Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 23/01/2021 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Bút ký

Xoay trở cuối năm

12/01/2021 lúc 10:01

Những niềm đau khuất lấp

22/01/2014 lúc 08:52






Q





uảng Trị thời chiến đớn đau chịu đựng những tàn phá, huỷ diệt nặng nề bao nhiêu thì thời bình phải gánh vác những vấn đề “hậu chiến” cũng bề bộn và nặng nề bấy nhiêu. Từ việc kiến thiết lại làng quê, đô thị hoang tàn đến việc băng bó những vết thương chiến tranh. Tôi muốn nói đến những vết thương tưởng rằng ngủ vùi, “tưởng rằng đã quên”, không ồn ào, ầm ĩ như HIV, như AIDS, nhưng đeo đẳng dai dẳng và nguy nan không kém, đó là những vết thương màu da cam.
Tìm và thấy nhưng mà chưa thấy hết
Trước kỳ hội thảo quốc tế lần thứ II về chất diệt cỏ trong chiến tranh diễn ra tại Hà Nội từ ngày 15 đến 18-11-1993 với sự tham gia của 9 nước: Ấn Độ, Hàn Quốc, Nga, Mỹ, Úc, Đức, Anh, Nhật Bản và Việt Nam. Uỷ ban quốc gia điều tra hậu quả chất độc hoá học dùng trong chiến tranh Việt Nam (gọi tắt là Uỷ ban 10-80) đã cử một đoàn vào Quảng Trị làm việc. Đoàn dành cho Quảng Trị được lấy và gửi đi một số mẫu máu bằng 100 ml để xét nghiệm, phân tích. Sở Y tế tỉnh đã trực tiếp chọn địa bàn Hướng Hoá làm “trọng điểm” lấy máu vào tháng 9-1992 và đã lấy máu ở 50 người, mỗi người lấy 2 ml. Theo kết quả công bố sau đó của Uỷ ban 10-80 cho biết, hàm lượng chất đi-ô-xin (chất diệt cỏ, chất khai quang) trong máu của những người được xét nghiệm ở Quảng Trị là 9,5, trong khi đó, con số tương tự ở Huế là 11, ở Đà Nẵng là 18 v.v...

Ráng đỏ trên trời chiều Quảng Trị

17/04/2014 lúc 14:51






T





ôi thường nói với người thân, với bạn bè rằng: Từ lâu rồi, tôi có một ước nguyện là được một lần đến Quảng Trị, về Thành Cổ và nghĩa trang Liệt sĩ Trường Sơn để kính viếng những linh hồn bất tử của các anh hùng, liệt sĩ đã xả thân vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Nói thì dài dòng thế còn tôi chỉ nghĩ là phải đến ít nhất là hai nơi ấy. Đến để làm gì thì tôi có rất nhiều cớ buộc tôi phải đến, toàn những cớ không thể nói ra thành lời. Mỗi khi gặp tất cả những gì nhắc tôi nhớ lại cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược tôi lại nhớ đến hai địa danh ấy ở tỉnh Quảng Trị. Trước mắt tôi luôn hiện ra hình ảnh những chàng trai, cô gái tuổi mười bảy, mười tám, đôi mươi trên những tuyến đường, trên những chiến trường bời bời bom đạn. Nhất là nghe về cuộc chiến đấu của quân ta trong 81 ngày đêm bảo vệ từng tấc đất Cổ Thành Quảng Trị. Tôi lấy làm tự hào vì được là những người cùng thời với các anh, các chị. Khi ấy tôi mới là cô bé mười bảy tuổi. Cô bé thôi, vì vóc người tôi nhỏ bé, đét đe như cậu con trai mười hai, mười ba tuổi thời bấy giờ nhưng tôi cũng có những tháng ngày phục vụ cho tiền tuyến lớn. Tôi cứ nghĩ, sự hy sinh, mất mát về cuộc sống của con người vì nghĩa cả dù anh hùng mấy cũng vẫn để lại nỗi đau, nỗi xót xa như muối xát lên vết cắt trên da thịt của người còn sống. Và vì thế người còn sống phải tự biết sống như thế nào để thực hiện tiếp những điều những người đã hy sinh chưa kịp làm, để không cảm thấy hổ thẹn...

Mảnh đất Cam Lộ và những trang viết của tôi

22/01/2014 lúc 08:42






N





hà Phật nói: mọi sự trên đời đều ở một chữ "duyên". Bây giờ nhìn lại đôi khi chính tôi cũng không ngờ mảnh đất nhỏ nhoi bên bờ sông Hiếu ấy lại khắc đậm dấu ấn trong sự nghiệp sáng tác của mình đến vậy.
Những bạn đọc quan tâm đến sáng tác của tôi, nhìn vào các tác phẩm chủ yếu (hai tiểu thuyết quan trọng nhất là Cửa gió - Bến đò xưa lặng lẽ và một loạt các kịch bản sân khấu, điện ảnh) thường có hai luồng nhận định. Một là, cái nhà ông này giỏi bịa, ông ta chỉ là lính cậu (tức là lính văn nghệ đâu có biết gì đánh đấm), hai là ngược lại, cho rằng tôi là anh lính chiến hàng chục năm cầm súng đánh giặc trên đất Cam Lộ, nếu không thì làm sao có thể có được vốn sống sâu sắc về đất ấy đến như vậy? Đặc biệt là  những tên làng, tên đất như Ba Thung, Quật Xá, An Hưng, Tân Định, Phước Tuyền... những bến lội sông Hiếu, xóm nhỏ Quai Mọ v..v..chắc chắn tôi phải ăn dầm nằm dề bao nhiêu năm mới có thể có ấn tượng sâu sắc đến như thế. Thực ra, đất Cam lộ chỉ gắn bó với tôi vẻn vẹn chừng bốn tháng, một quãng thời gian quá ngắn ngủi so với hơn bèn m­¬i năm công tác, cũng như hai bèn năm chÝn tháng khoác áo lính lăn lộn trên nhiều miền đất khác nhau mà cũng vô vàn khốc liệt như ở tuyến lửa Vĩnh Linh- Quân khu bốn.. Có phải đó chính là cái duyên như Phật nói?...

Những năm tháng những đời người

17/04/2014 lúc 14:51






M





ột lần ngồi vào chiếu để nghe canh quan họ là y như rằng lại thêm một lần được dẫn dắt vào mê cung của những tình cảm vừa lịch lãm vừa đằm thắm. Những khúc thức nhặt khoan vững chãi, những giai điệu vương giả bay lượn. Kìa những lời thở than mới bùi ngùi làm sao, chất phác làm sao. Đời sống một vùng đất vùng người mặn mà hiện ra với bao lớp lang tầng vỉa, ta chìm vào đấy để bắt gặp khuôn mặt tinh thần quê nhà.
Chàng buông dải áo em ra, Để em đi chợi kẻo mà chợ trưa, Chợ trưa rau sẽ héo đi, Lấy chi nuôi mẹ lấy gì nuôi em…Mình về em dặn câu này, Đâu hơn mình kết đâu bằng mình đợi chúng em.
Đã hẹn thế thì khó có đâu còn hơn nổi, ý tứ khôn ngoan không đâu hơn nổi, mà cũng chẳng đâu hơn nổi cái sức giăng mắc mỏng manh như tơ nhện mà thực lắm ràng buộc.
Dưới bóng giàn nhót của mảnh sân nhà đã bao lần tôi trãi chiếu mời trầu mời rượu, đã bao lần chủ khách ngồi đối ẩm đối tửu hân hoan quên cả sớm khuya. Áo sống mớ năm mớ bảy những mận những đào, cái cổ nghển lên để nhả lời, thon thả và kiêu kỳ như cọng lan cọng huệ, con mắt lấp lánh lửa, gương mặt ngời ngợi nồng nàn. Em là cây gừng cây cải, là giậu mồng tơi mọc hoang ngoài ngõ, mà lại đang là bà hoàng bà chúa trong lòng tôi. Mỗi lần nghe em hát lại thấy phải cảm ơn năm tháng, cảm ơn đất đai và tổ tiên, trong câu dân ca em hát có mang cái tình của muôn đời...

Nơi ngọn nguồn Bến Hải

01/01/1970 lúc 08:00

none

Gio An thăm thẳm

10/02/2014 lúc 09:16

 Cây đa ân nghĩa





T





ôi cùng Lê Bá Dương và các bạn hữu hẹn nhau lên Gio An. Ánh ngày sắp tắt rồi, những đường chân bước quen bỗng lạ lẫm, thân gần khi các vòm cây cao sụ cứ chực nhao ra, như muốn chạm tầng tầng xanh rì nà nuột, ôm lấy con đường nhựa thênh thênh trong chiều. Mảnh đất từng vang ngân tiếng trống trận năm xưa giờ yên hòa vời vợi màu xanh cây trái và nhuần nhị, thẳm sâu tình người.
Lê Bá Dương đã quá nổi tiếng với người Gio An. Đến một lão nông tráng kiện tình cờ tôi bắt gặp và trò chuyện cũng am tường nói cho tôi rõ rằng, Lê Bá Dương bây giờ có thể gọi kèm tên với rất nhiều chức danh, nhưng có lẽ lĩnh vuecj mà anh đạt đến  đẳng cấp cao vẫn là nhiếp ảnh, viết báo và… đánh giặc!
Gio An là nơi tân binh Lê Bá Dương, người lính tiểu đoàn 2, Trung đoàn 27 (Trung đoàn Xô viết Nghệ An, trung đoàn Nghệ An Đỏ lừng danh và sau này là Trung đoàn Triệu Hải anh hùng) đã cùng đồng đội nổ phát súng đầu tiên trên chiến trường khi đặt chân vào miền Nam...

Nơi trú ẩn cuối cùng còng gió Cửa Tùng

17/04/2014 lúc 14:51






L





ục xem mấy bức ảnh tư liệu cũ về Cửa Tùng - Nữ hoàng các bãi tắm, thấy lòng nhói tiếc: Ảnh của Nghệ sỹ nhiếp ảnh Sỹ Sô chụp Cửa Tùng cát trắng ơ hờ, mấy chiếc thuyền nan thong thả nằm im nghỉ, hàng thùy dương xanh ngợi, biển xanh ngăn ngắt. Ảnh của Tuấn Huy chụp cầu vồng bảy sắc mọc trên sóng biển Cửa Tùng kỳ ảo. Lục xem tranh sơn dầu của họa sĩ Lê Văn Nhường vẽ Cửa Tùng: "Chờ đợi", "Cá về", "Ký ức Cửa Tùng" - thấy nôn nao hoài niệm về một quãng thời gian quan trọng của mình đã hút xa tầm mắt. Lục xem tùy bút của nhà văn Nguyễn Tuân tả biển Cửa Tùng, từ bãi cát trắng phau, đến rặng thùy dương xanh, một ngày nước biển Cửa Tùng đổi màu đến mấy lần, rồi Cửa Tùng xưa kia là khu nghỉ dưỡng của bọn thực dân, phong kiến, rồi nỗi đau chia cắt hai bờ sông tuyến - thấy lòng mình đau đáu. Lục xem sách giáo khoa Lớp 4 của Bộ Giáo dục và đào tạo: Cửa Tùng là chiếc lược ngà chải vào mái tóc xanh của biển cả - thấy lòng bâng quơ tiếc nuối tuổi hoa niên...

"Các anh ơi xin đón các anh về"

22/01/2014 lúc 08:21

LTS: Suốt 24 năm qua, cán bộ, chiến sĩ Đội quy tập hài cốt liệt sĩ 584 - BCHQS Quảng Trị lầm lụi, bươn bả trong những cánh rừng Lào đi tìm đồng đội. Không thể kể hết những gian truân, vất vả, hi sinh… Và cũng không thể kể hết niềm vui sướng mỗi khi tìm được dù chỉ một đồng đội, đang nằm ở một góc rừng quạnh vắng… “Các anh ơi, chúng tôi xin đón các anh về Đất Mẹ!” - đó là lời khấn nguyện của người lính quy tập hài cốt liệt sĩ 584, trong mỗi chuyến hành quân bền bỉ, dài lâu tìm đồng đội… Trong 24 năm qua, 3430 hài cốt liệt sĩ (trong đó, 111 hài cốt có tên, quê quán, đơn vị) đã được bàn tay chiến sĩ 584 nâng niu, vượt suối băng ngàn đưa về Tổ quốc yên lành. Nhưng họ, những người đi tìm đồng đội, có người đã hi sinh, đã nằm xuống trên đất nước Triệu Voi.  
Hoa chăm pa trong chùa Đen-sa-vẳn





T





háng Năm, hoa chăm pa nở, hương hoa thơm nồng trong khuôn viên chùa Đen - sa - vẳn, huyện Sê - pôn. Sư thầy trụ trì Khăm Đi, từ mấy hôm nay tất bật công việc chuẩn bị cho buổi lễ trang trọng này… Đêm khuya, sư thầy thức dậy thắp hương lên bàn thờ Phật, bàn thờ các liệt sỹ quân tình nguyện Việt Nam, rồi gõ mõ, tụng kinh cầu cho linh hồn các liệt sỹ được siêu thoát, được trở về đoàn tụ với gia đình, đồng đội. Sư thầy Khăm Đi lặng lẽ ngắm 55 bộ hài cốt liệt sĩ nằm kề bên nhau, đội ngũ chỉnh tề trong nhà lễ. Các anh đã mấy chục năm, ra đi từ lúc còn thanh xuân, bây giờ trở về, chỉ còn… Một giọt nước mắt trên mi khẽ lăn dài…

Những ngày bên anh Hoàng Phủ

03/12/2013 lúc 09:01






N





hà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường là người anh khả kính của anh em văn nghệ Quảng Trị. Từ những ngày làm tạp chí Cửa Việt, anh đã vun trồng cho vườn cây văn nghệ quê nhà tốt cành xanh lá.Nhiều nhà văn nhà báo đã trưởng thành từ quê hương ra đi và họ đã làm nên chuyện ở nhiều vùng đất khác ít nhiều cũng có âm hưởng về phong cách, lối tư duy khúc triết của anh. Tình cảm của anh dành cho quê hương nặng sâu trong trái tim nồng nàn của một con người đầy nhân hậu.
Cứ đọc bút ký của anh , chúng ta sẽ thấy ngồn ngộn hình ảnh, sắc màu quê hương thấm đẫm trong từng trang viết. Anh dùng cây bút xiên ngang vào tim giặc vì tội ác gây ra cho mảnh đất quê nghèo khó mà hết mực ân tình. Anh ngợi ca lòng quả cảm của những chàng trai cô gái chân chất , bình dị can trường trong lửa đạn. Anh nhớ hương sả, hương chanh trong nồi xông của mẹ Gio linh khi anh cảm gió. Anh nhớ trái dưa hồng mọng nước nằm trên trảng cát trong những ngày hè bỏng nắng. Anh nhớ và anh nhớ nhiều lắm ! Mỗi bước đi lên của anh em văn nghệ đồng hương anh đều rõi mắt trông theo và khấp khởi vui mừng...

Bay theo những cánh diều

12/12/2013 lúc 21:04

Quê hương là con diều biếc
Tuổi thơ con thả trên đồng
(thơ Đỗ Trung Quân)





N





ắng đã ươm lên một màu đỏ chói, nghe văng vắng đâu đây tiếng động khẽ của mùa hè bật lên dưới những đóa hoa tulip xứ tuyết.  Ở làng chắc đang vào vụ gặt, gió tháng ba phây phẩy thổi một chút xao xuyến đồng đất quê nhà. Bỗng nhiên, nhớ! Một cánh diều chéo xém qua khoảng trời tuổi thơ tôi.
Ai dăng mắc ngọn gió trời cho chiều trĩu xuống một thảm màu xanh? Ở đó, cánh diều tuổi thơ tôi mười mấy năm cứ phấp phới bay theo từng ngọn khói đồng. Ông nội tôi nhóm lửa đột thứ rơm rạ sau mùa gặt, khói bay lên giỡn đùa với cánh diều trên kia. Chú bé tôi ngày ấy thích thả mình với đồng cỏ quê nhà, nằm vất vưỡng trên cánh đồng làng cũng lũ trẻ chăn bò.
Con nít ở làng có lắm trò để chơi. Người nhà quê thì mùa nào thức nấy, “đáy đĩa đi nhịp hải hà”. Trẻ con cũng vậy, mỗi trò chơi vào một dịp riêng. Diều thường chơi vào mùa hè. Độ này nắng ráo, gió thổi mạnh, đồng đã gặt xong, trẻ con không phải đến trường nên tha hồ mà chạy nhảy.
Miền Trung từ tháng ba tháng tư là đã có gió thổi mạnh, sang tháng năm thì gió thổi thành luồng. Cái gió quê tôi cứ quấn lấy nắng mà hành hạ cong người ta, thế nhưng lũ con nít thì không ngại, ban trưa đứng bóng vẫn có thể cởi trần trùng trục mà chạy đi dong diều. Khi ấy, mẹ tôi đứng ở trước cây vú sữa nhà dên lúa, sảy từng thúng theo gió, đưa mắt nhìn lũ trẻ chúng tôi âu yếm. Không ai dám trách cái gió ở đây mà ngược lại, còn phải cảm ơn ông trời ấy chứ! Gió thay cánh quạt phe phẩy che cha tôi ra đồng gặt lúa. Vào độ chiều, đang nắng cháy da đầu mà có cơn gió thoảng qua thì mát lịm cả người, mát đến độ có người thốt lên “gió thế này thèm gặt quá bà con ơi!”. Và tôi nghe được những tiếng cười giòn tan trong nắng, vỡ ra trên cả khoảnh ruộng mới gặt...

Miền biên viễn chan hòa ánh sáng

17/04/2014 lúc 14:57






G





iữa đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ, có những sư đoàn chủ lực chốt giữ trên những địa bạn trọng yếu để làm nhiệm vụ… xây dựng kinh tế! Thực ra là nhiệm vụ kinh tế kết hợp quốc phòng – an ninh. Đoàn 37 ở huyện biên giới Hướng Hóa – Quảng Trị là một đơn vị như thế. Ký sự này khắc họa đôi nét khía cạnh khác của hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” – người lính thời bình làm kinh tế, xây dựng cơ sở chính trị ở vùng sâu, vùng xa, xây dựng biên giới hòa bình và phát triển trong thời đại hội nhập. Và những câu chuyện đời thường về con người, mảnh đất Trường Sơn huyền thoại…
I. Khi con đường Hồ Chí Minh CNH, HĐH mới đang được triển khai, mùa mưa, việc cơ động từ thị trấn Khe Sanh – Hướng Hóa vào đến trung tâm xã Hướng Phùng làm một điều như không tưởng… Chưa nói đến việc phải vượt qua đỉnh Mù Sương, bản Chênh Vênh để vào tận nơi các đội công tác của Đoàn B37 đang bám trụ để làm nhiệm vụ, thì càng khó khăn gian nan gấp nhiều lần. Hôm đó, chúng tôi được Phòng Chính trị Đoàn B37 ưu tiên bố trí một chiếc xe u oát chở nhóm làm phim với lềnh kềnh máy móc tiến vào Tà Rùng. Chúng tôi ngạc nhiên khi thấy các cán bộ đi cùng lúi húi chuẩn bị giày dép, ủng, ba lô, áo mưa cho cả nhóm. Thắc mắc, đã ngồi ô tô rồi còn chuẩn bị áo mưa để làm gì? Các anh mỉm cười: Đề phòng xe nằm lại giữa đường thì cắt rường cuốc bộ mà điQuả thật sau này đún như vậy. Chiếc xe đã chiến gài hai cầu, ì ạch bò tiến lên từng mét, một ngày hành quân không vượt được quãng đường ba mươi km. Bánh xe quay tròn quá nhiều trong bùn đất, 6 cái bu loong bị lỏng ra, đến lúc văng cả bánh sau ra ngoài mà không ai biết. Thấy bỗng dưng có cái bánh ô tô phóng rần rật xuống dốc, anh em ngồi phía sau hét lên, đồng chi lái xe cứ tưởng chuyện đùa, nhân ga phóng tiếp…

Từ cột mốc số 0 con đường lịch sử

19/01/2014 lúc 23:18






C





ột mốc số 0 đường Hồ Chí Minh lịch sử được xây dựng như một tượng đài sõng sững. Một nét đẹp khoẻ khoắn, oai hùng của lịch sử đất nước gợi lên trong tôi bao niềm cảm xúc. Tân Kỳ nghĩa là mới và lạ. Đó là tính ngữ chỉ những sự vật xuất hiện làm mọi người ngạc nhiên, thích thú. Tân Kỳ trong bài viết này là tên của một huyện vùng núi tỉnh Nghệ An, miền đất của những sự khởi đầu trong lịch sử,cũng là miền đất khởi đầu cuộc sống của tôi... Tân Kỳ là  huyện mới được tách ra từ  huyện Nghĩa Đàn ngày 19-4-1963. Đến  năm 2007 này, huyện Tân Kỳ trßn 44 tuổi! Đó là vùng đất trẻ. Vâng, quê hương Tân Kỳ, tuy còn nghèo nhưng như tên gọi của nó, cũng có rất nhiều sự mới mẻ, lạ lùng, nó chứa đựng biết bao trầm tích của lịch sử. Do duyên phận và nghề nghiệp tôi trở thành đứa con của đất Tân Kỳ, được đến Tân Kỳ rất nhiều lần. Bao nhiêu cái tên rất khó gọi như Cừa, Lạt, Truông Dong, Lèn Rõi, Vực Lồ.v.v.. bỗng trở  nên thân thuộc với đời tôi. 
Sông Con chảy qua đất Tân Kỳ là một con sông rất lạ. Ở đất  Nghĩa Đàn sông mang tên Hiếu, xuống đến Tân Kỳ thành sông Con. Đi hết huyện Tân Kỳ, sông Con bỗng chảy ngược lên vùng núi Anh Sơn thăm thẳm. Đoạn sông ngược này dài trên 60 cây số, mới chịu đổ vào Sông Lam ở Ngã ba Cây Chanh để xu«i về Bến Thuỷ. Hai bờ con “sông ngược” này có rất nhiều sự tích thú vị. Có lần, tôi được nghe một người già kể về Lèn Rõi. Đó là dãy núi chạy dọc sông Con từ  đầu huyện đến cuối huyện Tân Kỳ...

Nơi con sông Hồng chảy về đất Việt

17/04/2014 lúc 15:02






C





ơn mưa trắng trời tháng chín không làm chậm bước chân tất bật, nhọc nhằn của những cư dân miền biên ải cho một ngày mưu sinh nơi vùng đất được mệnh danh là chốn phiên dậu của đất nước. Chỉ có tôi là nhàn tản thả rơi từng bước chân trên cầu Cốc Lếu trong mưa mà ước ao được ngắm một trời hóa gạo tháng ba rực đỏ đôi bờ con sông Hồng. Để mường tượng mình là chàng trai (hai cô gái) dân tộc Giáy thuở đất này còn hồng hoang có thể trong một lần lạc bước giữa rừng gạo bừng nở sắc hoa đã cảm khái reo lên bằng thổ ngữ Giáy “Coóc réo” có nghĩa là cây gạo. Miền đất “Coóc réo” được đọc trại thành Cốc Lếu rồi bây giờ thành địa danh để đặt tên cho chiếc cầu Cốc Lếu qua sông Hồng bốn mùa ngầu đỏ phù sa mà nối nhịp mọi miền đất nước, thông thương qua cửa khẩu Lào Cai sang thị trấn Hà Khẩu (tỉnh Vân Nam) rồi tỏa đi khắp nước Trung Quốc rộng lớn để mang ngoại tệ về làm giàu cho đất nước. Nguồn ngoại tệ ấy cũng góp phần xây dựng Lào Cai vốn xưa kia có tên là phố Lão Nhai (người Pháp khi đặt chân đến đây đã đọc thành Lao Kay bây giờ là Lào Cai) buồn vắng trong chiều mờ sương lạnh chỉ có loạng choạng móng va của một vài chú ngựa thồ lam lũ từ các châu, huyện xã xôi mang thổ sản xuống núi thành thành phố Lào Cai ngày nay phồn thịnh soi mình kiêu hãnh bên bờ “con sông Hồng chảy và đất Việt"...
 

Tản mạn về một chuyến đi

19/01/2014 lúc 23:05






T





ôi được Tổ chức cho đi tham quan đất nước Trung Hoa cùng một số cán bộ quân đội về hưu. Đây là một sự chiếu cố đặc biệt, ngoài sự mong ước của tôi. Từ ngày rời khỏi quân đội, tôi yên tâm với hai chữ “về vườn”, và tôi về vườn thật với một mảnh đất mà tôi khai phá ở một gốc rừng chồi, một căn cứ cũ trong thời chống Mỹ. Tôi có nghĩ gì đâu đến chuyện tham quan!
Nghe thông báo về chuyến đi, tôi cũng thấy vui về sự quan tâm của Tổ chức, nhưng tôi không thấy háo hức lắm, vì sức khoẻ tôi không bảo đảm cho một chuyến đi xa. Hơn nữa, tôi cũng đã mấy lần qua lại Bắc-Kinh và đã biết một số thành phố lớn trên các nước bạn. Tôi nghĩ: Cũng thế thôi! Đất nước mình cũng có nhiều cảnh đẹp lại mang nhiều truyền thống đấu tranh. Nếu đến được nhiều nơi để hiểu thêm đất nước mình còn hơn là “phóng ngựa xem hoa” trên một đất nước mênh mông như Trung Quốc! Tôi hơi chần chừ. Nhưng có những ý nghĩ làm tôi quyết định “tái xuất giang hồ” khi nhìn thấy sự phấn khởi của vợ tôi…
Không biết duyên nợ gì mà năm xưa “xã” tôi lại “ưng” tôi để chịu khổ làm cái thân “chinh phụ” mấy chục năm trời để chờ một vị “chinh phu” biền biệt không biết ở phương trời nào, với nỗi lòng của người thiểu phụ trong bài “Dạ cổ hoài lang” của Bác Sáu Cao Văn Lầu! Vợ tôi chưa một lần được hưởng niềm vui một cuộc “tham quan”, có chăng là những lần vào tận rừng sâu để thăm cha con tôi! Và mỗi chuyến đi là một lần thử thách! Bà thường ước ao được một lần ra Bắc vào lăng viếng Bác Hồ và thăm các di tích lịch sử tại thủ đô…

Những năm tháng hòa bình sau chống Pháp

19/01/2014 lúc 23:04






C





hưa đầy ba tháng sau ngày hoà bình đầu tiên tôi lên chợ Đông Hà như thường lệ và thấy một tốp cảnh sát. Tất cả đều đội mũ lưỡi trai, áo quần ka ki sáng bóng, dày đen, đeo súng ngắn sệ hông, bao da ngắn, mũi súng thò ra ngoài. Một viên cảnh sát hình như là chỉ huy, tập trung những người đi chợ trong đó có một thằng trẻ con là tôi. Ông ta nói:
- Chúng tôi đại diện cho chính quyền cụ Ngô tiếp quản thị xã này. Từ nay đồng bào phải thực thi mệnh lệnh của chúng tôi.
Tôi tò mò hỏi lại:
- Cụ Ngô và các ông có phải là người Bác Hồ cử ra không?
Viên cảnh sát phì cười:
- Không phải. Cụ Ngô và cụ Hồ bằng nhau. Mỗi người lãnh đạo một nửa nước.
Một người đàn ông đứng sau kéo tôi lui. Người anh gầy (tạng người thường gặp thời đó) mặc một bộ bà bà đen, chân đất. Anh đứng lên đối mặt với viên cảnh sát, nói rất đanh thép...

Thông điệp này đến được bạn tôi không?

19/01/2014 lúc 23:01

Lời B.B.T: Nhà văn Cao Hạnh - Phó Chủ tịch Hội VHNT Quảng Trị kiêm Tổng Biên tập Tạp chí Cửa Việt, là một cây bút trưởng thành từ cơ sở. Để có được cương vị như hiện nay, ông đã từng làm đủ nghề như: Cày ruộng, buôn rắn, bán ếch, phát hành sách báo, viết kịch, đạo diễn..vv.. Nhưng kỷ niệm lớn nhất trong đời văn, đời làm quản lý của ông là những năm ông làm Giám đốc Trung tâm Văn hóa Vĩnh Linh. Đó là những tháng năm thăng trầm, nghiệt ngã, là sự cạnh tranh kịch liệt giữa đơn vị ông và Công ty Chiếu bóng Bến Hải. Giờ đây, sự được mất ông không lấy làm cay cú, ăn thua. Mà tất cả đều trở thành nỗi đau giằng xé trong cõi lòng nhà văn. “Thông điệp này đến được bạn tôi không?” là một hồi ký thấm đẫm chất nhân văn.
BBT xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc tác phẩm của ông.





N





ăm 1986 - 1993 tôi làm Giám đốc Nhà VHTT huyện Vĩnh Linh. Đó là những năm đầu tiên Nhà nước xóa bỏ cơ chế bao cấp, chuyển sang nền kinh tế thị trường phát triển theo định hướng XHCN. Các ngành các cấp gặp rất nhiều khó khăn. Riêng ngành văn hóa do tính chất lao động đặc thù phải gặp những trở ngại, thách thức lớn hơn. Nhà văn hóa trung tâm chúng tôi có 11 biên chế. Nhà nước chỉ trả lương cho CBCNV, còn mọi khoản kinh phí khác, đặc biệt là kinh phí hoạt động sự nghiệp thì đơn vị tự cân đối lấy thu bù chi.
Với hai nhiệm vụ: Vừa phải hoạt động sự nghiệp, vừa phải tổ chức kinh doanh tạo ra nguồn kinh phí. Hai nhiệm vụ này có một mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại với nhau, làm cơ sở cho nhau phát triển. Buông lỏng một trong hai nhiệm vụ là Nhà văn hóa triệt tiêu.
Công tác nghiệp vụ thì chúng tôi quá thành thạo, vì phần lớn anh em đều có bằng cấp và rèn luyện qua thực tế. Nhưng với việc kinh doanh thì chúng tôi thật lạ lẫm...

Thương nhớ Hoàng Sa

17/04/2014 lúc 15:02












 đảo Lý Sơn - huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi, nhiều người già vẫn còn lưu giữ những ký ức, những câu chuyện lưu truyền về một hải đội Hoàng Sa kiêu hùng thuở xưa. Đình làng Lý Vĩnh, cổng làng An Vĩnh rêu phong cổ kính còn cất giữ kỷ niệm những buổi lễ tiễn đưa đoàn thủy binh lên đường ra Hoàng Sa làm nhiệm vụ, cũng chính là những đứa con trai của làng. Đa số họ đã không trở về. Người già kể, xưa, làng đã lập lăng thờ những người đã khuất, những người đã hiến dâng cuộc sống thanh xuân của mình cho chủ quyền của Tổ quốc, nhưng mấy chục năm chiến tranh loạn lạc, thế cuộc đổi thay, lăng thờ đã trở thành phế tích. Nhưng nhân dân vẫn không bao giờ quên trong ký ức, đến tiết xuân hàng năm vẫn tổ chức cúng lễ nghiêm trang, nhằm nhắc nhở cháu con không được quên công đức của tiền nhân, không được quên Hoàng Sa là một phần máu xương của Tổ quốc. Có câu đối được khắc ghi trong tâm khảm các bậc túc nho của làng: "Ân đức dựng xây miền đảo Lý. Nghĩa tình bồi đắp dải Hoàng Sa".
Lần giở lại sử cũ, Phủ biên tạp lục của Lê Quí Đôn viết rằng: "Nhà Nguyễn thiết lập đội Hoàng Sa gồm 70 suất, lấy người ở An Vĩnh bổ sung. Mỗi năm họ luân phiên nhau đi biển, lấy tháng giêng ra đi nhận lãnh chỉ thị làm sai dịch. Đội Hoàng Sa này được cấp mỗi người sáu tháng lương thực. Họ chèo năm chiếc thuyền câu nhỏ ra ngoài biển cả ba ngày ba đêm mới đến đảo Hoàng Sa...

Cồn cỏ, ngày mới

19/01/2014 lúc 22:49






C





ồn Cỏ xa mà gần
“Con đường nào mà thay đổi liên tục và lần nào đi cũng mới?”. Câu hỏi thú vị mà Bí thư kiêm Chủ tịch huyện đảo Cồn Cỏ, anh Lê Quang Lanh đưa ra, khi con tàu gỗ của ngư dân Cửa Việt đưa đoàn chúng tôi ra thăm huyện đảo đang chồm trên sóng trắng của ngày biển “rêm” trước những cơn gió chuyển mùa. Cả thuyền sôi động hẳn lên. Anh Thế, Phó Bí thư Tỉnh đoàn Quảng Trị bảo: Đó là muôn mặt con đường miền núi những ngày mưa trắng trời, trắng đất Quảng Trị ở Hướng Hoá, Vĩnh Ô, Vĩnh Hà... Nhà báo Hữu Thành khéo tưởng tượng bay bổng khi nghĩ đó là con đường trời của mây trôi và những túi khí dằn xóc đổi thay qua mỗi chuyến bay. Vẫn cái cười rất trẻ của một bí thư đoàn ngày nào, anh Lanh chỉ vào những con sóng bạc đầu đang vỡ tung trước mũi tàu cười: “Đó! Chính là con đường đó đó!”. Tất cả cùng “À!” lên. Phải, chính con đường mà hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng đưa người, đưa lương thực, thực phẩm, đưa vật liệu xây dựng, đưa dầu, đưa cả những lá thư đất liền ra đảo là con đường độc nhất vô nhị trên thế giới này thay đổi từng giờ, từng phút, nhưng lại nối gần hơn lòng người của đất liền và đảo nhỏ Cồn Cỏ. Đảo Cồn Cỏ, theo dư địa chí Quảng Trị còn có tên là Hòn Cỏ, Thảo Phù, Hòn Con Hổ. Có diện tích tự nhiên hai trăm hai mươi bảy ha...

« 5253545556 »

Dự thảo
tư tưởng Hồ Chí Minh
Du Lịch Quảng Trị

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

24/01

25° - 27°

Mưa

25/01

24° - 26°

Mưa

26/01

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground