Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 23/01/2021 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Bút ký

Xoay trở cuối năm

12/01/2021 lúc 10:01

Thương nhớ Tết quê

17/04/2014 lúc 14:46

TẾT LÀNG
 





B





ốn năm đi học xa nhà, mỗi năm về hai lần, vào dịp Tết và hè. Ngày hè thì không nói, nhưng Tết thì phải tận 26, 27 Tết mới được về, nên dường như mọi việc chuẩn bị cho cái Tết đã được bố mẹ chuẩn bị đâu vào đấy, chỉ việc đón Xuân thôi. Năm nay, may sao tôi về từ tận 21 âm lịch, cứ ngỡ sẽ được sống lại những ngày tháng cuối cùng của năm ngày nào. Nào ngờ.
Bình thường vào cử này là người làng tôi đã nhốn nháo đầu xóm, cuối thôn  “Tết về sau lưng rồi cô bác ơi!” Thế là dù có bận việc gì đi chăng nữa cũng để đấy, hay nếu có làm thì cũng huy dộng tất cả nhân lực xoay thật nhanh để xong trước ngày ông Táo lên chầu trời. Làng tôi có cái lệ, đón Tết từ ngày 23 âm lịch. Người lớn bảo: “Làm quần quật cả năm rồi, có mấy ngày cùng tháng tận trong năm có làm rốn cũng giàu hơn ai đâu, nghĩ sớm chút còn ăn chơi được, Tết thật sự rồi chả mệt bã ra còn sức đâu mà “ăn” và “chơi” nữa”.
Vậy nên từ 21, 22 đã thấy nhà nào nhà nấy thì thụp giã giò, rồi làm thịt lợn. Ông Táo làng tôi lên trời không chỉ bằng cá chép mà bằng cả chân giò, thủ lợn… Vào một sớm, trong cái giá lạnh mùa đông được phủ đặc bằng hơi sương còn tĩnh mịch bổng vang lên từ xóm giữa hay xóm trong, xóm ngoài tiếng lợn eng éc trước những tiếng gà canh tư là biết rằng mấy nhà đang chung nhau mổ lợn ăn Tết rồi. Con lợn được ngã ra, người quê là vậy, chia đều từ cái lưỡi đến cái đuôi. Riêng bộ lòng sẽ được làm cho mọi người uống rượu ngay tại đó. Và, nhà nào cũng có một hai đứa trẻ lẽo đẽo theo sau vừa là cho thoả mãn tính hiếu kỳ của chúng nó, vừa là làm chân sai vặt. Sau đó, kiểu gì cũng được bác chủ nhà cho miếng gan, miếng dồi chạy loăng quăng vừa nhai vừa nuốt nước miếng. Không hiểu sao, miếng lòng lợn ngon đến lạ, ngon đến tận năm sau. Hồi ấy, tôi cũng là một trong những đứa trẻ theo bố đi mổ lợn chung như vậy mà.
Càng gần Tết không khí càng rậm rịch hơn. Trời đất như cũng xuân hơn. Trời se se lạnh, mưa phùn lắt lay khiến con đường đê bụi đỏ mù lên trước đây như dịu lại, nữ tính hẳn. Ngoài đường, cành Đào với những nụ, những hoa đầu tiên bung cánh khoe sắc hồng ấm áp được người già, người trẻ bằng xe đạp, xe máy chở ngược chở xuôi về mỗi nhà. Rồi trong mỗi nhà, công việc như mọc ra nhiều hơn, toàn những việc không tên mà quay đâu cũng thấy, từ dọn vườn, dọn nhà đến chuẩn bị thức ăn, bánh trái.
Tôi thích nhất với việc gói và nấu bánh chưng. Bắt đầu là mấy chị em được bố mẹ giao nhiệm vụ đi rửa lá dong. Bàn tay nhỏ bé của tôi lạnh đến tê tái khi đưa tay và lá xuống dòng suối, rồi đặt lá lên mâm, dùng khăn miết thật mạnh để cho lá được sạch. Lạnh đấy, nhưng mà thích. Vì mình đã được cha mẹ tin tưởng, được làm thật sự chứ không phải một chân chạy lăng xăng nữa. Trong khi đó, mẹ làm nhân đậu, nhân thịt và ngâm gạo nếp ở nhà. Tối đến, bên mâm giữa nhà, dưới bàn tay rắn chắc của bố, những chiếc bánh chưng vuông vắn dần được hình thành sau những lần gập lá, buộc lạt. Tôi nhìn theo thao tác thoăn thoắt của bố mà quên cả nhiệm vụ cao cả là dùng lạt buộc hai chiếc bánh thành từng cặp. Cuối cùng, kiểu gì bố cũng giành cho anh em tôi một cặp hai chiếc bánh chưng con. Gọi là bánh chưng con nhưng nhân lại nhiều hơn ấy chứ, vì cuối cùng mà, nên còn bao nhiêu nhân bố cho cả vào đấy. Ngay sau đó, khoảng mười giờ tối là nồi bánh chưng bắt đầu đỏ lửa. Cái cảm giác ngồi canh nồi bánh vẫn sống lại trong tôi đến giờ. Trong khi ngoài trời  thì lạnh mà cạnh nồi bánh với những gộc củi tốt nhất, cháy đượm nhất  được giành từ lâu để Tết nấu bánh chưng cháy bập bùng thật ấm. Trong cái hơi ấm ấy, thêm mấy khúc mía lùi vào bếp, ăn vào ấm đến tận chân răng, ngọt đến tận gốc lưỡi. Thử hỏi, khung cảnh ấy, có ai không thích được cơ chứ. Với tôi, thích hơn nữa, háo hức hơn nữa là chờ được lấy cái bánh chưng con ra, thử đầu tiên. Mong ngóng lắm, chờ đợi lắm. Vậy mà tôi ngủ thiếp đi trong vòng tay của mẹ, của chị khi nào không hay.
Đếm cuối năm, mắt díp lại mà vẫn cố giương lên chờ đón giao thừa, để được hân hoan nhận tờ tiền mừng tuổi và lời chúc, lời dặn dò năm mới đầu tiên từ cha mẹ; để được nếm chiếc bánh trôi ngọt lừ tròng trành giữa bát mật sóng sánh như cô lại trong cái hơi lạnh nhưng thơm nồng của những làn khói hương cuộn tròn dùng dằng trong nhà không muốn bay đi của giây phút đầu năm mới; để được bố cho phép cậu cả nếm một chút vị cay cay ngòn ngọt của rượu vang với mong mỏi “Sang năm mới sẽ đàn ông hơn”....

Chứng nhân Cam Lộ

03/05/2014 lúc 09:23






T





ừ chợ Cùa - trung tâm thương mại, hành chính của xã Cam Chính, đi chừng hai cây số nữa thì đến một khu đất rộng, bằng phẳng như một sân bay dã chiến.
 
- Đây là Tân Sở. Ngày xưa vua Hàm Nghi từ Huế chạy ra đây xuống chiếu Cần Vương, kêu gọi toàn dân đánh Pháp…

Nhớ về anh

03/05/2014 lúc 09:18






H





 
ồi còn nhỏ, đang đi học trường làng, tôi có được nghe cha tôi và anh tôi nhắc đến ông Thông Nhuận với tất cả lòng kính trọng và ngưỡng mộ. Trong tâm trí tuổi thơ tôi, hình dung ông Thông Nhuận là một người to, cao, có phép tàng hình thoắt ẩn thoắt hiện, đang làm những việc cứu nhân độ thế. Lớn lên, trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, tôi nghe các anh các chị nói anh Ba Duẩn tham gia lãnh đạo phong trào kháng chiến ở Nam Bộ. Mặc dù ở xa trung ương, xa Bác Hồ nhưng những chủ trương của anh Ba rất phù hợp với đường lối kháng chiến kiến quốc của Đảng. Anh em thường ca ngợ anh Ba là "hai trăm ngọn nến", "một nghìn ngọn nến".

Con trâu và kỷ niệm đôi bờ sông tuyến

22/01/2014 lúc 15:12






T





ôi sinh ra ở một vùng quê thuộc vùng Đông Vĩnh Linh sát bờ Bắc con sông Bến Hải. Sau năm 1954, theo hiệp định Giơnevơ, sông Bến Hải trở thành giới tuyến tạm thời giữa hai miền Nam Bắc, quê tôi trở thành một vùng giới tuyến. Nhà tôi nghèo, nên tôi phải đi chăn trâu từ bé. Những năm học cấp 2, hàng ngày một buổi đi học, một buổi tôi phải đi chăn trâu kiếm thêm chút công điểm để đến mùa được chia thóc. Con trâu nhà tôi nhận chăn là của Hợp tác xã Tân Mỹ, thuộc xã Vĩnh Giang ngày nay.
Theo tôi, nó là con trâu đẹp nhất mà tôi được biết. Mình nó tròn lẵn, đen bóng với mấy chấm trắng rất ngộ nghĩnh ở giữa trán. Người làng tôi bảo: phàm những con trâu có chấm trán, hoặc lọ đuôi không những mau lớn mà còn cày rất hay. Con trâu tôi chăn cày hay thật. Đến mùa cày, các bác thợ cày của đội sản xuất đều tranh nhau để được cày con trâu của tôi. Tôi yêu nó lắm và đặt tên cho nó là con trâu Ve. Con Ve rất hiền, tôi thường cưỡi lên lưng nó để học bài trong khi nó đang gặm cỏ. Thích nhất là sau mỗi buổi chiều được gặm no cỏ, con Ve lại cõng tôi trên lưng khoan thai bước về làng, còn tôi thì ung dung ngồi trên lưng nó để hát nghêu ngao, hoặc nghe chim hót. “Ai bảo chăn trâu là khổ” câu thơ đã nói hộ niềm vui bé thơ, mộc mạc của những đứa trẻ chăn trâu như tôi.
Hàng ngày, sau buổi học, chiều nào tôi cũng theo bọn trẻ trong làng lùa trâu qua ăn trên cánh đồng Nậy sát bờ sông Bến Hải vì cỏ ở đây rất tốt, lại được tắm sông, được ngắm những bãi ngô trỗ cờ bên kia sông và để nhìn bọn cảnh sát đi lại trên bờ Nam. Nhưng rồi, một chuyện không may đã xảy ra.
Chiều hôm ấy con Ve đang gặm cỏ trên bờ đê, còn tôi thì ngồi học bài gần đấy, bỗng đâu con trâu mờm của đội 5 đang dầm nước dưới Hói Vai nhìn thấy bất ngờ lồng lên xông tới húc. Con Ve hoảng quá, lao bừa xuống sông bơi qua bờ Nam để thoát thân. Thế là tai hoạ đã xảy ra. Tôi bàng hoàng để rơi cuốn sách đang đọc, chạy ào ra bờ sông nhìn theo con trâu đang bơi một cách vô vọng. Thấy có con trâu từ bờ Bắc bơi sang, bọn cảnh sát Nguỵ ở đồn Xuân Hoà chạy ra lùa con trâu về đồn, mặc cho tôi và bọn trẻ kêu gào xin lại trâu ở bờ Bắc.
Biết không thể xin lại trâu trong lúc này, tôi chạy về nhà để báo cho mẹ biết. Mẹ tôi lâm bệnh nặng phải nằm liệt giường mấy năm nay, nghe tôi báo trâu bị lạc qua bờ Nam, mẹ tôi lặng đi hồi lâu, sau mới gượng dậy nói thều thào:
- Thôi chết rồi con ơi! Nhà ta nghèo, lấy trâu đâu mà đền cho Hợp tác xã. Con bảo với chị đi báo với Ban quản trị để họ tính xem sao?
Nhưng chị tôi chưa kịp báo, thì cả làng, cả xã đều biết con trâu nhà tôi nhận chăn đã bơi lạc sang bờ Nam. Đêm ấy, nhà tôi như có đám. Bà con trong xóm kéo đến rất đông để hỏi con trâu bơi qua sông làm sao, cũng như để an ủi mẹ tôi, sợ bệnh tình của mẹ tôi càng nặng thêm vì biến cố này. Nhất là các bác thợ cày, ai cũng xuýt xoa tiếc con trâu cày hay bị mất và nhìn tôi như trách móc. Còn tôi không còn nhớ tâm trạng mình lúc ấy như thế nào, chỉ biết rất lo, nếu con Ve bị mất thật thì... Tôi không dám nghĩ thêm điều gì nữa...
Đêm ấy, sau khi được chị tôi báo tin, Ban quản trị Hợp tác xã đã báo với xã tìm cách giải quyết. Sau khi nhận được tin báo của Hợp tác xã Tân Mỹ, UBHC xã Vĩnh Giang giao cho xã đội phối hợp với đồn công an vũ trang Hiền Lương tìm cách lấy lại con trâu, đồng thời nhờ đài truyền thanh khu vực Vĩnh Linh thông báo chuyện trâu bờ Bắc bơi lạc sang bờ Nam và yêu cầu đồn cảnh sát Nguỵ ở Xuân Hoà sớm trả lại con trâu cho nhân dân bờ Bắc.
Đến chiều hôm sau, khi đã bàn bạc kỹ phương án phối hợp với đồn công an vũ trang Hiền Lương, xã đội Vĩnh Giang tổ chức lực lượng, chèo thuyền qua bờ Nam để xin lại trâu. Tham gia đoàn, ngoài ông Ngô Quang Trinh - xã  đội phó với hai dân quân thuộc lực lượng chiến đấu cơ động của xã đội Vĩnh Giang đóng giả cán bộ hợp tác xã, còn có O Hoài ở xóm 5. O Hoài là một thiếu nữ không những đẹp người đẹp nết mà còn hát rất hay mà bọn cảnh sát Nguỵ ở đồn Xuân Hoà, trong đó có tên đồn trưởng đã biết mặt trong lần O cùng đội văn nghệ của xã Vĩnh Giang lên biểu diễn phục vụ cán bộ chiến sĩ đồn công an vũ trang Hiền Lương vào dịp tết cổ truyền vừa qua. Khi thấy thuyền của ta đi sát vào bờ Nam, hai tên cảnh sát đang đứng gần đó chạy xuống hỏi ra oai:
- Mấy người đi đâu mà chèo thuyền vô đây? Vô đây là vi phạm hiệp định.
- Nghe bọn cảnh sát hỏi như vậy, ông Trinh trả lời rất kiên quyết:
- Chúng tôi có lên bờ đâu mà vi phạm hiệp định. Chúng tôi qua đây là để yêu cầu các anh trả lại con trâu cho nhân dân bờ Bắc, trưa nay các anh không nghe đài Vĩnh Linh thông báo có con trâu của nhân dân bờ Bắc bơi lạc sang bờ Nam đó sao?...
 

Nguyễn Hoàng - Hoài cảm thuở mang gươm đi mở cõi

22/01/2014 lúc 15:11

 “ …Ai về đất Bắc ta đi với
Thăm lại non sông giống Lạc Hồng
Từ thuở mang gươm đi mở cõi
Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long
 
 Ai nhớ người chăng? Ôi Nguyễn Hoàng!
Mà ta con cháu mấy đời hoang
Vẫn nghe trong máu hồn xa xứ
Non nước Rồng Tiên nặng nhớ thương…”
                       (Nhớ Bắc-Huỳnh Văn Nghệ)
 





K





hông phải ngẫu nhiên mà bài thơ “Nhớ Bắc” nổi tiếng của Huỳnh Văn Nghệ sau khổ thơ đầu nhắc nhớ đến đất Thăng Long và nòi giống Lạc Hồng thì khổ thơ thứ hai đã nhắc đến Nguyễn Hoàng, vị tiên Chúa có công đầu mở cõi, đưa đất nước tiến về phương Nam cho hậu thế hôm nay có dãi đất hình chữ S hào hùng bên bờ Thái Bình Dương.
Hội thảo khoa học quốc gia về “Chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn” tại Thanh Hóa nhân 450 năm nhà Nguyễn ( kể từ khi Nguyễn Hoàng vào khởi nghiệp ở Quảng Trị năm 1558) đã được nhiều sử gia trong và ngoài nước đánh giá rất công tâm. Với triều Nguyễn, có thể những nhận định về vị chúa này, ông vua nọ cần phân định công và tội, nhưng  riêng với Nguyễn Hoàng, tất cả đều thống nhất đó là vị chúa đã đóng góp lớn lao cho miền Thuận Quảng buổi đầu, từ nền móng của Nguyễn Hoàng mà con trai ông, chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên đã mở mang các cảng thị như Cửa Việt, Hội An, đưa kinh tế giao thương của Đàng Trong tiến ra biển lớn và ngày nay ta có Hội An-di sản văn hóa thế giới …
Cũng từ Nguyễn Phúc Nguyên, dinh trấn Ai Lao được thành lập để giờ đây chúng ta có một cửa khẩu quốc tế Lao Bảo đô hội nhộn nhịp.Chưa nói đến cương vực từ Thạch Bi Sơn (Phú Yên) vào tận  miền Chân Lạp-Nam Bộ, những kênh rạch đồng bằng từ Cà Mau lên Hà Tiên đều ghi dấu công lao các chúa Nguyễn, chỉ riêng đất Quảng Trị với 68 năm làm thủ phủ (1558-1626), niềm vinh hạnh được coi là đất đứng chân, đất bàn đạp của Quảng Trị để từ đây lãnh thổ vươn ra rộng dài đã là một tự hào của bất cứ ai. Bởi tất cả đã  khởi đầu từ Ái Tử .
   
Kể từ Nguyễn Hoàng cất bước ra đi mưu nghiệp lớn, cương vực đất nước rộng mở về phương Nam để rồi cõi trời Nam liền một dãi từ Lạng Sơn đến Cà Mau dưới thời vua Gia Long-Nguyễn Ánh (1802) , cho đến hôm nay, tròn 450 năm, trãi bao nhiêu dâu bể phân tranh, bao thăng trầm lịch sử, trên miền đất Nguyễn Hoàng chọn làm “kinh đô” khởi nghiệp ấy, 450 năm qua, còn lại gì lưu dấu tiền nhân? Còn những gì tưởng niệm tiền nhân?      
Dinh Cát- Ái Tử, dinh Trà Bát, bãi Sa Khư, chùa Liểu Ba, miếu Trảo Trảo,bến Gành…, Nguyễn Hoàng, Nguyễn Ư Dĩ, Mạc Kính Điển, Nguyễn Phúc Nguyên…Những tên đất, tên người buổi đầu mở cõi ấy ,  không gắn với một vùng đất phồn hoa đô hội nào của đất nước này  mà lại chứa chan với vùng quê Quảng Trị tơi bời gió cát.
Công lao của Nguyễn Hoàng giờ đây đã được nhìn nhận, sử cũ đã nhắc nhiều, vì thế chúng tôi không dám nói thêm.Chỉ mong ước tìm về miền thủ phủ xưa để may ra  tìm thấy  những vết tích ghi dấu buổi đầu chúa Nguyễn mang gươm đi mở cõi…
Buổi đầu đất lạ…
 
 

Đường xa

17/04/2014 lúc 14:47







C





huyến đi châu Âu vừa qua tôi đã dừng chân ở lại Vác-sa-va mươi ngày để làm lữ khách của cộng đồng người Việt sinh sống tại đó. Chả là tôi vẫn thường mong mỏi có một dịp như thế.
Các anh trong “Sứ” xếp sắp tôi về nghĩ chỗ anh Quán, tính thế là ý tứ lắm, vì họ đều biết hai chúng tôi là bạn cũ đã nhiều năm, Quán giờ lại đang là cán bộ đối ngoại phụ trách công tác người Việt ở nước ngoài.
Một căn hộ khiêm tốn trong một chung cư khiêm tốn do Sứ quán ta đứng ra thuê lâu dài. Ngành ngoại giao cứ vài năm lại một lần luân chuyển cán bộ, người về kẻ đến, chỉ ngôi nhà là vẫn đứng đó, xem chừng ngày một già nua. Tôi để ý mấy vòi nước trong nhà cái thì khô rang cái lại tong tỏng chảy, nắm giẻ băng bó quanh nó lúc nào cũng sũng ướt. Nhà có hai buồng ngủ, một buồng của Quán còn buồng kia dành cho cháu Tố Uyên là con gái anh, thời gian này con bé đang vùi đầu vào làm luận văn tốt nghiệp cử nhân kinh tế Đại học Vác-sa-va. Trong tình thế ấy tôi tất nhiên chỉ còn cách chiếm lĩnh phòng khách. Nước nôi hút thuốc hàn huyên trên đi-văng, lúc một mình thì nằm dài trên đi-văng. Mấy hôm đó tôi còn bị cảm nữa mới rách việc chứ, khạc ho ầm ĩ, sổ mũi nhức đầu, nằm nhìn trân trân lên trần nhà cố tìm một con thạch sùng mà không thấy, kiếm đâu ra thạch sùng ở cái xứ lạnh chết người này. Càng nghĩ càng thương bạn, càng nể bạn. Một ông khách lù lù hiện ra, rõ là không mời mà đến, đến bất chợt như thể từ trên trời rơi xuống. Có khổ cho người ta hay không? Phương Tây có câu, khách tới nhà ngày đầu là vàng, ngày hôm sau là bạc, ngày thứ ba là đồng, còn những ngày sau nữa thì là đá, là chì là gì gì, không cần kể. Dẫu sao với tôi phải hiểu như thế là tiện cho mình lắm, chỉ phiền là phiền cho bố con nhà Quán mà thôi.
Nhớ lại hai chục năm trước, ở Matxcơva, tôi cũng đã từng có những lần đến làm khách nhà anh. Là cứ ăn ngủ tự nhiên như ở nhà, thuốc hút khói um, chuyện trò thâu đêm suốt sáng, đứng trước cửa buồng chị Oanh vợ Quán hai tay chống nạnh, miệng tuy cố gắng cười mà đôi mắt thì gườm gườm như mắt hổ. Một đôi mắt hổ thiếu ngủ vì con bé con vừa sinh cũng có mà vì mấy gã đàn ông vô ý vô tứ đang kéo đến làm loạn cái tổ ấm này cũng có. Mấy bóng đàn ông chụm đầu vào nhau chuốc rượu, tay mỗi thằng cầm một con cá khô vùng Ast-ra-khan vừa mặn mọt vừa cứng như gỗ. Năm ấy chúng tôi kéo nhau qua đó là để theo một khoá học của trường viết văn M.Gorky, trong đoàn có cả Phạm Tiến Duật, tôi và Duật chung một buồng, những chiều rỗi rãi hai thằng lại rủ nhau kéo tới nhà Quán bù khú cho vơi đi nỗi nhớ nhà. Quán là một người bạn tốt tính tốt nết, lịch duyệt, mềm mỏng, và hết sức kiên nhẫn, nhún nhường. Có phải vì nhờ những ưu điểm ấy mà anh đã được chọn làm ngoại giao chăng.
Trong tiếng o oe của cháu gái từ buồng bên đang vọng ra, Duật lâm li nâng chén rượu lên, đôi mắt anh ươn ướt, long lanh như cũng muốn khóc cùng con bé. Duật nói, nào chén này là để uống mừng Oanh và Quán, chúc cháu gái mau khôn lớn, nó là món quà quý nhất ông trời đã ban cho cô chú. Làm ngoại giao của một đất nước nghèo như nước mình thì không thể tránh khỏi nhọc nhằn, đến một bộ quần áo ra đường nhiều lúc cũng thiếu, nhưng chẳng sao, điều sinh tử là phải giữ cho mình một cái cốt thật vững chãi. Những năm tháng này tớ thấy hình như đang sắp có chuyện gì không bình thường, thành phố này như đang sắp lên cơn say cả với nhau. Hãy cứ đứng trước cửa các ga tàu điện ngầm mà nhìn, quả là rối loạn, vào ra rối loạn. Lối vào có viết rõ chữ “vơ khốt”, lối ra là “vư khốt”. Nhưng đám người vào cứ “vư” mà lao, còn người ra thì cứ “vơ” mà xô đến. Vơ vư chen lấn xô đẩy, thành tắc nghẽn không thoát được. Đó là dấu hiệu bất thường. Mấy ông già bà lão, mấy cô cậu thanh niên cứ ngồi xuống ghế là y như rằng mỗi người đặt một cuốn sách lên đùi, nhưng con mắt lại ngó nghiêng đâu đâu, thế là diễn mà không đọc, bụng dạ nào mà đọc nữa.
Rồi Quán lại rót rượu và Duật lại uống. Chưa biết Matxcơva có lên cơn say hay chưa, nhưng đúng là đêm ấy Duật đã uống rất nhiều và anh đã say, anh lăn ra ngáy ầm ầm trên tấm thảm trải sàn, đầu gối lên đùi Quán. Một đêm có bão tuyết, gió chạy ù ù, nhìn ra cửa sổ thấy ngoài trời mù mịt, bóng đèn đường chập chờn mờ tỏ, tuyết bay phủ khắp nơi.
Bây giờ thì tôi đang nằm đây trong căn phòng khách của bố con anh. Một phòng khách nho nhỏ, đơn sơ có thể hiểu là chả có gì đáng giá, nó chỉ như một phòng trọ hạng bét. Tuy nhiên tôi vẫn cảm thấy hết sức bình yên.
Vác-sa-va cũng vừa ra khỏi một mùa đông nhiều tuyết, thành phố trẻ ra và đang mới mẻ lên theo năm tháng. Bầu trời trong veo, những nắng và gió, cây lá dệt thành những tấm thảm lục bát ngát phủ khắp các đường, đâu đó tôi nghe có tiếng chim riu rít, rất nhiều chim. Vác-sa-va là một thành phố của chim và của các thiếu nữ. Từng đám con gái đẹp như thiên thần, lộng lẫy kiêu sa, cô nào cô ấy áo xiêm duyên dáng, trong họ mà ngỡ như đó là những nàng tiên vừa bước lên từ hai bờ của dòng sông cổ tích Vít-soa...
 

Nghĩ bên lề ngày hội di sản

22/01/2014 lúc 14:56






T





ôi còn nhớ, ngày 18/5/2006 Hội Di Sản Quảng Trị được thành lập. Nhà văn Xuân Đức, Chủ tịch Hội của chúng tôi đặt vấn đề “ Hội Di sản với không gian di sản” (in trên Cửa Việt số 146- tháng 6/2007). Mọi điều ông bàn và luận rõ là chí phải, ví như “ Di sản văn hoá (gọi tắt là Di sản) được hiểu một cách đại lược là những sản phẩm văn hoá có giá trị đặc sắc (cả sản phẩm bằng vật chất và tinh thần) được lưu giữ, truyền tụng lại cho xã hội qua nhiều thế hệ. Có hai yếu tố then chốt nhất tạo nên Di sản, một là sản phẩm ấy phải là kết quả lao động sáng tạo của con người (từng cá nhân, cả cộng đồng), hai là phải có được một giá trị bền vững, được thế hệ đồng thời thừa nhận, ứng dụng, tôn vinh và truyền tụng lại cho thế hệ sau. Như vậy, có thể thấy rất rõ là, một thành tựu văn hoá muốn trở thành Di sản phải có một đời sống xã hội, sản phẩm đó phải có cuộc sống thật trong cộng đồng, được công chúng ứng dụng, tôn vinh và truyền tụng...”. Năm sau với tư cách hội viên tôi được mời đến dự ngày Lễ hội Di sản. Thì cũng có Lễ thượng cờ, thấy các nhà sưu tập, các nghệ nhân mỹ nghệ, đá cảnh, cổ vật, thư pháp, đàn hát dân ca...Vậy nhưng khi qua gian hàng Văn hoá ẩm thực (tôi chuộng văn hoá vật thể như các món ăn truyền thống / các miền gái đẹp chẳng hạn)... thì thấy hơi chạnh lòng vì ẩm thực miền xuôi Quảng Trị xem ra “eo xèo” quá, đơn giản quá!..
Vậy nên mạnh dạn đề xuất, mở rộng không gian văn hoá ẩm thực lên miền Tây Quảng Trị vậy. Mong Hội Di sản chúng ta tổ chức lần sau thì quy tụ về.
   
    Đến với đồng bào Bru- Vân Kiều hay Pako vào dịp lễ hội hay Tết lúa mới, chúng ta sẽ bắt gặp những món ăn cổ truyền dân dã bởi chất liệu đều là cây nhà lá vườn và cách thức chế biến mộc mạc đơn sơ song không kém phần hấp dẫn. Dưới đây chúng tôi giới thiệu một số món đặc sản đại diện cho kho tàng văn hóa ẩm thực ấy:
Bánh Adơr. Là một loại bánh làm bằng nếp và vừng đen. Nếp được đồ thành xôi, vừng đen rang lên rồi giã nhỏ. Mỗi chiếc bánh Adơr tốn khoảng 30 bơ gạo nếp, 5 bơ vừng đen, quả là cái bánh khổng lồ xét dưới giác độ truyền thống (là vì ngày nay người ta làm cái bánh chưng 10 tấn cũng thế!). Trộn xôi và vừng đưa vào cối quết cho nhuyễn xong đem dát lên một chiếc mâm đồng, ém cho kỹ coi như đã khuôn bánh xong. Tùy theo mục đích sử dụng mà gia chủ có thể làm bánh Adơr đôi, vừng nếp gấp đôi, đúc vào hai chiếc mâm đồng.
Thường vào dịp tết nhà gái mang bánh Adơr qua làm quà cho họ nhà trai, ý nghĩa như là lễ chúc sức khỏe đầu năm. Khi nhà trai nhận bánh rồi, người ta dùng dao cắt ra từng miếng nhỏ đem mời mọi người cùng ăn. Loại bánh Adơr ăn vừa thơm, béo và bùi; là loại bánh chí tình chí nghĩa. Nhân dịp này nhà trai làm tiệc thết đãi nhà gái rất mặn nồng. Khi nhà gái ra về họ không quên trao quà đáp lễ. Thường là hai cái bát ăn cơm, vài đồng bạc trắng tùy theo khả năng gia đình và không quên kèm theo con gà để nhà gái dâng cúng trên bàn thờ Bổn mệnh (Mantôr pariang).Điều rất vui là ngày nay trong các dịp lễ hội, người ta mang bánh Adơr này ra chiêu đãi cộng đồng, khách phương xa. Ai đã có được dịp may mắn thưởng thức thì không thể không bái phục và hễ có cơ hội là tìm cách quay về thưởng ngoạn thêm một lần nữa.
Bánh Xala chuih. Là loại bánh chỉ gói bằng gạo nếp, không có nhụy gói trong lá chuối hoặc lá dong như bánh tét người Kinh, chỉ khác bánh tròn và nhỏ. Cái bánh Xala chuih nhỏ bằng ngón tay cái, cắn một hai miếng là hết; xem ra nó hợp vệ sinh, tiết kiệm chống được lãng phí.
Tuy nhiên giá trị của Xala chuih cũng không thua kém gì Adơr. Mỗi dịp lễ hội hay ngày tết đến, ai cũng làm loại bánh này; vì đồng bào có quan niệm đất trời sinh ra con người, lại nuôi sống loài người bằng gạo và nếp. Vì thế lấy gạo nếp làm loại bánh Xala chuih để cúng tế trong các lễ hội là hợp với đạo lý, là rất đổi thiêng liêng, nhất là đối với thần Lúa (Yang Abôn) vậy.
Cơm ống. Cơm ống cũng là đặc sản của đồng bào miền núi. Người ta chọn ống nứa nhỏ to là tùy ý miễn không quá non hoặc quá già. Mỗi ống cắt hở một đầu làm miệng, còn đầu kia để cái mắt ống nứa lại làm đáy. Đổ gạo hoặc nếp vào 2/3 ống; đổ tiếp nước lả vào ngâm một ngày hoặc một đêm thì vừa. Ngâm xong lấy lá chuối nút miệng lại cho kín đưa vào bếp lửa nướng; bao giờ vỏ ngoài chiếc ống vừa cháy xém là được. Muốn ăn chỉ việc chẻ, tước ống nứa ra. Độ ngon của cơm ống phụ thuộc vào việc chọn ống nứa đạt tiêu chuẩn; kỹ thuật nướng theo đúng quy trình như đã nói thì cơm ống ngon đặc biệt, ăn không biết chán. Có lẽ đây là một cách thổi cơm của thời nguyên thủy, vậy mà ngày nay được chứng kiến tận mắt, được thưởng thức món ăn đặc sản này không ai không khâm phục!
Canh ống. Chỉ nghe qua việc đặt tên cho món canh này thôi đã thấy thèm thuồng, muốn biết ngay đến kỹ thuật chế biến. Dễ thôi. Canh ống là một món ăn thật dân dã, không còn gì dân dã hơn song lại ngon hơn bất cứ loại canh nào trên đời mới lạ. Người ta lên rừng hái các đọt cây ăn được như măng, mưng, đọt mây, rau rớn, cà, bắp chuối rừng, nấm... đem cắt nhỏ rồi trộn muối ớt; nếu có thêm bất cứ loại cá nào hay cua ốc bắt được ở suối thì càng tốt. Tất cả được đem đổ vào một ống nứa to bằng bắp chân, gác lên bếp lửa như kiểu nướng cơm ống. Khi đã chín dốc ống nứa ra để lấy thức ăn...
 

Ở thung lũng Cù Bai

01/01/1970 lúc 08:00

Vượt đèo Sa Mù cheo leo quanh năm mây phủ, tôi đến thung lũng Cù Bai khi mặt trời bắt đầu khuất dần sau dãy núi xa xanh hình cánh cung như vòng tay khổng lồ vững chãi ôm lấy những bản làng hiền hoà bình yên náu mình dưới tán rừng của đại ngàn Trường Sơn. Nhấp nhô trên quãng đồi mượt xanh rừng trồng, từng đàn trâu đủng đỉnh trở về bản trong tiếng mõ khua lốc cốc cõng trên mình chú bé đen nhẻm đầu trần, tóc vàng hoe vì sém nắng ngồi vắt vẻo như bước ra từ bức tranh “Mục đồng” của làng tranh Đông Hồ chỉ thiếu chiếc lá sen cùng cây sáo. Thung lũng Cù Bai bắt đầu vào đêm. Sau bữa cơm đón khách, tôi có phút thư thái chuyện trò cùng các chiến sĩ của Đồn Biên phòng 605. Khi biết tôi có ý định viết về mảnh đất, con người ở nơi đây, các anh bảo rằng muốn viết thật hay, thật sinh động phải lội bộ vào đến bản Cuôi, Tri, Xa Lỳ, A Xóc, Xê Pu, Tà Păng là bản xa nhất xã Hướng Lập hay đến bản Xà Là, Trăng, Xa Đưng, Cà Tiêng, Tà Rùng của xã Hướng Việt (huyện Hướng Hoá) để tận mắt nhìn thấy người dân ngăn suối làm thủy điện nhỏ. Không vào rừng chặt phá mà lên đồi trồng cây bời lời, xoan đỏ, trầm gió cho núi rừng thêm non tơ màu xanh. Bước qua lời nguyền của Giàng làm lúa nước để có được hạt cơm dẻo thơm hương lúa mới mà thoát cảnh thiếu đói quanh năm. Sáng sớm khi núi rừng còn ngái ngủ trong làn sương mờ ảo chưa kịp tan bởi ánh nắng bình mình vàng nhạt cùng cơn gió an lành khoáng đạt thổi về từ rừng xa, tôi đã đánh thức anh bạn đồng nghiệp trở dậy lên xe vào bản Cù Bai gửi xe lại bản rồi sau đó lội bộ qua ba ngọn đồi, bốn con suối vào bản Tà Păng. Đón tôi ở chân cầu thang ngôi nhà sàn vững chãi nằm ở đầu bản là Đại uý Phạm Văn Nhiên (Đồn Biên phòng 605) cùng già làng Hồ Văn Khai. Già làng Hồ Văn Khai không vồn vã bắt tay tôi như anh Nhiên mà cứ cười cười nhả làn khói xanh lam từ chiếc tẩu thuốc ngậm chệch bên miệng rồi nhìn tôi từ đầu đến chân sau đó mới chậm rãi.
...
 

Đường Hồ Chí Minh hai chiều thời gian

26/05/2014 lúc 08:55

1- Âm hưởng tự hào và vinh quang chiến thắng của mùa xuân 1975 đã nâng sự lãng mạn của chúng ta hồi ấy bay bổng đến mức rằng chỉ cần một thời gian ngắn thôi, đường mòn Trường Sơn của những ngày kháng chiến ác liệt sẽ trở thành thênh thang đại lộ và chạy dài theo nó là thành phố Trường Sơn, một thành phố hùng vĩ xinh đẹp và hiện đại hơn cả Hà Nội, Sài Gòn...Hơn hai mươi năm, hút bóng thời gian, sự lãng mạn cũng lặng lẽ chìm khuất dưới những nhọc nhằn lo toan cơm áo mỗi ngày, không còn mấy ai nghĩ đến cái thành phố Trường Sơn trong dự tưởng ấy nữa. Nhưng giấc mơ về nó vẫn âm ỉ cháy trong trái tim của những người dân rẻo cao, trong trái tim một bà mẹ Vân Kiều đã trở thành huyền thoại của đại ngàn Tây Quảng Trị: Mẹ Giã Vầng! Những ngày đánh Mỹ ai từng đi qua hành lang Trường Sơn Đông đều nghe kể câu chuyện về một bà mế Vân Kiều đã xô quả bom trên đường ra rẫy để bà con dân bản có lối lên nương, bà mế ấy đã tải gạo gùi đạn gần mười năm trời trên đường 14, đã từng ăn...kiến thay cơm, đi tìm những củ sắn, bắp ngô nuôi bộ đội và cùng với tổ du kích vùng Lìa bắn rơi máy bay Mỹ. Mế Giã Vầng đấy! Bây giờ mế vẫn sống trong cái bản nhỏ gần đồn biên phòng Tam Thanh, phía Nam huyện Hướng Hóa. Tôi hơi dông dài về mế bởi trước khi chúng ta nói, viết, làm phim về một xa lộ Trường Sơn, Một Trường Sơn công nghiệp hóa thì trong giấc mơ của Mế Giã Vầng đã có một Trường Sơn thao thức như một ám ảnh thời gian mà cứ mỗi lần trở lại Trường Sơn đôi mắt mế nhìn khiến như mình thấy có lỗi...

Đời sao ngắn thế Vân ơi!

22/01/2014 lúc 14:38






T





ôi và Vân đều là học sinh nhảy núi, vì thế khi gặp được nhau là mừng hơn cả khi ra nước ngoài gặp người Việt. Hai anh em tôi nhân một đợt huấn luyện cán bộ xã đội nên sống với nhau hơn một tháng trời. Vân to khoẻ, cánh tay lông lá không khác gì người Tây. Khuôn mặt điển trai, da trắng trông có nét nghệ sĩ.
Tôi biết Vân yêu cô L. làm y tá chiến trường nhưng cậu sợ bị kiểm điểm nên cứ vụng trộm đến thăm nhau. Tình cờ một hôm tôi lấy cuốn sổ chép thơ của Vân ra xem. Lật trong trang lót bìa bắt gặp một mẩu giấy kẻ hai chữ VL lồng chéo vào nhau như người ta thường vẽ mẫu thêu trên áo gối một thời, tôi bèn lấy ra cất vào một nơi. Mấy ngày sau cậu tìm không thấy liền truy hỏi. Mặt mày Vân tái nhợt, sợ người trong đơn vị lấy được làm ồn lên thì rắc rối to. Thời ấy yêu nhau còn cấm kỵ vì chiến tranh làm sao mà sinh con đẻ cái cho được. Ai mà nhỡ ra là lập tức bị kỷ luật và chuyển ra tuyến sau đi tăng gia sản xuất, nhục lắm! Thanh niên mà. Thương Vân, tôi trao lại cho cậu ta và bảo : Thế nhé! Dấu sao nổi mình, mà khéo nghe! Phải biết giới hạn thôi!. Tôi thấy khuôn mặt buồn của Vân u trầm lắng nhẹ trong cõi xa vời tuổi đôi mươi. Ngày chia tay lớp huấn luyện, trở lại chiến trường, tôi và Vân xốc ba lô về lại ban B Vĩnh Linh để nhận thêm đạn dược. Cô L. đi nhận thuốc về, không kịp tiễn đưa, cô chạy băng băng giữa đồi sim lúp xúp đuổi theo. L. trao cho Vân bộ quần áo cô vừa mới may xong còn thơm mùi vải. Hai người nói với nhau chỉ trong vài phút, tôi không nghe rõ. Một tình yêu thầm lặng mơ màng đẹp như giấc mơ huyền ảo lung linh không ăn nhập gì với thời chinh chiến.
Vào chiến trường,Vân chiến đấu ở vùng Cam Mỹ, Cam Lộ, còn tôi chiến đấu trên hàng rào điện tử Dốc Miếu, Cồn Tiên. Hai chúng tôi theo nhau bằng những lá thư qua đường giao liên thông nối hàng tuần hàng tháng.
Dịp ấy, để chuẩn bị cho cuộc tổng tấn công nổi dậy xuân sáu tám, anh em chúng tôi được ra Vĩnh Linh để học tập,Vân gặp tôi bên bến sông Bến Hải. Hai đứa mừng vui ôm chầm lấy nhau như xa lâu ngày. Sống, chiến đấu ở chiến trường mỗi ngày đi qua sao mà dài lê thê. Tôi mang chai rượu Đi-ta-ki-na, loại rựợu thuốc ngọt như mật, cất dấu lâu nay ra đãi bạn. Vân mở ba lô lôi ra gói kẹo Hải Hà, quà tết ai đó cho Vân, hai đứa liên hoan bên bãi cỏ hoang còn khét mùi đất cháy.Có lẽ thứ mùi này chỉ có ở chiến trường mới ngửi thấy. Nó hăng hắc, lờm lợm hoang dã, dễ rợn người.
Vân kể cho tôi những ngày ở Cam Mỹ, sáng xách súng đi chống càn, tối lò dò vào cơ sở vận động quần chúng. Có lần Vân dẫn một đơn vị chủ lực vượt rừng băng qua Cù Đinh ra Bãi Hà. Một chuyến đi huyền thoại trong đời lính chiến. Vân cùng năm anh em đi từ tinh mơ đến quá trưa mới dừng lại ăn cơm trong căn lán của một binh trạm Trường Sơn. Nhai hết mấy nắm cơm vắt, mấy anh em căng võng nằm nghỉ. Mỏi mệt, anh em thiếp đi, không hay cái chết đang cận kề gang tấc. Một đàn voi đi ngang qua lán. Ông đầu đàn tạt vào. Sáu anh em nằm chết lặng trên võng của mình, mắt nhắm nghiền lại...
 

Hơn cả nỗi đau

17/04/2014 lúc 14:48






“T





ôi nhớ”, ngày 10 - 8 - 1961, khi chiếc máy bay trực thăng H34 của không lực Hoa Kỳ thực hiện chuyến bay rải chất độc khai quang đầu tiên dọc theo quốc lộ 14 từ Kon Tum lên Đắc Tô bắt đầu cuộc chiến tranh hoá học dã man bậc nhất trong lịch sử nhân loại với mật danh “Ranch Hand”; cho tới khi kết thúc năm 1971, đã có khoảng 20 triệu gallon cũng như nhiều chất diệt cỏ dội lên “đầu” Việt Nam, tương đương với khoảng 170 kg đioxin - loại chất độc mà chỉ cần một muỗng cà phê cũng có thể giết hàng triệu dân thường. Điôxin, nó đe dọa trực tiếp đến sự sống của mỗi loài động vật khi gần 150.000 ha diện tích rừng bị tàn phá. Là vùng rừng dày đặc, Quảng Trị sớm trở thành một trọng điểm trong kế hoạch thiết lập “vành đai trắng” của giặc. Khoảng 15.000 nạn nhân, trong đó gần 2.000 người chết do nhiễm độc quá nặng. Có hơn 1.500 ha rừng, hoa màu thời đó đã bị chết do chất độc từ máy bay Mỹ thả xuống, chủ yếu tập trung vào hai xã Cam Chính, Cam Nghĩa thuộc huyện Cam Lộ ngày nay… Những cánh rừng nối tiếp bám rễ vào đất như muốn hút hết chất độc còn lại để con người được nằm xuống yên bình, mà chẳng được. Rồi lớp lớp người từ chiến trường xưa kia bị nhiễm độc trở về, dẫu có “tích đức” hàng chục vạn năm vẫn không nắm lại được hình người của họ, của con họ, cháu họ và… đó là đỉnh cao, cũng là tận cùng của di chứng tội ác...

Vĩ thanh của người anh hùng lái xe

12/05/2014 lúc 16:21






Ô





ng là vị anh hùng lao động đầu tiên trong đời tôi được tiếp chuyện. Ngoài sự ngưỡng mộ những hành động quả cảm của ông trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước mà qua sách báo và những người cùng thời với ông kể lại, tôi còn là một trong số một nghìn đứa trẻ phải tri ân ông suốt đời vì ơn cứu mạng trong cái đêm 02-9-1967 kinh hoàng ấy.
Ông đặt tay lên trán, chậm rãi kể lại:
- "Đêm ấy, mình nhận nhiệm vụ chỉ huy đoàn xe hai mươi chiếc, tiếp tục chở học sinh Vĩnh Linh sơ tán ra các tỉnh phía Bắc. Bên tai cứ văng vẳng lời dặn dò của ông Bí thư Khu ủy Vĩnh Linh: "Chí Thành có nhiệm vụ chỉ huy đội xe thực hiện kế hoạch K8, chở ba vạn học sinh Vĩnh Linh sơ tán ra khỏi vùng lửa đạn. Nhiệm vụ này hết sức khó khăn, làm sao phải đảm bảo an toàn tuyệt đối cho tất cả các cháu khi vượt qua các trọng điểm địch đánh phá ác liệt. Nhiệm vụ này có thể ví như người gánh một gánh trứng đầy đi qua sợi dây mảnh không được để một quả trứng nào bị rơi vỡ".
Trời mờ tối, đoàn xe tắt đèn lặng lẽ rời khỏi Vĩnh Linh, lao nhanh ra Quảng Bình. Vừa qua khỏi Dốc Sỏi, hai dân quân vác súng chạy ra đường chặn đầu đoàn xe:
 
- Phía trước có bom nổ chậm! Yêu cầu dừng lại...

Mùa xuân - Nhớ về làng sen quê Bác

12/05/2014 lúc 16:20






N





hững ngày giáp tết năm 1976, tôi có dịp đi công tác về xã Kim Liên, Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Lần đầu tiên đi Kim Liên - Nam Đàn nên không khỏi bỡ ngỡ, nhưng cũng rất thú vị bởi được người ta kể nhiều về mảnh đất con người, phong cảnh thiên nhiên quê hương Bác Hồ đẹp đẽ hữu tình mà tôi chưa một lần đặt chân tới.
Vào thời điểm này miền Nam nước ta giải phóng mới được một năm, Miền Bắc vừa mới thoát khỏi cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Cơ sở hạ tầng như đường sá giao thông còn nhiều cách trở. Từ Đông Hà đi Kim Liên cũng đến ba ngày mới tới nơi. Suốt dọc chặng đường quốc lộ khu Bốn từ Nam ra Bắc đã biến thành những ổ gà, ổ voi. Hai bên đường nhiều hố bom còn tươi rói màu đất bazan. Hơn hai ngày đường xe mới tới được thành phố Vinh. Cảnh tượng đập vào mắt tôi đầu tiên là một thành phố đổ nát hoang tàn do bom đạn Mỹ trút xuống. Nhiều khu nhà biến thành đống gạch vụn. Nhà máy điện Vinh một thời oanh liệt nay chỉ còn trơ ống khói, nham nhở thương tích đứng chơ vơ bên chân núi Dũng Quyết - Bến Thủy - Sông Lam.
 
Xuống bến xe Vinh mua vé về Nam Đàn cũng khó khăn, phải xếp hàng. Phải ăn cơm tại bến. Phải ngủ lại đêm chờ đợi. Có lẽ sắp đến ngày tết nên cán bộ, bộ đội, đồng bào, học sinh các nơi đổ về bến xe này để tỏa đi các ngả. Tôi kiên nhẫn. Và cuối cùng cũng mua được chiếc vé đi Nam Đàn. Xe rời thành phố một quảng thì ngược con đường tỉnh lộ 49 qua Thái Lắc đến cầu Mượu, ven chân núi Độc Lôi là đến địa phận huyện Nam Đàn. Bước xuống xe tôi bồi hồi ngắm nhìn mảnh đất Nam Đàn...

Tạ ơn vùng đất

22/01/2014 lúc 09:09






C





am Lộ bén duyên trong tôi kể cũng kỳ lạ. Đó không phải vùng đất tôi sinh ra và lớn nhưng trong tôi nó rất thiêng liêng và đằm thắm. Thời niên thiếu, đứng ở bờ Bắc sông Hiền Lương nhìn vô Đông Hà, Cam Lộ một đứa bé con như tôi thấy xa ngái quá chừng, lại nghe nhiều bài hát của các nhạc sỹ Trần Hoàn, Huy Du, Huy Thụcviết về Cam Lộ thấy rất đỗi yêu thương vùng đất... Nắng chiều về qua Đông Hà Cam Lộ, thắp sáng ngời núi rừng miền tây, dòng sông xanh uốn quanh co dãi đất, rộn tiếng ca mừng giải phóng....” những ca từ trong bài hát mới hào sảng, rạo rực và bay bổng làm sao; lời ca như thâm tình, ràng ruột, lại thấy Cam Lộ gần như gang tấc, như đối mặt, như sờ nắm được trong tay. Lòng không nguôi ao ước được đặt bàn chân mình lên vùng đất đó lên đó một lần . Cam Lộ đã có trong tôi từ thủa ấy. Sau này biết thêm về mảnh đất đó từng  hai lần là thủ phủ quốc gia: Một lần vua Hàm Nghi chọn làm căn cứ Tân Sở, xuống chiếu Cần vương, lãnh đạo sĩ phu yêu nước; một lần cũng vì sứ mệnh giải phóng dân tộc mà có Khu Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền nam Việt Nam. Rồi những di tích như Thành Tân Sở, Nhà Tằm, Miếu An Mỹ, Chùa An Thái, Đình Làng Cam Lộ,Chợ Phiên nỗi tiếng từng đóng vai trò đối ngoại, buôn bán với nhiều nước lân bang dưới thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên… rồi còn bao nhiêu cái nữa còn chìm sâu trong lòng đất. Đất đai Cam Lộ đã ban phát cho con người nơi đây nhiều hoa thơm trái ngọt, tiêu, chè, măng giang, mít nài....

Những đứa con ngược Bắc tìm cha

01/01/1970 lúc 08:00

Cách đây ba sáu năm (năm 1972) trên đường tiến quân vào giải phóng miền Nam, Tiểu đoàn 18 (thuộc Trung đoàn 275, Sư đoàn 367) đóng quân gần hai năm (năm 1972-1973) tại làng Hà Tây (xã Triệu An, Triệu Phong). Chính trong quảng thời gian đó, ông Nguyễn Quốc Phái (là chiến sĩ của Tiểu đoàn 18) làm quen rồi yêu bà Nguyễn Thị Luyến. Kết quả của mối tình đẹp ấy, bà Luyến mang thai và âm thầm chờ đợi tin tức người yêu cho đến ngày bà lâm trọng bệnh qua đời tại quê nhà. Ba ba năm sau (năm 2006), người con có tên là Nguyễn Thanh Tâm nhờ người ra Bắc tìm cha. Biết con mình còn sống ở miền quê ông từng đóng quân, ông Phái vội vã cùng vợ vào nhận mặt con mình. Ngày gặp lại, cha, con chỉ biết nhìn nhau trong ngẹn ngào nước mắt...
��ch' � ax ^� � , Quảng Trị, Đông Hà giải phóng. Một ngày đầu năm 1972, nhà thơ Tố Hữu đến trường. Lần ấy, ông không nói chuyện về thơ, mà nói về chiến tranh. Ông nói về sinh viên các trường đại học đã tình nguyện lên đường vào mặt trận phía Nam. Họ đi để cầm súng, chiến đấu giải phóng Miền Nam...

Dấu ấn một thời

17/04/2014 lúc 14:48






Đ





ã bốn mươi năm trôi qua, nhưng gặp lại nhau tại Hà Nội nhân ngày hội khoá, không chỉ riêng tôi mà cả lớp văn, cả khoá, và cả thế hệ sinh viên đại học tổng hợp Hà Nội, những người đã sơ tán ở Thái Nguyên trong thời kỳ chiến tranh phá hoại của Mỹ vẫn giữ mãi trong tâm tưởng của mình một dãy núi với ba ngọn núi bá vai nhau ở chân trời.
Những ngày còn ở Vạn Thọ, tôi rất thích mấy câu thơ trong trẻo và đáng yêu của Phạm Ngọc Toàn:
Đường vào Việt Bắc đèo mây
Lao xao cành hoa lan trắng
Trung du nhớ sao mùa nắng
Bừng trên nương sắn chiều hôm
Ở nơi sơ tán, tôi đã nhiều lần đi bộ lên thị trấn Đại Từ, qua Đầm Mây, Kỳ Phú, xóm Chuối để thăm đồng hương Quảng Trị học cùng trường. Ở Kỳ Phú có cái chợ quê của đồng bào địa phương bỗng trở nên đông vui, náo nhiệt khi có sinh viên lên sơ tán. Phong phú nhất vẫn là măng tươi, nấm, chè mạn và cua đồng. Ở cổng chợ có một cái quán bán hàng ăn. Hấp dẫn nhất đối với sinh viên vẫn là món mỳ sợi nấu với cua đồng. Vì nó hợp với túi tiền của các cô cử, cậu cử, lại nhiều và ngon vì chúng tôi đang tuổi ăn, tuổi lớn mà lại thiếu dinh dưỡng...

Nôn nao Quảng Trị

22/01/2014 lúc 08:56






T





ừ Hà Nội trở về sau cuộc liên hoan truyền hình toàn quốc, chúng tôi quyết định phải đi cho được một đọan đường Hồ Chí Minh, và coi đó là một dấu ấn cho chuyến đi xuyên Việt. Những người cùng đi đều có quê ở Tây Ninh, lớn tuổi thì tham gia kháng chiến ở ngay xứ quê mình. Nhỏ tuổi thì thậm chí không biết đến chiến tranh là gì. Họ có cái háo hức của họ, còn tôi, có cái háo hức của tôi. Chí ít thì tôi cũng có gần nửa của năm 1972 làm quen với Đường mòn Hồ Chí Minh, khi ấy, tôi mới là một anh nhà báo binh nhì, lấy chiến trường làm nơi thực tập cho chương trình đại học báo chí dở dang. Thực tình mà nói, cho đến hôm nay, tôi cũng chưa biết cái bằng đại học nó như thế nào. Đang học trường Tuyên giáo trung ương, khoa báo chí, thì mùa hè đỏ lửa Quảng Trị rền vang tiếng súng. Chiến dịch mùa xuân 1972, Quảng Trị, Đông Hà giải phóng. Một ngày đầu năm 1972, nhà thơ Tố Hữu đến trường. Lần ấy, ông không nói chuyện về thơ, mà nói về chiến tranh. Ông nói về sinh viên các trường đại học đã tình nguyện lên đường vào mặt trận phía Nam. Họ đi để cầm súng, chiến đấu giải phóng Miền Nam. Cuộc chiến đấu ấy phải được ghi lại bằng hình ảnh, bằng những trang viết. Ông bảo: các đồng chí vào chiến trường nhanh lên kẻo muộn. Chúng tôi hiểu: chiến trường đã kêu gọi những phóng viên trẻ tuổi như chúng tôi. Cả trăm lá đơn tình nguyện nhập ngũ. Và tôi, đứng hàng thứ “ bốn mươi chín” trong danh sách năm mươi ba sinh viên được tuyển chọn vào lớp phóng viên tiền phương năm đó. Chỉ có hai tháng, học đủ mọi thứ; bắn súng ngắn, bắn súng trường CKC, AK, lăn, lê, bò, toài và học…

Ông lão và cánh rừng bên đường Xuyên Á

22/01/2014 lúc 08:56






B





ây giờ đã là tháng bảy ta, tháng nắng nóng nhất trong năm ở Quảng Trị. Có lẽ không một nơi nào trên dải đất miền Trung này nắng nóng lại hoành hành dữ dội như ở đây. Suốt ngày, từ sáng sớm đến chiều tối, bầu trời lúc nào cũng cao xanh vòi vọi, chói chang ánh mặt trời. Và gió Lào thì ràn rạt, ràn rạt như những trận cuồng phong. Nắng nóng vắt cạn những con suối, con khe, lấy đi những giọt nước hiếm hoi cuối cùng. Nắng nóng thiêu cháy những cây non mới trồng, gây nguy cơ hoả hoạn cho lớp lớp những cánh rừng đang lên. Con đường Chín anh hùng xưa, nay là đường xuyên Á rộng rãi, phẳng lì, trườn mình qua những quả đồi bỗng như trở nên xa ngái, vắng vẻ hơn.
Tôi đang ở Cam Lộ, một huyện chủ yếu là vùng trung du đồi núi của tỉnh Quảng Trị. Trong cái nắng nóng khủng khiếp nơi miền sơn cước này tôi chợt nhận ra ở đây đang có một thứ có thể làm giảm đi phần nào không khí oi bức, ngột ngạt. Đó là trùng trùng, điệp điệp màu xanh của cây. Cây ở Cam Lộ vừa là rừng tự nhiên, vừa là rừng trồng, trong đó rừng trồng chiếm một tỷ lệ đáng kể. Chỉ riêng ở đây, dọc hai bên đường xuyên Á, trải dài hàng chục cây số, từ thị trấn Cam Lộ lên đến giáp huyện miền núi Đakrông, nơi nào cũng bạt ngàn màu xanh. Màu xanh của cây lâm nghiệp, của cao su, hồ tiêu và cây ăn quả… như hoà quyện dệt nên tấm thảm nhung khổng lồ trang điểm cho đất đai, núi đồi Tổ quốc...

« 5051525354 »

Dự thảo
tư tưởng Hồ Chí Minh
Du Lịch Quảng Trị

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

24/01

25° - 27°

Mưa

25/01

24° - 26°

Mưa

26/01

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground