài nhìn từ hai phía, Tài năng và nhân cách, Văn hóa của người làm báo v.v… tuy cách đặt vấn đề khác nhau, ý tưởng không giống nhau,  nhưng cùng xuất phát điểm: tầm nhìn văn hóa. Trong bài đầu tiên, Phan Quang luận giải mối quan hệ giữa thế quyền và tôn giáo theo quan điểm duy vật lịch sử. Người cách mạng theo thuyết vô thần, nhưng tôn trọng quyền tâm linh của mỗi cá nhân, theo tôn giáo, tín ngưỡng hay không theo. Bởi đó là quyền dân chủ được ghi trong Hiến pháp. Đọc bài này, tôi liên tưởng tới những kiến giải của M.Gorki bàn về chúa Trời. Trên thực tế việc tôn vinh hay chống chúa Trời gắn liền với điềuthiện và cái ác. Giả sử chúa Trời là biểu tượng của điều thiện thì hà cớ gì mà chống; đàng này chúa Trời chỉ là cái thiện của những kẻ cũng cố quyền lực của mình. Bài báo có một số thông tin thú vị về cải cách Thiên chúa giáo. Ngày nay Chúa không còn là “đấng toàn năng nữa”, điều đó cho phép cộng đồng Vaticăng II ( 1962 - 1965 ) ban hành một số quy định mới để phù hợp với thực tiễn mới: giữa đạo với đời, giữa đạo pháp với dân tộc, để các đạo hữu vừa kính chúa vừa yêu nước. Đọc Cuộc bút chiến về Nho giáo 1930 giữa hai bậc thức giả: Trần Trọng Kim và Phan Khôi, người đọc hôm nay rút ra được bài học về văn hóa tranh luận. Quan điểm của họ đối lập nhau, sở đắc, cá tính rất khác nhau, nhưng cả hai đều nói năng lịch thiệp, gọi nhau bằng tiên sinh khi tranh luận, thẳng thắn phê bình những điều chưa phải; vừa công nhận những ưu điểm của người, vừa dũng cảm nhận cái sai của mình mà điểm qui tâm là nhờ ý thức dân tộc vì tương lai nền quốc văn quốc ngữ dân tộc...
 

Văn hóa cách mạng thời hội nhập

17/04/2014 lúc 14:46






T





rong thời đại thông tin, dấu ấn công nghệ thông tin in đậm trong mọi hoạt động văn hoá. Mặc dù văn hoá không đồng nghĩa với truyền th«ng, nhưng người ta đã bắt đầu sử dụng khái niệm “văn hoá điện tử”, “văn hoá số”, “văn hoá mạng” để chỉ một loại hình văn hoá mới có khả năng lan toả gần như tức thời trên toàn hành tinh. Ở đây, tôi coi các khái niệm này là đồng nghĩa, và tôi chọn khái niệm “văn hoá mạng” làm đại diện.
Xem xét các tài liệu trên thế giới và các khái niệm gần gũi nhau như “ văn học điện tử”, “văn học số”, “văn học mạng,” “văn hoá điện tử”, “văn hoá số”, “văn hoá mạng”, chúng ta có thể hình dung sự xuất hiện khái niệm “văn hoá mạng” là vào khoảng cuối  thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI.
Khái niệm quan trọng nhất của văn học và văn hoá mạng là “siêu văn bản . Siêu văn hoá là văn bản bao gồm các đường dẫn siêu liên kết, chỉ dẫn mối liên hệ của các từ và dữ liệu của văn bản chính đến các nguồn dữ liệu khác, tạo cho người đọc khả năng tiếp cận một lúc với nhiều văn bản và từ đó có thể tạo lập cho mình một văn bản mới. Thực ra điều này cũng có nguồn gốc từ văn học in. Chúng ta thường thấy một văn bản in có các chú thích ở cuối trang, cuối sách. Những chú thích đó chỉ đường dẫn để ta tìm đọc các tài liệu có liên quan (tài liệu tham khảo). Tuy nhiên khả năng hạn chế của văn bản in là khi ®ọc nó, người đọc không thể cùng một lúc tiếp cận được các tài liệu liên quan. Chính nhờ công nghệ thông tin - truyền thông mà người đọc mới được hưởng khả năng liên kết siêu việt giữa các văn bản như thế. Tất nhiên, mọi d÷ liệu lên mạng phải được số hoá thì mới hiện thực hoá được khả năng đó.
Như vậy, dựa trên các ý kiến và thực tiễn văn hoá trên mạng hiện nay, ta có thể nói những khía cạnh chủ chốt của văn hoá mạng là số hoá và truyền th«ng các sản phẩm văn hoá của nhân loại, đồng thời nó cũng là một loại hình văn hoá cho phép con người được tự do diễn đạt, được thực hiện những hoạt động xã hội tương tác lẫn nhau thông qua internet. Vì thế, văn hoá mạng đang trở thành chiều cạnh cơ bản của xã hội trí thức, một xã hội dựa trên nguyên tắc chia sẻ trí thức1.
Hiện nay ở nước ta, thuật ngữ “văn hoá mạng” chưa được hiểu đúng nghĩa, mà được dùng theo nghĩa là văn hoá của những người tham gia sử dụng mạng, là văn hoá giao tiếp trên mạng, là cách ứng xö của người sử dụng mạng đối với mạng (giống như cách nói phổ biến về lối ứng xử đối với bất cứ một hành vi xã hội nào: như văn hoá công sở, văn hoá điện thoại, văn hoá tranh luận...), chứ không phải là một loại hình văn hoá dựa trên công nghệ thông tin như thế giới quan niệm. Trong khi đó cũng có nhiều ý kiến bàn về văn học mạng theo nghĩa đặc trưng công nghệ thông tin của văn học. Có nghĩa là ở nước ta người ta mới chỉ bàn đến một bộ phận của văn hoá mạng là văn học mạng. Trên thực tế, các ý bàn về văn học mạng cũng mới chỉ là những ý kiến lẻ tẻ chứ chưa có những bài viết nghiên cứu công phu. Ngày 21-3-2008, Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật phối hợp với Công ty Sách Bách Việt tổ chức hội thảo “Văn học mạng Việt Nam và văn học mạng thế giới” bàn về hiện tượng mới này. Nhưng các ý kiến đưa ra mới chỉ là “thăm dò, giả định về một hình thức tồn tại mới của văn chương”.2 Đây là một hội thảo nhỏ, chưa thu hút được sự tham gia của nhiều nhà nghiên cứu có tên tuổi. Điều đó cho thấy “văn học mạng” và “văn hoá mạng” chưa nhận được sự quan tâm thoả đáng của giới nghiên cứu nước ta. Đặc biệt, “văn hoá mạng” hiểu theo quan niệm vÒ xã hội trí thức của thế giới thì vẫn chưa được giới học giả Việt Nam bàn đến.
Nh­ng không được bàn đến không có nghĩa là nó không tồn tại. Cùng với sự phát triển mạng internet Việt Nam từ cuối thế kỷ XX, văn hoá mạng đến nay đang bao quát một phạm vi thể hiện rộng lớn: sáng tác văn nghệ qua mạng, đọc sách trên mạng (thư viện điện tử), giáo dục qua mạng, giao lưu trực tuyến, giải trí trực tuyến, du lịch qua mạng, bảo tàng trên mạng, thư điện tử, nhật ký trên mạng (blog)... Có thể nói, văn hoá mạng chủ yếu là kết quả tiến bộ của công nghệ thông tin - truyền thông hiện đại. Trªn thực tế, văn hoá mạng đang hình thành ở nước ta và tác động khá mạnh đến đời sống con người và văn hoá, trước hết là tác động đến việc hình thành một kiểu tư duy mới và lối sống mới của người Việt Nam.
Sự thể hiện rõ rệt nhất của kiểu tư duy mới là tư duy so sánh, liên hệ mở rộng. Khi gặp một vấn đề, con người ngày nay thường đặt câu hỏi “trên thế giới người ta đang bàn đến vấn đề này như thế nào?” Khi một vấn đề như vấn đề vĩ mô về kiến trúc đô thị, đã có ngay thông tin về quy hoạch và kiến trúc đô thị, của các thành phố lớn trên thế giới. Khi gặp một vấn đề cụ thể như quy hoạch và quản lý công viên và mật độ cây xanh trong những thành phố lớn của các nước, hay những việc trọng đại như xây dựng nhà máy điện nguyên tử, dự án khai thác bô-xít Tây nguyên, cũng đã làm dấy lên cuộc tranh luận sôi nổi trên mạng với những bài viết so sánh với tình hình của những vấn đề này trên thế giới. Lối tư duy so sánh như vậy chính là một điều kiện để nâng cao dân trí. Có thể nói, đối tượng của tư duy so sánh-liên hệ không còn bị bó hẹp trong giới hạn một quốc gia, mà đã trở thành một đối tượng phi biên giới, mở rộng ra phạm vi toàn cầu. Vì thế ta cũng có thể gọi lối tư duy này là “Tư duy mạng”...
 

Những gam màu Cát Miên

22/01/2014 lúc 19:39






T





hơ, thường vậy, muôn đời nay vẫn chứa trong nó hoạ và nhạc. Màu sắc và âm điệu góp phần làm nên thơ, qua sự sáng tạo nhào trộn có ý thức hoặc vô thức của người cầm bút. Tuy nhiên, những cái được gọi là nhạc là hoạ trong thơ ấy đã được cảm xúc hoá và mang dấu ấn riêng của tác giả. Hiện thực có thể chỉ là một nhưng sự cảm nhận suy ngẫm về nó là muôn vàn, là đa thanh, đa sắc, đa điệu. Cát Miên chọn cho mình một cách gọi khác về màu, vượt qua những xanh đỏ tím vàng lục lam chàm tím là em; màu em,có gì đó khác thường chăng?
Chưa phải! Đoàn Phú Tứ đã có Màu thời gian, Màu thời gian không xanh / Màu thời gian tím ngắt và sau này Tế Hanh khi đứng ở bờ bắc sông Bến Hải, bên cầu Hiền Lương thời đất nước chia đôi đã thổn thức Trời vẫn xanh một màu xanh Quảng Trị...Màu em của Cát Miên, cách gọi ấy không lạ, không khác, không phải là sự sáng tạo đầu tiên, chỉ là học các bậc thi bá đi trước mà thôi.
Cái sự khác mang dấu ấn Cát Miên là ở chỗ, nữ tác giả này hình như muốn màu hoá những tâm trạng, những cảm xúc, những suy ngẫm về cuộc sống của mình. Màu em, đấy là màu xanh của cây cỏ, thiên nhiên trong sự biết ơn đất đai nguồn mạch Tổ quốc, quê nhà:
Em khoác lên mình màu xanh
Nghe mầm non bật từ lòng đất
Mạch nguồn tràn lên tán cây
Phố xanh - Em xanh
     (Màu em)
Những câu thơ hiền lành, dung dị nhưng đằm lắng, thắm thiết những màu xanh tươi tắn hiện hiển khắp nơi. Xanh cây, xanh phố, xanh em…màu xanh ấy chính là cuộc sống, thiên nhiên con người chan hoà gần gũi thân thiết bên nhau. Một tình cảm bao la dành cho quê hương đất nước. Từ màu xanh được sinh ra từ mạch nguồn đất đai đó, không ít lần ta gặp gỡ hình ảnh quê hương thân thuộc trong thơ Cát Miên.
Quê nghèo, cát trắng gió Lào, lam lũ. Bao kiếp người đi qua trên vùng đất khắc bạc, nắng lửa mưa dầm, một thời chiến tranh tàn khốc. Bán mặt cho đất, bán lưng cho trời vẫn không đủ hạt lúa củ khoai nuôi người. Thế hệ @ không phải không có người cảm nhận rất sâu nỗi truân chuyên nhọc nhằn của quê hương mình như Cát Miên:
Cha vác cày ra đồng
Mùa níu trũng bước chân
Từng đường cày cha lật
Chôn chặt hơi thở sâu
 
Mẹ gánh mùa rao bán
Thập thững bước thấp cao
Con mang mùa ra phố
Xua đi chút ồn ào.
                           (Đêm chuyển mùa)
Quê ấy, Quảng Trị ấy, cũng là một phần xanh trong màu yêu thương vô bờ bến của Cát Miên. Vùng đất này tôi đã từng sống, từng bươn chải, từng lăn lốc, từng la đà với gia đình, bè bạn, đồng đội nên khi đọc những câu thơ này của Cát Miên lòng rưng rưng quá:...

Cảm thức tâm linh trong tiểu thuyết chiến tranh sau thời kỳ đổi mới

22/01/2014 lúc 19:30






T





rong hành trình tìm hiểu, khám phá bản thân dường như con người chưa bao giờ thoả mãn những gì đã có. Thể hiện sự trăn trở, day dứt, băn khoăn đó, tiểu thuyết chiến tranh sau thời kỳ đổi mới đã có ý thức đi sâu vào thế giới nội tâm để khai vỡ chiều sâu tâm linh nhằm nhận diện con người đích thực: “Các cây bút từ sau thời kỳ đổi mới đã đi sâu vào thế giới nội tâm để khám phá chiều sâu tâm linh nhằm nhận diện hình ảnh con người đích thực. Sự xuất hiện con người tâm linh biểu hiện sự đổi mới trong quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học” (Nguyễn Minh Châu). Với quan niệm nghệ thuật mới, tiểu thuyết chiến tranh đương đại dần thoát ra khỏi kiểu “phản ánh hiện thực” một cách “thông tục” như trước kia. Vì thế, nó đã trở thành một mảng hiện thực đặc sắc trong quan niệm về hiện thực của một số nhà văn hôm nay như Bảo Ninh, Chu Lai, Trung Trung Đỉnh, Phạm Ngọc Tiến, Nguyễn Trí Huân...
            Hiện nay, có rất nhiều ý kiến khác nhau về “tâm linh”. Theo Từ điển tiếng Việt: “Tâm linh là khả năng đoán trước những điều sắp xảy ra theo quan niệm duy tâm”. Nguyễn Đăng Dung trong cuốn Văn hoá tâm linh cho rằng: “Tâm linh là cái thiêng liêng cao cả trong cuộc đời thường, là niềm tin thiêng liêng trong tín ngưỡng tôn giáo”. Và một số tác giả nghiên cứu khác cho rằng tâm linh “thường được hiểu như đời sống tinh thần đầy bí ẩn của con người, đối lập với ý thức kiểu lý tính thuần tuý. Nó bao gồm cái phi lí tính, cái tiềm thức, vô thức, bản năng thiên phú có thể nhấn mạnh phần trực cảm, linh cảm, những khả năng bí ẩn” (nhưng vẫn có ý thức của con người). Nhìn chung, các ý kiến trên điều giống nhau ở chỗ coi tâm linh là một thế giới mở với những biểu hiện đa dạng của nó, là một tầng văn hoá trong đời sống tinh thần của con người. Nó tham gia kiến tạo ý thức ngầm và có thể là vô thức. Nhưng thường tâm linh gắn liền với những tín ngưỡng, những niềm tin vào lực lượng siêu hình cùng các quan hệ bí ẩn của con người, những sức mạnh thuộc về “trực giác”, “linh giác”, những khả năng kỳ lạ mà cho đến nay vẫn là điều khó lý giải của con người.
            Trước hết, thế giới tâm linh được thể hiện qua những trạng thái bất thường của nhân vật. Đó là những người lính từng sống sót lại qua hai cuộc chiến, họ bị khủng hoảng, bất an về tinh thần nên khiến họ không thể giữ nổi trạng thái tâm lý bình thường, và họ đã hướng về quá khứ như Quy (Chim én bay), Hai Hùng (Ăn mày dĩ vãng), Ông Dần (Góc tăm tối cuối cùng), Kiên (Nỗi buồn chiến tranh)...  Với họ, quá khứ luôn là cõi thiêng liêng, được hòa trộn bằng máu, nước mắt, hạnh phúc, khổ đau và bằng cả những kỷ niệm yêu thương. Quá khứ ấy luôn gọi họ tìm về, không phải để ru mình trong tháp ngà của những vinh quang, chiến thắng, mà để chiêm nghiệm, để dằn vặt, trăn trở về cuộc sống, lẽ đời. Bởi, với họ cái còn lại trong hiện tại không đủ để đem lại niềm vui, hạnh phúc, thanh bình cho những người lính đã từng “trở về từ cõi chết”. Và vì thế, người lính luôn sống với những gì đã mất bằng đời sống tâm linh. Kiên (Nỗi buồn chiến tranh) trở về sau cuộc chiến, phần nhiều chỉ sống bằng kí ức, tâm hồn “bị chấn thương” do “hội chứng chiến tranh” nên anh đã không thể tìm thấy được “phép an trú trong hiện tại”. Kiên không thể “sống tỉnh thức trong từng giây phút, biết quý trọng trong từng giây phút của đời sống” (Nhất Hạnh). Chiến tranh đâu phải chỉ gói gọn trong nguyên nhân - diễn biến - kết quả, mà nó còn gắn với bao mảnh đời, bao số phận, là tuổi trẻ, tình yêu, hạnh phúc, nỗi buồn... tất cả bị đưa ra để thử thách, nếm trải. Ký ức chưa xa, nó luôn ám ảnh, vò xé tâm hồn Kiên: “Cuộc đời tôi kì thực có khác nào con thuyền bơi ngược về dòng sông không ngừng bị đẩy lùi về dĩ vãng. Đối với tôi tương lai nằm lại phía sau kia rồi... những tấm thảm bi kịch quá khứ đã nâng đỡ tâm hồn tôi, tạo sức mạnh tinh thần cho tôi thoát khỏi vô tận những tấn trò đời hôm nay”. Sống với thế giới tâm linh, cuộc đời anh cứ trĩu nặng một nỗi buồn đau, cứ lầm lũi tiến vào thế giới bên trong không tài nào thoát ra được!. Trạng thái tinh thần của Kiên bị khủng hoảng một cách trầm trọng, ứ đọng một cảm giác “buồn nôn” khi phải đối diện với cuộc sống hiện tại. Kiên không thể hiểu nổi tại sao mình lại có thể sống sót qua cuộc chiến tranh tưởng như không có cơ hội thoát chết. Với Kiên có lẽ là một thiên mệnh nào đó: “Cũng vì mang trong mình một thiên mệnh huyền cơ nào đấy mà anh có thể sống sót qua cuộc chiến tranh với hoàn cảnh mà bình thường ra không thể có cơ hội thoát chết”. Vì vậy, Kiên chỉ còn cách rút vào thế giới tâm linh, sống với quá khứ.
Trong Ăn mày dĩ vãng, thế giới tâm linh trở thành nơi “trú ngụ” cho những người lính trở về với cuộc sống thời bình. Cũng như Kiên, Hai Hùng “không nguôi hướng về dĩ vãng”. Anh chưa kịp chuẩn bị tâm thế sống cho hòa bình, thì lại bị hút theo tiếng gọi bi thương, da diết của quá khứ nên tâm hồn phải “nương” vào cõi tâm linh. Bởi với anh chỉ sống trong cõi ấy anh mới lắng nghe được mọi tiếng nói vang lên trong cõi lòng mình. Đó là tiếng oán thương, trách móc, mỉa mai... của đồng đội anh vang lên từ những nấm mồ ngoài nghĩa địa. Đó là sự oán trách của Viên, sự lên án nặng nề của Bảo, sự an ủi của Khiển, và cả sự thương hại của những vong hồn đã khuất khi trông thấy dáng vẻ tiều tụy của anh... Hoá ra cái cõi tưởng như mông lung, chập chờn, hư huyền ấy lại nói được bao điều đang ngày đêm giày vò trái tim những người lính khi được sống sót trên sự hi sinh của đồng đội mình.
            Chính nỗi đau, mất mát đã khiến cho tâm hồn những người lính chìm sâu vào cõi vô thức, tâm linh, và không thể trở lại với chính mình trong hiện tại. Lát cắt của nỗi đau, cô đơn khiến họ tin vào những điều siêu hình, thần bí. Họ nhìn thấy có một cõi khác ngoài cõi hữu hạn, bởi ở đó có sự tương thông, thấu hiểu, thần giao cách cảm giữa con người với con người. Lạc vào thế giới tâm linh là cách đào thoát mà ở đó họ tìm thấy sự trú ngụ và an ủi...
 

Về chân dung người chiến sĩ ở di tích Thành Cổ Quảng Trị

22/01/2014 lúc 19:28






C





àng gần đến ngày đại lễ 30/4, dù muốn hay không, dù đầu óc có bị phân tâm bởi muôn vàn công việc thì có lẽ mỗi một người dân nước Việt đều không thể không nghĩ đến cái sự kiện được coi là cột mốc lịch sử có tầm vóc bậc nhất trên dặm dài trường chinh hàng ngàn năm của dân tộc với biết bao vinh quang và cay đắng, bao hào hùng và bi thương. Mỗi người nghĩ về nó theo một cách, tuỳ theo tâm thế, điều kiện lịch sử của cá nhân, những hồi ức, kỉ niệm riêng hoặc theo những xu hướng đổi thay của cả thời đại. Bất luận suy tư về nó thế nào thì tất cả đều phải thừa nhận có một ngày thật sự trọng đại đã xẩy ra trong lịch sử Việt Nam, đã làm xoay chuyển hoàn toàn một đất nước để mở ra một kỉ nguyên mới cho một Quốc gia có tên: Việt Nam.
Lịch sử loài người được diễn đạt bằng lịch sử của từng Quốc gia, từng dân tộc. Mỗi Quốc gia hình thành theo mỗi cách, có nơi là sự phân chia quyền lợi những miền đất chiếm đoạt được của những đoàn người khai phá, có nơi bằng sự lớn mạnh tự thân của các bộ tộc bản địa, có nơi bằng những cuốc chinh chiến trường kỳ chống lại sự chiếm đoạt. Nhiều quốc gia ra đời bằng những cuộc Cách mạng đòi độc lập. Tuy nhiên tính khách quan của lịch sử cho thấy, dù được hình thành theo phương thức nào, kể cả những phương thức được gọi là “khai sáng văn minh” thì sự ra đời, bảo tồn và phát triển của một dân tộc, một Quốc gia không thể không gắn liền với máu xương của người chiến sĩ. Đặc biệt là ở những thời điểm có tính bước ngoặt của lịch sử kiểu như ngày 30 / 4 / 1975 của Việt Nam
Khái niệm về người chiến sĩ trong phạm trù Cách mạng cần hiểu đầy đủ là những người đã tham gia trực tiếp tạo nên thắng lợi của một dân tộc, một quốc gia. Đó không chỉ đơn thuần là người lính vũ trang mà chúng ta vẫn quen gọi là Bộ đội. Người chiến sĩ làm nên sự nghiệp chiến thắng huy hoàng của cuộc chiến tranh giải phóng đất nước ta là tất cả những ai đã quên mình vì công cuộc đánh đuổi ngoại xâm, từ người lính đến vị Tổng chỉ huy, từ người dân chân đất đến nhà lãnh đạo cao nhất, từ anh bộ đội đến các lực lượng bán vũ trang và triệu triệu người yêu nước khác.. Bởi thế mới có thuật ngữ khoa học quân sự là cuộc chiến tranh nhân dân.
Tuy nhiên nói như vậy chúng ta không thể không đặt đúng tầm vóc vai trò chủ lực của những người chiến sĩ quân đội trong các cuộc chiến đấu cụ thể. Và trong khi ghi chép lịch sử, tôn vinh những chiến công hay tôn tạo các di tích lịch sử cách mạng, cần căn cứ hiện thực khách quan của lịch sử cụ thể của giai đoạn đó, của địa điểm xẩy ra sự kiện đó để tôn vinh xứng đáng vai trò có tính quyết định của sự kiện lịch sử đó. Đã từng có quan niệm cho rằng, bất luận nơi đâu, chiến công nào cũng là chiến công chung của dân tộc, là thắng lợi của đường lối chiến tranh nhân dân, vì vậy hình tượng tôn vinh chiến công bất luận đâu cũng phải toàn diện, đầy đủ. Tôi không phản đối quan niệm mọi thắng lợi đều là thắng lợi chung của dân tộc, cho dù trận đánh cụ thể đó chỉ duy nhất có một lực lượng bộ đội thì cũng không thể không có công sức của những người mẹ, người vợ ở hậu phương..Tuy nhiên, đó là sự tôn vinh chung. Giả sử có một tượng đài Chiến thắng Quốc gia thì có lẽ cũng nên tính toán cho hết mọi nhẽ kiểu như thế. Nhưng ở một thời điểm cụ thể, một trận đánh cụ thể, một di tích cụ thể thì không thể tư duy bằng thứ quan điểm chung như thế được. Từ suy nghĩ đó tôi muốn nhân dịp tháng tư lịch sử này mà nói thêm về nội dung tôn tạo di tích Thành Cổ Quảng Trị, nói rõ thêm những day dứt của mình về hình ảnh người chiến sĩ cần được tôn vinh như thế nào ở không gian di tích đặc biệt quan trọng đó.
Thành Cổ Quảng Trị trở thành di tích Văn hoá- Lịch sử cấp Quôc gia với hai giá trị tiêu biểu. Giá trị văn hoá là dấu tích của toà hành chính tỉnh lị được xây dựng thời nhà Nguyễn. Tuy nhiên, cái di sản vô giá của di tích này khiến cả dân tộc và bạn bè trên thế giới ngưỡng mộ lại là cuộc chiến đấu bi hùng 81 ngày đêm của quân đội chúng ta chống cuộc phản kích tái chiếm của quân Mỹ. Không phải đến tận bây giờ thế giới mới biết đến sự tích này mà ngay khi cuộc chiến đang xẩy ra thì giữa Thủ đô ánh sáng của nước Pháp, những bên tham gia đàm phán ngừng chiến và dư luận quốc tế cũng từng giờ từng phút hướng về Thành Cổ. Nó căng thẳng đến mức một nước văn minh như Hoa Kỳ mà cũng phải dùng đến hạ sách là nói dối bằng việc đắp thành giả, cắm cờ để đưa hình ảnh " tái chiếm" trên Thành Cổ loan về Pa-ri với hy vọng tạo sức ép trong đàm phán. Để tạo thế cho cuộc đàm phán bốn bên ở Pa-ri, suốt 81 ngày đêm, bộ đội ta đã trộn máu xương mình đắp nên thành luỹ Quảng Trị. 81 ngày đêm đã có xấp xỉ 81 đại đội hy sinh. Các nhà viết sử đời sau có thể sẽ tiếp tục đặt câu hỏi về giá trị đong đếm được của sự hy sinh đó. Nhưng chắc chắn bất luận thế nào thì lịch sử vẫn phải tôn vinh những người chiến sĩ đã ngã xuống giữa mảnh đất nhỏ nhoi nơi miền trung hẻo lánh này để thế cuộc toàn cục của cuộc chiến được khai thông và đã khiến kẻ thù lớn nhất thời đại phải nản lòng...
 

Bác Hồ nói về mối quan hệ giữa tính dân tộc và tính nhân loại trong văn hóa, nghệ thuật

17/04/2014 lúc 14:46






V





ấn đề dân tộc và tính quốc tế không chỉ được đặt ra đối với văn hoá, văn nghệ, mà còn được đặt ra đối với cả vấn đề chính trị quốc tế về mối quan hệ giữa quyền lợi dân tộc và quyền lợi của giai cấp vô sản, cũng như quyền lợi chung của loài người. Trong thời đại hiện nay, các vấn đề dân tộc đang nổi lên dữ dội nhưng khuynh hướng toàn cầu hoá kinh tế lại làm cho các dân tộc có cơ hội xích lại gần nhau hơn. Về mặt văn hoá, chủ nghĩa dân tộc ghép kín đã tạo ra sự trì trệ về văn hoá. Ngược lại, chủ nghĩa thế giới lại có nguy cơ đồng nhất hoá các hệ chuẩn và khả năng một chủ nghĩa nước lớn áp đặt hệ chuẩn của nó vào văn hoá của các dân tộc nhỏ là một thảm hoạ. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, những khuynh hướng tìm về bản sắc dân tộc của văn hoá cũng mạnh như khuynh hướng quốc tế hoá nền văn hoá dân tộc.
Quá trình phát triển nền văn hoá, nghệ thuật của mỗi dân tộc đều có sự tiếp thu các yếu tố của các nền văn hoá, nghệ thuật của dân tộc khác. Điều này có ý nghĩa sống còn đối với việc gìn giữ bản sắc văn hoá của mỗi dân tộc. Một chủ nghĩa vị chủng dân tộc thực tế không thể tồn tại trong văn hoá, nghệ thuật. Thực chất, đó là những tư tưởng phản động của bọn phát xít.
Vấn đề tính dân tộc và tính quốc tế của văn hoá, nghệ thuật đã từng được giải quyết theo các lập trường khác nhau trong lịch sử mỹ học. Đấu tranh cho tính đặc thù dân tộc của văn hoá, nghệ thuật, các nhà Khai sáng đã phủ định nền văn hoá quý tộc. Ngược lại, giai cấp quý tộc ở Đức và ở Nga lại đam mê nền văn hoá cung đình Pháp.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về tính dân tộc của văn hoá, nghệ thuật, mối quan hệ giữa tính dân tộc và tính quốc tế được giải quyết trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng, trên cơ sở cặp phạm trù cái chung và cái riêng. Theo Hồ Chí Minh, dân tộc là một bộ phận của quốc tế, văn hoá dân tộc nằm trong văn hoá của loài người, do đó “khi chủ nghĩa dân tộc của họ thắng lợi…nhất định chủ nghĩa dân tộc ấy sẽ biến thành chủ nghĩa quốc tế”(1). Trong tư tưởng văn hoá, nghệ thuật của Người, mối quan hệ giữa tính dân tộc và tính quốc tế được biểu hiện trên hai lĩnh vực: Thứ nhất, dân tộc và chủ nghĩa quốc tế xã hội chủ nghĩa; Thứ hai, dân tộc và nhân loại nói chung. Xuất phát từ chủ nghĩa yêu nước kiểu mới, đó là chủ nghĩa yêu nước thấm nhuần chủ nghĩa quốc tế chân chính, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nối liền tiềm năng của dân tộc với sức mạnh sáng tạo của loài người. Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phương pháp nổi trội nhất, xuyên suốt toàn bộ tư tưởng của Người là kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
Do thấm nhuần nền văn hoá dân tộc, lại sớm hiểu biết nhiều nền văn hoá nhân loại, nên trong tư tưởng của Hồ Chí Minh luôn có sự kết hợp yếu tố phương Đông và phương Tây, yếu tố dân tộc và nhân loại. Xuất phát từ một tư tưởng nhân đạo và khoan dung rộng lớn, Người đã không thành kiến với nhiều tư tưởng của loài người.
Suốt đời mình, Hồ Chí Minh không có lợi ích nào khác là đấu tranh cho độc lập dân tộc, tự do cho Tổ Quốc và hạnh phúc của nhân dân. Song trong tư tưởng của Người, dân tộc không phải là phạm trù khép kín. Đối với Người, chủ nghĩa yêu nước phải mang tinh thần quốc tế chân chính. Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Người luôn chăm lo tới lợi ích dân tộc, song, không bao giờ Người lại chỉ vì chủ nghĩa dân tộc thuần tuý mà quên tinh thần quốc tế. Người đã từng quan tâm đến nỗi khổ người da đen ở châu Phi, bênh vực người Tuynidi. Người viết về cuộc khởi nghĩa ở Đahômây, tố cáo tệ hành hình dã man kiểu Lynơsơ của bọn thực dân đế quốc.
Hồ Chí Minh thường nhắc nhở các nhà sáng tạo văn hoá, nghệ thuật phải thể hiện được tâm lý dân tộc, tình cảm dân tộc, phong tục, tập quán dân tộc. Trong Báo cáo chính trị đọc tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai của Đảng, Người đã khẳng định đường lối văn hoá, văn nghệ của Đảng là phát triển nền văn hoá dân tộc. Song, Người không quên chỉ ra rằng, cùng với việc phát triển văn hoá dân tộc, văn hoá, nghệ thuật Việt Nam phải tiếp thu các thành quả nghệ thuật quốc tế. Người viết: “Đồng thời, phát triển những truyền thống tốt đẹp của văn hoá dân tộc và hấp thụ những cái mới của văn hoá tiến bộ thế giới, để xây dựng một nền văn hoá Việt Nam có tính dân tộc, khoa học và đại chúng”(2)...
 

Âm vang Đường Trường Sơn huyền thoại

23/01/2014 lúc 08:53






Đ





ã năm mươn năm kể từ ngày con người mang quyết tâm của cả dân tộc “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” ra đời. Đó không phải là một quãng thời gian quá dài để nói về một câu chuyện lịch sử. Nhưng sau năm mươi năm, từ đường mòn thành đại lộ, huyền thoại Trường Sơn được viết tiếp trong khát vọng mạnh giàu của dân tộc. Và trong đó, một Trường Sơn âm thanh vẫn vang động đất trời.
Sự kỳ vĩ của con đường Trường Sơn huyền thoại, vai trò quan trọng của nó trong sự thành công của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là điều mà ai cũng đã biết. Với âm nhạc, thì chỉ cần nghe tên của những bài hát, đã thấy sự lay động, rạo rực từ trong sâu thẳm tâm hồn như là máu thịt trong ta.
Rất nhiều máu đã đổ dưới mỗi bước chân đi trên lối mòn Trường Sơn đại ngàn, nhưng cũng từ đó, chiến thắng nở hoa để Vũ Trọng Hối phơi phới niềm tin viết nên ca khúc “Đường tôi đi dài theo đất nước”:
“Đời giao liên, bước tôi đi dài theo đất nước.
Đường tôi đi, núi chênh vênh, có mây bay dưới chân giăng thành.
Đời tôi như những con thoi dệt tình yêu quê hương thống nhất.
Đời tôi như cánh chim bay, cánh chim bay một dải Trường Sơn”.
Chưa hết, giai điệu của Vũ Trọng Hối còn tả rất thực cảnh Trường Sơn ngày đó: “Trên con đường ta đi / lũ trào thác xối / muỗi rừng vắt núi / Núi vút thành vách đứng / nắng hè khét đá, rừng khuya mấy lối”, nhưng có hề gì, bởi “ta đi theo ánh lửa từ trái tim mình” (Bước chân trên dải Trường Sơn).
Năm 1967, “đường dây vận tải 559” đã được nâng cấp thành một binh chủng hợp thành gồm công binh phòng không, giao liên, bộ binh, thông tin và đặc biệt là vận tải dưới sự chị huy của tư lệnh Đồng Sỹ Nguyên. Hình ảnh những chiếc xe chở hàng, những cô gái thanh niên xung phong phá đá, mở đường, san lấp hố bom để “xe anh qua” đã là niềm cảm hứng mãnh liệt cho các văn nghệ sĩ. Nếu nhà thơ Phạm Tiến Duật nổi tiếng với bài thơ “Tiểu đội xe không kính” thì nhạc sĩ Tân Huyền lại hào sảng, lạc quan vút lên giai điệu của “Xe ta đi trong đêm Trường Sơn”:
“Những đêm Trường Sơn
Đường biên giới uốn quanh co, mây trời đẹp quá. Vỡ kính rồi trăng tràn cả vào xe”.
Trên con đường Trường Sơn, người chiến sĩ lái xe với “bao chuyến đi về” đã “thuộc từng hố bom, từng ngọn cây vách đá”, dẫu “đạn xé bom rơi, mưa rừng xối xả” vẫn “mang lửa nhiệt tình đi giải phóng quê hương”. Cùng trong dòng cảm xúc này còn có thể kể ra đây các bài “Trên đường tiếp vận” của Hoàng Vân,  hay “Bài ca tiếp vận” của Thuận Yến. v.v... đã khái quát hình ảnh anh hùng của người chiến sĩ lái xe, những cô gái thanh niên xung phong trong mưa bom bão đạn vẫn bám trụ mặt đường, thông xe ra tuyền tuyến, bởi đường mòn Hồ Chí Minh không thể bị phá huỷ, nó đã trở thành mạch máu của cuộc chiến tranh giải phóng.
Hai bài hát điển hình viết về những cô gái thanh niên xung phong trên đường Trường Sơn là “Cô gái mở đường” của nhạc sĩ Xuân Giao và bài “Đường Trường Sơn xe anh qua” của nhạc sĩ Văn Dung...

Người tận hiến

07/02/2014 lúc 20:59






S





inh năm 1923, tại Mỹ Tho, khác với những người trong gia đình, Nguyễn Sáng chọn cho mình một con đường riêng, mang tên: nghệ thuật. Kể từ đấy bắt đầu cuộc vật vã hóa thân mệt nhọc, cuộc chạy đua kiệt sức tới những bến bờ vô định của cái Đẹp. Cuộc kiếm tìm quên ngày tháng, đói nghèo, thiệt thòi và bất hạnh.
Là người thích hội họa chính thống, Nguyễn Sáng đã làm một cuộc viễn du đất Bắc, bởi “Chỉ có ở đấy mới hợp với cái tạng và ước vọng sinh thành của người nghệ sĩ”. Năm 1938-1939, từ Sài Gòn ông ra Hà Nội thi đỗ vào Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương khóa XIV (1940-1945). Tháng 8 năm 1945, ông tham gia Cách mạng ở Hà Nội. Tháng 12 năm 1946, lên chiến khu Việt Bắc. Cũng năm này, Nguyễn Sáng vẽ bộ tem chân dung Hồ Chủ tịch-là bộ tem đầu tiên của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa; ngoài ra ông còn tham gia vẽ giấy bạc cho Bộ Tài chính (còn gọi là giấy bạc cụ Hồ). Hòa bình lập lại, ông về Hà Nội, ở tầng 3 nhà số 65 Nguyễn Thái Học.
Nguyễn Sáng là một kẻ lữ hành cô độc đúng cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Trong sáng tác ông thăng hoa, bay bổng chừng nào thì trong cuộc sống thường nhật ông vật lộn, túng quẫn chừng ấy. Khi những người cùng thời với ông, buồn cho số phận còn được tình yêu chia sẻ, mất tình yêu còn được cuộc sống đền bù… thì ông “ chẳng có gì ngoài một tấm lòng và hai bàn tay trắng”. Chính cái nỗi “khó sống” ấy là nguyên cớ cho Nguyễn Sáng dồn hết mọi nỗi niềm, tâm tư vào tranh, nhờ vào đấy mà chúng ta có một kho tàng nghệ thuật vô giá. Như một tín đồ của Mỹ thuật giáo, ông thà tuẫn đạo chứ nhất định không chịu cải giáo. Sự tôn sùng cái đẹp, coi cái đẹp là mục đích của nghệ thuật, chi phối toàn bộ hoạt động nghệ thuật của ông. Tranh Nguyễn Sáng khỏe khoắn và hoành tráng, chính xác và ngang tàng...

« 4142434445 »

Tạp chí số cũ
Dự thảo
tư tưởng Hồ Chí Minh
Du Lịch Quảng Trị

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

26/09

25° - 27°

Mưa

27/09

24° - 26°

Mưa

28/09

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground