Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 23/01/2021 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Bút ký

Xoay trở cuối năm

12/01/2021 lúc 10:01

Tâm sự của một người làm báo

01/01/1970 lúc 08:00

Làm báo cho tôi cái nhìn đầy đủ và toàn diện hơn về cuộc sống. Nhờ nghề báo, tôi đã mang niềm vui đến cho nhiều số phận. Đó chính là hai trong nhiều thứ mà tôi có được nhờ nghề báo.
Vâng! Tôi vốn là một sinh viên đại học sư phạm. Ra trường với tấm bằng Cử nhân khoa Ngữ văn, tôi cùng với một số bạn học đồng niên may mắn có thêm cái chứng chỉ về nghề báo mà Trường Đại học sư phạm Huế đã nhanh nhạy và tháo vát lắm mới đầu tư được cho chúng tôi - những sinh viên ra trường vào thời buổi tìm việc cực kỳ khó khăn lúc bấy giờ.
...
 

Người em nuôi của Đại tướng Võ Nguyên Giáp

01/01/1970 lúc 08:00

Tháng 12 - 1959 tôi lên Ngân Sơn một huyện vùng cao tỉnh Bắc Cạn. Đến nay 2009 - vừa đúng năm mươi năm. Trước năm 1945 Bắc Cạn nằm trong chiến khu  Việt Bắc gồm các tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên gọi tắt là Cao, Bắc, Lạng, Hà, Tuyên, Thái, và Ngân Sơn là một huyện trong tỉnh Bắc Cạn dĩ nhiên cũng là một cái nôi của cách mạng. Về sau chiến khu thành khu tự trị Việt Bắc. Nơi tôi đến đầu tiên là gia đình ông Gia Việt Tiến có hai người con là Gia Việt Toản và Gia Việt Tấn, cả nhà đều tham gia cách mạng. Người con thứ hai Gia Việt Tấn về sau làm Trưởng ty Văn Hóa Bắc Cạn. Ông già Gia Việt Tiến biết tôi đi tìm hiểu con đường của Bác và Đại tướng Võ Nguyên Giáp Từ Pá Bó - Cao Bằng xuống đề sau đó về Tân Trào ông kể:
....
 

Ghi từ một chuyến đi

22/01/2014 lúc 19:44






T





ôi đến La Lay lần thứ nhất khi cửa khẩu La Lay được ChÝnh phñ ra QuyÕt®Þnh nâng cÊpthành cửa khẩu Quốc gia. Lần thứ hai, khi ngành Bưu điện phủ sóng hệ thống thông tin liên lạc đến tận vùng sâu vùng xa của tỉnh thông qua việc lắp đặt hệ thống dàn pin năng lượng mặt trời đầu tiên trong cả nước tại xã Tà Rụt. Lần này, tôi lại được cùng anh chị em văn nghệ sĩ Quảng Trị trở lại vùng biên ải này. Chúng tôi về với những người cán bộ Hải quan, tìm hiểu để biết thêm một chút ít về đời sống và công việc của họ, của một ngành, góp vào vốn hiểu biết trong nghề cầm bút của mình.
Thật sung sướng khi tôi lại được đặt chân lên bên cột mốc R16, cột mốc mà tôi đã từng ghi trong bút ký trước đây của mình. Tất cả những ai có mặt đều muốn được trèo lên bên cột mốc, chụp một bức ảnh kỷ niệm. Trong tĩnh lặng và hïng vÜ  của nói rõng một vùng biên cương, dậy lên trong lòng mỗi chúng tôi tình yêu mãnh liệt Tổ quốc đất nước quê hương mình. Phía bên kia cột mốc, chỉ cách ít bước chân thôi đã không còn là đất thiêng của nước mình rồi. Ba mươi ba ki lô mét đường biên, địa bàn Đồn biên phòng La Lay quản lý cũng là ba mươi ba kilômét cửa khẩu, những người lính Chi cục Hải quan canh giữ, quản lý, kiểm tra, thu thuế, ngăn chặn gian lận thương mại góp vào tăng ngân khố cho đất nước.
Ở dọc dãi biên cương này, những người cán bộ hải quan nếu chỉ làm công tác đăng ký tờ khai quản lý người qua về, những chuyến hàng qua về cửa khẩu, quản lý phương tiện qua lại xuất nhập cảnh, hàng hóa xuất nhập khẩu thôi, thì đơn giản biết mấy. Bởi ở đó, người cán bộ hải quan đêm cũng như ngày cßn phải đối mặt với biết bao âm mưu thủ đoạn xảo quyệt của kẻ thù, âm mưu của những kẻ phản loạn, muốn lật đổ chính quyền, quỷ kế của những kẻ buôn gian bán lận, vượt biên, tuồn hàng qua các đường tiểu mạch trong núi rừng để trốn thuế, hối lộ, gây sức ép, nhất là các đối tượng nguy hiểm như buôn bán ma túy, vũ khí, chất gây nghiện, hàng tiền giả.v.v. làm sao để thu lời bất chính một cách nhanh nhất.
Ở chỗ hàng ngày đối mặt và tiếp xúc với những hàng, tiền, vàng như thế, trong suy nghĩ của nhiều người, cán bộ hải quan được công tác ở cửa khẩu là sung sướng, là mơ ước của nhiều người. Nhưng rồi có trải qua cuộc sống nơi rừng ngàn heo hút này mới biết, mới hiểu được những gì người lính biên phòng, hải quan phải hàng ngày đối mặt. Không ai muốn đánh đổi cuộc sống nơi chốn phồn hoa đô hội để đến sống nơi vùng rừng thiêng nước độc này. Nơi mà mưa nguồn thác lũ có thể cuốn phăng tất thảy mọi thứ. Kể cả trong cơ chế thị trường khi mặt trái của nó tác động, trước những mánh khóe thâm độc, những âm mưu thủ đoạn để lợi dụng, mua chuộc. Chỉ vài ba mét gỗ lậu thôi, hay lờ đi cho những chuyến buôn lậu... là anh có thể có nhà cao cửa rộng, tiền của giàu có sung sướng cả đời. Bởi vậy, mỗi cán bộ đứng chân n¬i này phải thực sự có bản lĩnh mới giữ được sự trong sáng của lòng mình. Nếu không được thế, anh đã góp phần làm suy thoái nền kinh tế đất nước. Tuy nhiên phải hiểu rằng, ở ngành nào, lĩnh vực nào thì cũng có "con sâu làm bẩn nồi canh" rồi ra sẽ chẳng giữ mình mãi được khi lòng tham đã chế ngự họ.
Trước đây, vào những năm của thập niên chín mươi, ai đã từng đến cửa khẩu tại Quảng Trị, thường bắt gặp cảnh những đoàn xe tải nối dài hàng cây số trên đường đợi được thông quan. Và cũng không ai biết trên những đoàn xe nối dài ấy tài xế giấu trong hàng hóa những hàng lậu gì.Từ "trâu bay", động vật hoang dã; những cuộc đổi chác, những cái gật đầu khó hiểu, người - xe - hàng tấp nập, hệ thống đường tiểu mạch cho những người c­ñ vạn gùi thuê hàng hóa... sẽ không biết cơ man  nào là hàng, là vàng, là những thứ hàng cấm được mua qua bán về ở nơi ®©y.v.v…
Đó là nói chung tình hình dọc mỗi mét đường biên tr­íc ®©y, chứ hôm nay chúng tôi đến, cửa khẩu La Lay vắng tanh vắng ngắt, không một bóng người qua lại, không một chuyến xe hàng qua về. Chúng tôi rời cột mốc đi một đoạn qua phía nước bạn Lào, con đường đất lổn nhổn, lở lói, sồi sụt làm hiện lên trước mắt chúng tôi sự khổ ải của những anh tài xế phải vượt qua quãng đường ngập bùn đất ngày mưa và bụi đỏ ngày nắng để đưa những chuyến hàng qua về giao thương buôn bán. Ở đây, chỉ các chiến sĩ biên phòng và hải quan có mặt ở trạm gác liên hợp tiếp đón chúng tôi mà thôi.
Trong mối quan hệ với Lào, từ Quảng Trị đến tỉnh Salavan của Lào có chung biên giới nhưng không có lối qua. Việc mở cửa khẩu La Lay thực sự thuận lợi trong việc giao thương buôn bán và qua lại với tỉnh bạn. Theo ông Lê Văn Tới, Côc tr­ëng Côc H¶i quan tØnh: từ cửa khẩu La Lay qua tỉnh Salavan, từ Salavan đến thành phố Pakse của tỉnh Campasak (một thành phố trung tâm kinh tế - văn hóa lớn thứ hai của nước Lào sau thủ đô Viêng Chăn) chỉ hơn hai trăm kilômét, thế nhưng, trước đây việc qua lại giữa hai tỉnh của hai nước để tiêu thụ nông sản, mua bán thương mại phải đi đường vòng qua cửa khẩu Lao Bảo xa đến bảy trăm ki lô mét. Trong khi đó hàng hóa, nông sản chủ yếu về qua cửa khẩu La Lay. Hiểu được tiềm năng, lợi thế này, từ những năm 1995, tỉnh đã đầu tư mười tỷ đồng xây con đường từ Tà Rụt đến cửa khẩu La Lay dài mười hai cây số.Và gần đây, tỉnh tiếp tục đầu tư gần bảy chục tỷ đồng để đầu tư xây dựng, sửa chữa tuyến đường này nhằm thúc đẩy giao lưu phát triển kinh tế giữa hai tỉnh Quảng Trị và Salavan cũng như khai thác vận chuyển hàng hóa qua cửa khẩu.
Dù vậy, với vị thế của một cửa khẩu quốc gia, những gì đang có đối với đội ngũ cán bộ công chức Chi cục Hải quan cửa khẩu mà chúng tôi chứng kiến thực sự khó khăn và thiếu thốn. Tôi cứ phân vân, một đơn vị hải quan vốn được mệnh danh là một ngành mũi nhọn về kinh tế đứng chânnơi cửa khẩu quốc gia, lại tạm bợ trong một căn nhà tôn nóng bức bên cheo leo sườn núi, với một đội ngũ cán bộ ít ỏi 12 người. đứng chõnbuổi trưa hôm naychẳng hạn, nắng trên ngọn núi Chẻ trànxuèng căn nhà mái tôn này không còn rực rỡ nữa mà chói gắt, những người cán bộ Hải quan phải làm mưa nhân tạo cho nước tuôn trên mái tôn giảm ®i sự oi bức nơi độ cao gần ngàn mét so với mực nước biển này để cho chúng tôi bớt đi sự mệt mỏi.Anh Lê Minh Thành, Chi cục trưởng tâm sự rằng, đơn vị thành lập muộn nên ban đầu còn tạm thời như vậy, dù sao trong kế hoạch Chi cục đang được Tổng cục Hải quan đầu tư xây dựng trụ sở trên n¨m tỉ đồng để phù hợp với xu thế cải cách thủ tục hải quan “thuận lợi - tận tụy - chính xác” hiện nay. Là một cửa khẩu vùng biên nhưng mọi hoạt động thương mại dịch vụ ở đây chưa phát triển, chưa trở thành một trung tâm thương mại lớn. So với các cửa khẩu khác trong tỉnh việc buôn gian bán lận ít xảy ra, do đó cán bộ công chức của chi cục cũng đang còn rảnh rang nhiều trong công việc. Nhất là mùa mưa, đường đất nhão nhoét, lầy lội, xe không qua về được, sông suối cũng ngăn không cho đi lại, nên anh em thay nhau trực gác theo giờ hành chính. Chứ không như các cửa khẩu khác phải trực hai bốn trên hai mươi bốn giờ. Công việc tuy không vất vả lắm, ở đây, còn biết bao nhiêu khó khăn, thiếu thốn khác của cuộc sống đời thường. Người cán bộ hải quan nơi cửa khẩu cũng như các chiến sĩ biên phòng luôn sống xa gia đình vợ con, đời sống vật chất cũng như tinh thần hết sức thiếu thốn. Để có được bữa ăn ngon phải đi chợ xa hàng vài chục cây số, hoặc mua ở những “chợ di dộng” của những người cửu vạn thồ hàng bằng những chuyến xe Minxcơ từ chợ trung tâm đến. Hiện tại, ở đây chưa liên lạc được bằng điện thoại di động, chưa có sóng ADSL để sử dụng Internet. Là nói trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin, những điều kiện sống bình thường nhÊt ở nơi đô thị cũng chưa có nốt....
 

Đường 9 thời hội nhập

17/04/2014 lúc 14:45






Đ





ã bao lần đi về trên con đường số 9, nhưng chuyến công tác Savanakhet cách đây ít lâu đã đem lại cho tôi một cảm nhận riêng. Câu nói: du lịch “ngày ăn cơm ba nước” quả là cách nói hình ảnh, bởi mới buổi sáng khởi hành từ Đông Hà, trưa chúng tôi đã ở trên đất Savanakhet (Lào) và chiều đã băng qua cầu Hữu nghị II chạm đất Mụcđahán (Thái Lan) ăn tối, nghỉ ngơi. Tuyến đường êm thuận đã làm gần lại những vùng đất trên hành lang Đông Tây.
Có dịp ngồi bên dòng Mê Kông cùng những đồng nghiệp ở báo Savanakhet phát triển uống bia Lào, nhâm nhi món cá nướng, ngắm phố xá sầm uất hai bên dòng sông chở nặng phù sa cuồn cuộn chảy, tôi lại hướng liên tưởng của mình về mảnh đất quê nhà. Duyên cớ là anh bạn đồng nghiệp ở báo Savanakhet phát triển bảo rằng tâm lý người Thái rất thích về Việt Nam vừa để du lịch biển, vừa để xem mảnh đất mà trước đây họ chỉ biết đến là chiến tranh khốc liệt bây giờ thay đổi ra sao!
Tuyến đầu năm xưa, đầu cầu hôm nay
Như là một sứ mệnh mà lịch sử đã đặt trên vai, trong chiến tranh chống Mỹ cứu nước, Quảng Trị là tuyến đầu. Và cũng bởi vì là tuyến đầu nên cả nước đã quan tâm dồn tất cả tâm lực và sự hy sinh vào đây để hoàn thành nhiệm vụ lịch sử giao phó. Chiến tranh đi qua, những tên đất, tên làng trên mảnh đất này gợi nhớ về một thời đau thương, anh dũng. Từng là tuyến đầu năm xưa, bây giờ Quảng Trị đang còn nghèo khó, nằm trong tốp các tỉnh nghèo của cả nước. Vì thế mà trong các Nghị quyết của Đảng bộ tỉnh Quảng Trị đều nêu cam kết chính trị, quyết tâm ra khỏi nhóm tỉnh nghèo, vươn lên cùng cả nước trong dòng chảy công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế thế giới để phát triển.
Có sự gặp gỡ chăng trên mảnh đất này, khi từ tuyến đầu năm xưa, bây giờ lại trở thành tỉnh đầu cầu trên tuyến đường xuyên Á. Và như thế Quảng Trị thời nào cũng vậy, đều ở trong thế khởi động để hướng về phía trước. Có thể thấy mục tiêu khai thác hành lang Đông Tây (EWEC) được đề ra trong Nghị quyết của Tỉnh ủy Quảng Trịlà một hướng mở để Quảng Trị hội nhập sâu vào nền kinh tế của khu vực và thế giới.
Về mặt địa lý, người ta từng ví miền Trung như chiếc đòn gánh và là điểm tựa tạo lực cho sự phát triển của hai đầu đất nước. Giờ đây đến lượt mình, nơi điểm tì vai của chiếc đòn gánh ấy có một lợi thế mà không phải nơi nào cũng có được. Đường 9, “lối đi mơ ước” mà người Pháp từng khai mở để khai thác thuộc địa Đông Dương năm xưa, tiếp đến người Mỹ thay chân đến đồn trú tại đây, để rồi phải đối mặt với trận “Điện Biên Phủ thứ hai” ở Khe Sanh cách đây hơn 40 năm, bị thất bại thảm hại bởi ý chí sắt đá của quân và dân ta bây giờ là trục chính của Hành lang kinh tế Đông- Tây đi qua Quảng Trị. Đường 9 không chỉ có ý nghĩa về mặt quân sự mà còn là con đường kết nối các nền kinh tế, mở ra hướng phát triển cho cả tiểu vùng Mê kông rộng lớn.
Nhiều người đã nói về cơ hội mở ra trên hành lang Đông- Tây, trong đó tôi tâm đắc với ý kiến rằng: Ở phía Tây hình như người ta đang đợi mình và Quảng Trị cần phải làm điều gì thật cụ thể để người ta vào cuộc. Mình là chủ nhà, nếu không cởi mở, ra tín hiệu thì làm sao người ta tiến đến bắt tay hợp tác! Cửa khẩu quốc tế Lao Bảo và Khu kinh tế thương mại đặc biệt (KT-TMĐB) Lao Bảo, bên đối diện là Khu kinh tế Đensavẳn là quyết định của Đảng, Chính phủ hai nước Việt- Lào, là khu kinh tế đối ứng giữa hai nước. Lao Bảo là điểm khởi đầu, bắc nhịp cầu quan hệ hợp tác với Lào, Thái Lan, Mianma.
Đường 9 là con đường ngắn nhất, thuận lợi nhất đảm bảo giao thông liên tục từ nội địa Việt Nam đến Savannakhet (Lào), Mụcđahán (Thái Lan) với khoảng 240 km, có thể đi lại thuận lợi kể cả trong mùa mưa. Cửa khẩu quốc tế Lao Bảo được đầu tư xây dựng vận hành tốt, cùng với hệ thống giao thông trong khu vực được xây dựng góp phần vào phục vụ chiến lược phát triển Hành lang Kinh tế Đông Tây. Không phải ngẫu nhiên mà trong Nghị quyết 39-NQ/TƯ của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo quốc phòng- an ninh vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải Trung Bộ đến năm 2010, xác định Lao Bảo nằm trong tuyến phát triển mạng lưới đô thị của khu vực. Thêm nữa, Quyết định 24/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành một số chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội đối với vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải Trung Bộ đến năm 2010 xác định, phải ưu tiên đầu tư xây dựng Khu KT-TMĐB Lao Bảo để mở rộng giao lưu buôn bán, phát triển du lịch, tăng cường dịch vụ với các nước trong khu vực…Theo đó, xây dựng Lao Bảo trở thành thành phố nằm trong hệ thống đô thị động lực cấp I. Không thể chậm chân, nắm bắt cơ hội này, Tỉnh ủy Quảng Trị đã cụ thể hóa chủ trương của Trung ương thành  Nghị quyết 06/NQ-TU về đầu tư khai thác Hành lang Đông Tây. Nghị quyết này đã xác định Khu KT-TMĐB Lao Bảo là vùng động lực của tuyến động lực…Đó là các mục tiêu chính mà Quảng Trị đang hướng đến.
Với vị trí thuận lợi nằm ở đầu cầu của hành lang Đông  Tây về phía Việt Nam, lại đang tích cực triển khai dự án cảng Mỹ Thủy cùng với khu kinh tế Đông Nam, sắp đến đây khi Hiệp định vận tải qua biên giới được thông qua, Quảng Trị có cơ hội trở thành nơi giao thương, tập kết hàng hóa xuất nhập khẩu hai chiều đi đôi với cơ hội phát triển du lịch, dịch vụ. Tiến trình thông thương tuyến đường bộ chung Việt Nam- Lào - Thái Lan đang mở ra cơ hội phát triển mới cho cả nước, miền Trung, trong đó Quảng Trị sẽ là tỉnh đầu tiên có thể được hưởng lợi rất nhiều để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội mang lại từ con đường huyết mạch giao thương quan trọng này...
 

Rừng bên phố

01/01/1970 lúc 08:00

Tôi đã có nhiều buổi chiều men theo tận cùng những con đường dẫn vào thăm thẳm cánh rừng phía Tây- Nam thị xã Đông Hà. Rời khỏi phố xá ồn ả, bỗng thấy rừng Đông Hà dường như trở nên bất tận với miên man màu xanh kéo một vệt từ ven sông Vĩnh Phước lên Khe Lấp, phường Ba, giáp đến miệt Tân Trúc, Thiết Tràng, Nghĩa Hy, Cam Lộ...
....
 

Thành Cổ trong lòng thị xã

01/01/1970 lúc 08:00

Thị xã ôm vào lòng một Thành Cổ Quảng Trị, thị xã hôn lên dòng mồ hôi đá Thạch Hãn, thị xã liếc mắt đưa tình sang cầu Ái Tử; tôi muốn dành những động từ âu yếm nhất để nói về thị xã nhỏ bé này, giản dị hiền lành đến nỗi cái tên cũng phó mặc cho quê hương - người ta gọi là Thị xã Quảng Trị.
Ba giờ sáng, từ Khánh Hoà chị Mắt chat và nói với tôi rằng chị ước được về Quảng Trị một lần. Để mần chi? Để đi vào thăm Thành Cổ, chị thích bài hát Cỏ non Thành Cổ của nhạc sĩ Tân Huyền. Tôi lặng người đi sau câu nói của chị, và cảm thấy như cái khoảng cách vô hình mà internet tạo ra được xoá trắng để kéo con người ta lại gần nhau hơn. Trong rất nhiều những bài hát về quê hương Quảng Trị thì Cỏ non Thành Cổ là bài tôi ít khi hát nhất, bởi nó có một đoạn nhạc lên rất cao; hơn nữa, mỗi lần hát tôi lại chạm vào nỗi buồn của thế hệ đi trước, lại thấy mình như có lỗi với đất cỏ quê nhà. Nhưng hôm nay tôi sẽ mượn lời cỏ để hát về thị xã của mình, hát bằng vĩ thanh của tiếng đàn mà ngọn gió phơn qua lá để lại từ những năm về trước.
....
 

Bóng người thân

01/01/1970 lúc 08:00

Quá khứ của mỗi người đến một lúc sẽ hóa thành nội dung sống của đời người đó. Với tôi thì sao, với tôi là những tháng năm tôi đã sống như mỗi người Việt Nam đã sống. Giờ đây tôi thấy một ngày sống của mình rất dài và thực không dễ dàng chút nào. Con người ta có thể lang thang tứ xứ, nhưng lang thang mãi rồi cũng phải quay về nhà mình, nghĩ ngợi những chuyện viển vông đẩu đâu rồi cũng chẳng trốn khỏi những chuyện nhà mình.
...
 

Kéo pháo vào Điện Biên Phủ

22/01/2014 lúc 19:18

 





B





ước vào chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954, trong lúc các đơn vị bạn đi đánh giặc, thì đoàn pháo binh sư đoàn 316 của chúng tôi lại phải chịu nằm bất động tại một khu rừng già tỉnh Lai Châu. Trung đoàn trưởng còn lệnh cho chúng tôi không được ra khỏi rừng, còn pháo thì phải lau chùi sạch sẽ và cất dấu cho thật kỹ, thế mợi lạ chứ!
Cậu Cường bực mình bảo với tôi: - Báo cáo tiểu đội trưởng: đề nghị cho tôi được chuyển sang làm lính bộ binh, chứ cứ ăn chực, nằm chờ thế này thì chịu sao nổi!. Tôi lặng im không nói gì, vì tâm trạng tôi và các anh em cũng đều thế cả. Chiều hôm qua, tôi đi họp nghe thủ trưởng nói về tin chiến thắng, nào là giải phóng tỉnh Lai Châu, ta còn đánh vào thượng Lào giải phóng niền lưu vực sông Nậm Hu; đánh vào trung Lào giải phóng thị xã Thà Khẹt; ở đồng bằng Bắc Bộ, ta tiêu diệt và bức rút hàng trăm đồn bốt. Có lẽ quê hương Thái Bình của tôi cũng được giải phóng rồi!. Đồng chí còn nói: ở Tây Nguyên ta giải phóng vùng liên khu V, nối liền với hạ Lào v.v..., nghe thủ trưởng báo tin chiến thắng, chúng tôi càng thêm sốt ruột!
Thế rồi bất chợt vào những ngày đầu tháng 11 - 1953, trên bầu trời tỉnh Lai Châu, cứ từng đợt máy bay Hen-cát và Bê-vanh-xít của giặc Pháp cứ thay nhau ném bom xuống quanh khu vực lòng chảo Điện Biên Phủ và các khu vực phụ cận; sau đó từng tốp máy bay Đa-cô-ta, máy bay trực thăng chở quân nhảy dù, những chiếc dù trắng, xanh treo lơ lửng trên bầu trời, rồi hạ xuống đất, rất nhiều, rất nhiều không sao mà đếm xuể; tiếp theo là những chiếc dù rất to thả xuống những vật gì rất lạ. Tôi đưa Pháo đối kính và ống nhòm lên để quan sát, thì ra là những chiếc dù thả những chiếc lô cốt bong ke xuống, để chúng xây dựng ngay trận địa. Lúc này về phía đèo Lũng Lô, dốc Pha Đin và trên con đường từ Điện Biên đi Tuần Giáo và thị xã Lai Châu, máy bay địch cũng oanh tạc rất dữ dội. Sau những đợt ném bom, chúng lại thả xuống những cỗ xe tăng, xe thiết giáp, xe vận tải, những cỗ pháo hạng nặng và các phương tiện chiến tranh khác…, cứ như thể chỉ trong vòng gần một tháng, quân Pháp đã xây dựng xong tập đoàn cứ điểm Điện Bên Phủ, với sân bay Mường Thanh, khu trung tâm chỉ huy cùng với bốn mươi chín cứ điểm để trấn giữ và chúng tuyên bố: đây là tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương mà chúng tuyên bố là: “Bất khả xâm phạm”.
Tôi còn nhớ: ngày 25 - 12 - 1953, trung đoàn pháo của chúng tôi được lệnh tập trung, đồng chí trung đoàn trưởng Chu Phương Đới và chính uỷ Lê Thuỳ  đến để truyền đạt mệnh lệnh, đồng chí trung đoàn trưởng nói: Tôi rất biết các đồng chí thắc mắc - không được ra trận, nhưng đây là chủ trương của Bộ chỉ huy chiến dịch và sự sáng suốt của tổng quân uỷ, của Trung ương Đảng và Bác Hồ. Muốn đánh thắng giặc thì phải bí mật và đặc biệt phải biết thế nào là thật, là giả như Khổng Minh thời tam quốc vậy! Việc các đồng chí ém quân ở đây, nhằm theo dõi động tĩnh và hơn hết là các đồng chí đã đưa được pháo vượt qua đèo Lũng Lô và một số núi đồi hiểm trở khác; đến khi ta mở chiến dịch thì pháo của các đồng chí chỉ còn vượt qua dốc Pha Đin nữa, là ta có thể đột nhập vào trận địa một cách dễ dàng... Ngừng một lát, trung đoàn trưởng phóng tầm con mắt về phía lòng chảo Điện Biên và nói tiếp:
- Tướng NaVa tổng tư lệnh quân viễn chinh Pháp quyết định nhẩy dù lên Điện Biên Phủ, nhằm nhử bộ đội chủ lực của ta lên miền rừng núi hiểm trở, vận chuyển khó khăn, pháo binh ta không có phương tiện gì để leo núi mà đưa được pháo vào trận địa, lúc đó chúng sẽ dùng phi pháo để tiêu diệt bộ độ ta và bình định chiến trường Đông Dương trong vòng mười tám tháng. Nhưng “vỏ quýt dày có móng tay nhọn”. Ngày 22 - 12 - 1953 Hồ Chủ Tịch đã trao cờ: “quyết chiến quyết thắng” cho bộ đội và chỉ thị cho toàn quân và toàn dân phải ra sức giết giặc lập công, giành toàn thắng cho chiến dịch Điện Biên Phủ. Thực hiện quyết tâm này, suốt mấy tháng ròng các lực lượng bộ đội, công binh, thanh niên xung phong và dân công hoả tuyến đã làm hàng trăm ki lô mét đường xuyên qua núi đèo để kéo pháo vào trận địa... Bây giờ đến lượt các đồng chí ra trận đây, tối nay từng phân đội của các đồng chí sẽ họp để hiến mưu hiến kế mà kéo pháo vượt qua dốc Pha Đin vào trận địa một cách an toàn. Tôi giao nhiệm vụ cho các đồng chí!
Sau mệnh lệnh của trung đoàn trưởng, ông còn giới thiệu sơ lược về vị trí của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, ông vừa chỉ bản đồ vừa nói: đây là phân khu Bắc có đồi Độc Lập nằm án ngữ con đường về thị xã Lai Châu; phía Đông là Bản Kéo, phía Tây là Him Lam; đây là khu trung tâm có: sân bay Mường Thanh, tiếp đến khu chỉ huy sở của tướng Đờ-cát-tơ-ri; phía Đông có đồi Hồng Lếch, đồi A1-C1 và rất nhiều cứ điểm quan trọng khác; còn phía Nam có Hồng Cúm, Bản Sơn, Bản Mơ, Bản Bông... Nhiệm vụ trung đoàn pháo của ta, được cụm pháo binh sư đoàn giao phụ trách mặt trận phía Đông. Đại điểm đặt pháo và chiếc hầm của tổ quan trắc đã có công binh lo liệu, các đồng chí quyết tâm mà thực hiện.
Đêm hôm ấy, đại đội trưởng Nam Thanh, ông cho đại đội họp để bàn cách kéo pháo vượt dốc Pha Đin. Cậu Tiếp khổ người thô mập, đôi bắp tay thì to như hai cái dùi dục, gân cốt nổi cuồn cuộn, cậu ta xin phép phát biểu:
- Ta nên tháo rời các bộ phận pháo để khiêng vác, cậu ta vừa chỉ lên đôi vai, vừa bảo: cứ cái đôi vai này là xong hết, việc gì phải bàn cãi cho rắc rối!
Cậu Cường là trinh sát viên của tiểu đội quan trắc xin phát biểu, Cường nói:
- Thưa đại đội trưởng, mỗi khẩu pháo nặng hàng bốn, năm tấn thép, đường thì dốc, đá thì lởm chởm, nếu không may trượt chân, bệ pháo rơi xuống đè lên người, hỏi có an toàn không và bao nhiêu người khiêng cho đủ, tôi phản đối ý kiến của đồng chí Tiếp!...
 

Lời Bác thấm đẫm đời tôi

17/04/2014 lúc 14:46






“S





ếp gà” - Cái tên ngồ ngộ ấy, gần đây cứ vang vọng khắp huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Nó cũng thực sự hấp dẫn tôi - một gã khá hiếu kỳ giữa thời A còng, ngổn ngang sự lạ.
Thế là chiếc “xe con” lao tít mù, đưa tôi về xã Quang Minh – vùng đất vừa sâu, vừa xa nơi cuối huyện.
- Này anh! Chỉ dùm tôi nhà ông Thông, có cái trang trại chăn nuôi lớn nhất vùng này ấy.
- Ồ! Chàng thanh niên kêu lên - thế thì sáng nay ra ngõ, bác gặp vía trai rồi! Cháu chính là con rể ông ấy đây. Mời bác đi với cháu!
- Thế mà...vía gái mới hay chứ!
- Hay! Vậy cái vía ấy chắc là xinh lắm phải không bác?
- Xinh! Nhưng đã được làm rể “sếp gà”, còn hỏi xinh, với xấu làm gì cho... phạm luật!
Tiếng cười “Xuân Hinh” cứ rộn lên với hai bác cháu trên con đường quanh co, chạy miết về phía cuối làng.
Dừng xe trước ngôi nhà mái bằng còn khá đỏm dáng, tôi hình dung chủ nhân của nó là một tay trai trẻ, khá bảnh bao. Nhưng không. Đó là một lão gia xấp xỉ bảy mươi xuân. Tóc hoa dâu. Râu mộng mạ. Dáng dấp thật cũ kỹ, đầy phong sương, nhưng đôi mắt lại lấp lánh, ánh lên vẻ tân kỳ. Nói tân kỳ bởi vẫn tinh anh và còn duyên lắm. Chính cái “duyên” ấy, đã khía vào tôi một nét nhớ mơ hồ. Vết “khía” làm tôi chững lại một giây:
- Này ông! Hình như tôi đã gặp ông ở đâu?...
- Tôi cũng có cảm giác ấy!...
Chủ nhà tươi cười, kéo khách vào bàn nước. Chén trà bốc hơi ngào ngạt, nhưng không thể nghĩ tới trà. “Nét nhớ mơ hồ” kia cứ cuộn lên, bắt tôi phải vào đề ngay:
- Thế này không phải, nhưng ông cho tôi được biết: Thuở thiếu thời, ông học ở những đâu?
- Mời ông cứ uống nước cho nóng đã - chủ nhà chậm rãi: Cấp 2, tôi học ở Cổ Rồng và Tán Thuật. Cấp 3 ở Tiền Hải - Tây Sơn.
- Cấp 2, ông có biết thầy Lê Xuân Tùng?...
- Thầy Tùng người miền Trung, từng là uỷ viên Trung ương, Bí thư thành uỷ Hà Nội ấy à? Chính thầy đã dạy môn Văn tôi đấy.
- Còn cấp 3 Tiền Hải?...
- Khoá 1. Ra trường năm 1964
- Trời! Tôi kêu lên. Thông! Có phải Đặng Tất Thông 10c đấy không?
Thục. Nguyễn Văn Thục 10b đây! Ngày ấy, hai lớp chỉ cách nhau một bức vách. Còn nhớ những pha bóng đá cháy là chuối không?
Chúng tôi ôm sồ lấy nhau, nghẹn ngào,
Hồi lâu khi sóng lòng tạm lắng, tôi bảo Thông:
- Hơn bốn mươi năm rồi, hẳn là bể dâu lắm. Hãy kể cho mình quãng đời ấy của bạn đi!
- Dâu bể thật! Thông trầm tư, húng hắng: Nếu ông biết tôi từ cấp 2 thì hẳn vẫn nhớ thằng Thông “cò hương” ngày ấy: Bố chết sớm. Mẹ oằn lưng, cõng địu một đàn con nheo nhóc. Nhà là túp lều cạnh mảnh vườn hoang. “Giường” là chiếc ổ rạ đầy bụi mốc. Cơm toàn cục muống, dãi khoai. Nhiều bữa anh em tôi phải ăn cháo cám nấu với thài lài. Thấy nhà gieo neo quá, mấy lần tôi định bỏ học. Mẹ tôi bảo: “Con ơi! Không học thì mù óc. Mù óc còn khổ hơn mù mắt đấy!” Nhìn người hỏng mắt ăn xin ngoài chợ, tôi đành quay lại trường, nhoai người giật lấy cái bằng cấp 3! Tú tài toàn phần ngày ấy có giá lắm chứ! Tôi hi vọng mảnh bằng ấy sẽ “cởi trói” cho mình. Nào hay, mãi mãi nó chỉ là kỷ niệm vùi sâu dưới đáy chiếc hòm đầy dẻ rách của tôi!
Tiễn bạn đi đại học chuyên nghiệp rồi, tôi thẫn thờ quay về túp lều, cầm lấy chiếc cuốc học nghề bới đất. Mấy năm dạy bổ túc văn hoá và tập tểnh theo trâu, đã giúp tôi kịp nhận ra mình. Chẳng muốn ở nhà, tôi thèm đi bộ đội quá. Khám tuyển sáu - bảy lần vẫn ế. Cái bệnh loạn nhịp tim đã phản trắc tôi. Buồn nản, ngán ngẩm trước cảnh tình không lối thoát. Tôi bèn tìm cách “chuồn” lên Phú Thọ làm thuê. Nghề làm thuê của tôi là đục khóet núi đồi, làm ao cho bà con dân tộc nuôi cá. Ban đầu, thấy tôi chưa đầy một nẹn, ai cũng nguây nguẩy lắc đầu. Nhưng chỉ sau dăm tháng, người ta lại sửng sốt nhận thấy tôi làm ăn được. Chẳng những không ốm, không chết mà có phần béo khoẻ ra. Thế là họ ầm ầm kéo đến tranh nhau “đặt hàng”. Ngày ngày, một mình với đôi quang gánh, chiếc búa chim và cái xà beng, tôi cứ kẽo kẹt “gánh cực mà đổ lên non”! Cứ được đúng ba khối là ra suối “tắm tiên”! Dứt khoát không làm hơn nữa. Nhờ phương thức lao động kiểu “thể dục thể thao” ấy, mà tôi đã không bị đất đá đè bẹp. Suốt mười bốn năm như thế, tôi đã hoàn thành trên năm mươi chiếc ao lớn nhỏ. Điều lạ lùng hơn: cái bệnh loạn nhịp tim tự nhiên biến mất. Nhờ vậy, khi chiến tranh biên giới phía Bắc nổ ra, tôi mới có vinh dự được tham gia đội thanh niên xung phong lên Lai Châu phục vụ chiến đấu, rồi ra Quảng Ninh bạt núi trồng rừng và vào Thuận Hải xây dựng khu kinh tế mới...
 

Mùa xuân đầu tiên

02/12/2013 lúc 22:32

Mùa xuân mơ ước ấy, đang đến... (Văn Cao)





1





- Đã có biết bao mùa xuân đi qua trên đất này trong vô hồi vô hạn  thời gian và năm tháng từ bấy đến giờ, nhưng thời khắc sau Hiệp định Pa-ri có hiệu lực, năm 1973, đối với thị xã Đông Hà, hình như mới đích thực là mùa xuân đầu tiên.
Trong bút ký:"Đông Hà, con người và thời gian", nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường có ghi lại những cột mốc đáng nhớ của đất này: Ngày 12 tháng 3 năm 1973, cảng Đông Hà bắt đầu hoạt động. 21  giờ ngày 14 tháng 2 năm 1973, cầu Đông Hà thông xe. Ngày 24 tháng 3 năm 1973, chợ Đông Hà họp phiên đầu tiên...

Những người đánh bom

05/03/2014 lúc 08:41

Trích ký sự “Đường qua tuyến lửa”
...Sau khi hoàn thành nhiệm vụ mở đ­ường 20 – Quyết thắng, cả xe ủi và Vũ Tiến Đề được chuyển sang Binh trạm 14, cùng với đội 25 thanh niên xung phong, bảo vệ đoạn đ­ường từ Km65 đến Km83. Đó là đoạn đ­ường hết sức hiểm trở, vách ta luy đá tai mèo chênh vênh, một bên là thung lũng sâu thẳm quá tầm nhìn. Mỗi nắm đất vốc lên từ vùng này đều có vài mảnh bom. Chiếc xe ủi không số hàng ngày theo Đề ra giải phóng mặt đường, như là một ân nhân dày tình, nặng nghĩa. Nó có một sức sống và sức mạnh thần kỳ, mang trên mình dày đặc vết bom đạn. Nó nh­ư một chiếc hầm di động kiên cố đã hàng trăm lần cứu anh thoát chết, dưới hàng trăm loạt bom nổ của giặc Mỹ. Nó nhiều lần cùng Đề cưỡi lên bãi mìn sát th­ương, ép cho mìn nổ như­­ ngô rang. Sau năm 1966, giặc Mỹ đã dùng nhiều vũ khí và phương tiện hiện đại để ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc vào miền Nam. Chúng thả dày đặc bom phát quang, bom phá, bom từ trường, rải cả mìn hỗn hợp tai hồng, v­ướng là nổ, để cản đư­ờng, không cho công binh tác nghiệp. Mới đầu nhiều đồng chí bộ đội của ta đã phải hy sinh. Không thể bó tay trư­ớc những dã tâm thâm độc của kẻ thù, Vũ Tiến Đề đã cùng anh em nghiên cứu, dùng nứa bó xung quanh thành xe ủi, trừ lưỡi ben và bánh xích, chừa một lỗ nhỏ để nhìn. Tr­ước xe, dùng một bó nứa dài, đập dập đầu thành hình cái chổi, buộc là là mặt đất. Sau xe, dùng dây song buộc vài cây tre rừng. Xe đi, vừa đẩy, vừa quét, làm cho mìn nổ nh­ư pháo. Thế là tất cả các loại bom mìn hiện đại mà các nhà khoa học tầm cỡ của Mỹ dày công nghiên cứu, chế tạo, đã phải vô hiệu hoá trước cây tre của “ Thánh Gióng” thời chống Mỹ. Một lần, Đề đang bị cảm mệt, nhưng Binh trạm lại có lệnh bằng mọi giá đêm nay phải thông đư­ờng để vận chuyển hàng lên phía trước. Quên cả ốm đau, Vũ Tiến Đề bật dậy gọi chính trị viên Kiều và đại đội phó Trữ đến hội ý...

100 ngày vượt trường Sơn

17/04/2014 lúc 14:46






T





rong đời tôi có những năm tháng khắc tạc vào trí nhớ, không thể quên. Một trong những ký ức mãi tươi ròng không thành sẹo đó là 100 ngày vượt Trường Sơn đánh giặc. Hàng triệu người lính đã vượt Trường Sơn. Hàng vạn người lính đã nằm lại giữa lòng Trường Sơn. Trường Sơn “Ai chưa đến đó như chưa rõ mình” ( Tố Hữu). Đường Trường Sơn luôn luôn là một bí ẩn không chỉ đối với kẻ thù mà cả đối với những người đã từng 100 ngày leo đèo vượt suối như tôi. Đã 36 năm rồi, cuốn “Nhật ký Trường Sơn” mỏng của tôi dẫu nhòe bụi thời gian vẫn nóng hổi từng con chữ. Xin gửi đến bạn đọc trẻ hôm nay những hồi ức rút từ cuốn nhật ký ghi vội giữa chiến trường năm ấy…
1. NHỮNG NGÀY ĐẦU LÊN TRƯỜNG SƠN
Tiểu đội chúng tôi trong đội hình Sư đoàn 325 khung vượt Trường Sơn năm ấy toàn sinh viên Đại học Thương nghiệp Hà Nội. Đứa đang ôn thi tốt nghiệp được công nhận tốt nghiệp đặc cách, đứa học năm thứ hai, ba. Tôi có mấy anh em thân thiết như ruột thịt  là Võ Văn Đảm, Lê Văn Trung  (Vĩnh Linh), Nguyễn Văn Dũng - (Ý Yên Hà Nam), Nguyễn Hữu Thước (Nam Đàn Nghệ An), rồi Hồng, Phan Văn Các, Cao Xuân Hậu.v.v.. Đóng quân ở Phổ Yên, sau  3 tháng đeo gạch, đá, tập leo đèo, vượt dốc ở Tuyên Quang, Bắc Kạn, chúng tôi sắp hành quân vào B2 . Đầu tháng 1-1973, chúng tôi  tổ chức đám cưới của cho đôi uyên ương Đảm – Quỳnh. Hai người yêu nhau thắm thiết ba bốn năm rồi. Đám cưới  được tổ chức tại  ngôi trường tiểu học vào ngày chủ nhật. Hơn chục  anh em dân Đại học Thương nghiệp đóng vai nhà trai, mặc toàn đồ bộ đội...

Giữ gìn hồn bản, hồn làng

01/01/1970 lúc 08:00

“Phải cố gắng mà lưu giữ truyền thống văn hoá bản làng chứ. Không mai này, người già các bản lần lượt về với Giàng hết thì không khéo người PaKô không còn là người PaKô nữa”. Câu nói cửa miệng của Kray Sức (hiện là Trưởng Ban Văn hoá UBND xã Tà Rụt, huyện Đakrông) mà tôi được nghe khi vừa đặt chân đến mảnh đất Tà Rụt thật hồn nhiên, mộc mạc nhưng cũng hàm chứa cả sự quyết tâm của người PaKô “thương nguồn, nhớ cội” trước sự lãng quên của lớp trẻ đối với văn hoá dân tộc mình. “Muốn hiểu được phong tục, tập quán cũng như văn hoá nguồn cội của người PaKô thì phải mất cả tháng trời tìm hiểu chưa chắc đã hiểu hết. Thôi cứ đến nhà miềng uống rượu rồi miềng nói sơ qua cho nhà báo biết vậy”.
...
 

Còn mãi với thời gian

01/01/1970 lúc 08:00

Cả đoàn thăm quan Thành Cổ Quảng Trị của chúng tôi ngày hôm ấy lặng đi vì xúc động khi nghe anh thuyết minh đọc lá thư mới tìm được trong lòng đất của liệt sĩ Lê Văn Huỳnh. Chị Hoàng Điệp, phóng viên báo “Người Hà Nội” không nén nổi xúc động dúi máy ghi âm và tay tôi chạy ra ngoài lau nước mắt. Anh thuyết minh còn cho chúng tôi biết sau khi tìm được lá thư, ban quản lý di tích đã phô-tô một bản tìm về địa chỉ quê nhà của anh Huỳnh trao cho gia đình.Cũng tại nơi đây các anh đã gặp lại chị Nguyễn Thị Xơ, người vợ mới cưới được bảy ngày của anh Huỳnh. Bây giờ người thiếu phụ ấy đã bước sang bên kia con dốc cuộc đời. Ba mươi năm đã trôi qua, mai tóc chị điểm nhiều sợi bạc, chị vẫn ở vậy thờ chồng dù không có được hạnh phúc làm mẹ.
....
 

Có một dòng sông để thương để nhớ

22/01/2014 lúc 15:51






G





iữa cái thị xã gió nắng có thể xếp vào nơi khắc nghiệt bậc nhất của miền Trung này bỗng dưng tạo hóa ban cho một dòng sông chảy vắt qua. Sông Hiếu của quê tôi như một dải lụa đào làm duyên thêm cho một vùng đất, tưới tắm cho bao số phận của đời người. 
Mỗi dòng sông cũng như mỗi đời người, đều có gốc gác, cội nguồn, cả tình yêu và nỗi nhớ đan cài. Sông Hiếu không rộng dài như bao dòng sông nổi tiếng, nhưng là ân tứ của thiên nhiên cho mảnh đất này, để rồi một ngày nào đó ta quay về bỗng thấy yêu thêm dòng sông ký ức của tuổi thơ chảy muôn đời qua bao tháng năm trĩu nặng ân tình.
 Sông Hiếu là hợp nguồn của nhiều con suối đầu nguồn ở Cam Lộ, nơi đường phân thuỷ của những núi đồi giáp với Đakrông. Bên kia đường phân thuỷ, nước chảy ngược xuống sông Đakrông, chảy về Thạch Hãn. Bên này suối nước đổ về hình thành nên sông Hiếu chảy về Cam Lộ, qua Đông Hà, ngày xưa đoạn qua nơi này còn được gọi là Điếu Giang (theo "Phủ biên tạp lục" của Lê Quý Đôn, bởi nó chảy qua làng Điếu Ngao, nay địa danh này là phường 2, thị xã Đông Hà). Từ đây sông Hiếu chảy xuôi về Gia Độ, Triệu Phong thì hợp lưu với sông Thạch Hãn rồi chảy ra Cửa Việt.
 Nếu nói về sông Hiếu thì có thể phải viết cả cuốn sách mới chuyển tải được phần nào, bởi con sông nhỏ nhưng đã oằn mình gánh trên nó bao biến thiên của lịch sử. Phía thượng nguồn sông ngày xưa có một cái chợ rất nổi tiếng là chợ Phiên - Cam Lộ, từng là nơi diễn ra giao thương lớn của người Việt khắp nơi theo sông Hiếu mà lên với cư dân trong vùng, mở rộng lên tới đất nước Triệu Voi (Lào). Thời chiến tranh, nơi đây có những cứ điểm quan trọng, xảy ra nhiều trận đánh lớn đi vào lịch sử, mà cao điểm 544 là nơi đối phương chọn làm trung tâm xử lý tư liệu của "Con mắt thần" hàng rào điện tử Mc.Namara. Còn hạ nguồn sông là nơi từng xảy ra trận thuỷ chiến được gọi là trận "Bạch Đằng Giang trên sông Hiếu" vừa tròn 40 năm về trước.
 Dòng sông Hiếu là chứng nhân lịch sử bi hùng của một vùng đất đã bị tàn phá hơn 200%, như lời của một phóng viên phương Tây khi đến Đông Hà sau ngày thị xã này được giải phóng. Nhưng từ trong thẳm sâu, sông Hiếu còn là nơi nuôi dưỡng, tắm mát cho bao tâm hồn, mà nhà thơ Chế Lan Viên là một trong những nhà thơ ra đi từ mảnh làng bên dòng sông này. Khi đã trở thành nhà thơ lớn của dân tộc, trong sâu thẳm nhà thơ vẫn mãi thương nhớ con sông quê, vùng đất quê nghèo khó với "những đồi sim không đủ quả nuôi người"... 
Nhà tôi không ở gần sông, nhưng những năm tháng tuổi thơ, ngôi trường tiểu học của tôi lại nằm bên sông Hiếu. Đấy là những năm sau Hiệp định Paris -1973, tôi được trở lại đi học ở vùng giải phóng. Trường tiểu học thị xã được xây dựng tạm ở Tiểu khu 3, hồi ấy còn gọi là làng Đông Hà (nay là Phường 3, Đông Hà). Ban đầu lớp học của chúng tôi học trong một ngôi nhà dân đã đi di tản, rồi mới chuyển ra ngôi trường được xây dựng sau đó ít lâu. Trường hướng mặt ra sông, cách một con đường nhỏ, chỉ mấy bước là có thể ra được bến sông nghịch nước. Những ngày gió Tây Nam thổi mạnh, trời nóng bức, đi học về chúng tôi thường rủ nhau ra bờ sông, cả con trai, con gái cởi áo quần nhảy ùm xuống tắm. Hồi đó quá hồn nhiên nên chúng tôi chẳng biết ngượng là gì. Sau đó ít lâu vì có người chết đuối trên sông nên nhà trường cấm không cho chúng tôi tắm sông nữa, vậy mà có đứa vẫn lén xuống sông tắm, bị thầy phạt đòn vẫn không chừa.
Người thầy đầu tiên của tôi ở vùng mới giải phóng cũng rất đặc biệt- thầy Nguyễn Văn Sự. Học xong tú tài, không có sự chọn lựa nào khác, thầy phải đi học trường sĩ quan Thủ Đức của chế độ cũ. Dạo đó về thăm nhà năm 1972, thầy bị kẹt lại sau giải phóng, còn gia đình thầy thì đã di tản vào các tỉnh phía Nam. Thầy được ngành giáo dục trưng dụng dạy học cho chúng tôi khi vùng giải phóng còn thiếu các thầy cô giáo. Thầy rất hiền lành, buổi đầu tiên lên lớp thầy bảo chúng tôi đừng gọi thầy là thầy mà gọi chú như ở nhà cũng được. Thầy dạy học theo chương trình sách giáo khoa mới rất nghiêm túc và thương học trò như các em của thầy, vì hồi đó thầy còn trẻ và chưa có gia đình. Quê thầy ở Gio Linh, một mảnh đất nằm ở bờ bắc sông Hiếu.
 Năm ấy tôi học lại lớp hai, mặc dù trước đó tôi đã học xong lớp nhì Trường tiểu học Trung Chỉ của chương trình giáo dục miền Nam. Có lẽ những bài thơ của các nhà thơ cách mạng chúng tôi cũng bắt đầu được học từ đây. Tôi nhớ nhất là bài thơ "Nhớ con sông quê hương" của Tế Hanh. Bài thơ là ký ức, là kỷ niệm của nhà thơ về con sông quê hương, có lẽ là sông Trà Khúc thì phải, nhưng không hiểu sao tôi cứ ngỡ như viết cho dòng sông quê mình: "Quê hương tôi có con sông xanh biếc/Nước gương trong soi tóc những hàng tre/Tâm hồn tôi là một buổi trưa hè/ Toả nắng xuống dòng sông lấp loáng"...Ừ, thì dòng sông quê mình cũng có luỹ tre soi bóng, có nước biếc trong xanh, có thuyền ai đó nhẹ lướt buông câu...nhưng có lẽ chỉ nhà thơ mới có thể nói lên tình cảm đối với con sông quê hương của mình với nỗi nhớ vời vợi, thao thiết đến nao lòng. Tế Hanh cũng là nhà thơ có nhiều bài thơ, câu thơ rất hay viết về vùng giới tuyến mà sau này làm chúng tôi nhớ mãi: "Trời vẫn xanh một màu xanh Quảng Trị/ Tận chân trời mây núi có chia đâu"...
 Chúng tôi học với thầy Sự đâu được hai năm lớp hai, lớp ba thì giải phóng miền Nam. Hồi đó thầy tìm lại được gia đình và đưa cả nhà về quê. Tình cờ hôm thầy đưa gia đình từ Đà Nẵng về, đang nghỉ lại ở bên đường thì gặp tôi. Tôi lễ phép mời thầy và gia đình vào nhà uống nước. Trong đôi triêng gióng, hành trang ít ỏi người di tản của cha mẹ thầy trở về còn có cả ảnh thờ của thầy. Thì ra khi thầy về tìm gia đình để đi di tản, bị kẹt lại thì gia đình thầy đã vào Đà Nẵng.
Cứ nghĩ thầy đã mất nên gia đình lập bàn thờ để "thờ" cho thầy trong suốt ba năm trời. Từ dạo ấy thầy không trở lại trường nữa và bao nhiêu năm trôi qua tôi vẫn bặt tin thầy.
 Người thầy kế tiếp của chúng tôi là thầy Trương Quang Thanh, dạy chúng tôi hai năm lớp tư, lớp năm cho đến khi chúng tôi chuyển về học ở trường trung tâm thị xã. Thầy Thanh người làng Mai Xá, cũng là một làng quê bên dòng sông Hiếu. Thầy có dáng người dong dỏng cao, mắt sáng, nước da trắng, tác phong rất lanh lẹ. Những bài giảng của thầy thật sôi động, nhất là môn lịch sử, được đan cài vào nhiều câu chuyện đánh giặc giữ nước rất bi hùng ở quê thầy, nghe tưởng như thầy là người trong cuộc vậy...

Quê quán tôi xưa

17/04/2014 lúc 14:46






Đ





ấy chính là quê nhà thương khó của đời tôi.
Của hương hỏa riêng mang mà lắm khi quay quắt nhớ, không chỉ lúc lang thang xứ lạ quê người mà ngay cả khi ngồi trên bờ cỏ bên sông sau nhà hay ngã mình trên đống rơm vàng góc vườn sau mùa gặt, cái miền quê mơ hồ đâu đây cứ vọng về trong trí nhớ. 
“Quê quán tôi xưa”, Trịnh Công Sơn đã có một câu hát như bay về từ hư không “Một lần chợt nghe quê quán tôi xưa, giọng người gọi tôi nghe tiếng rất nhu mì” Sau này anh Hoàng Phủ Ngọc Tường (HPNT) có cắt nghĩa rằng quê quán tôi xưa của nhạc sĩ không phải là cái làng Minh Hương phía bắc thành phố Huế, mạn cảng cũ Bao Vinh đi về. Nỗi nhớ “quê quán tôi xưa” của Trịnh chính là cái vườn địa đàng xa thẳm, cũng như những nghệ sĩ lớn, như Lý Bạch ví mình là một trích tiên bị lưu đày, như Văn Cao lạc bước từ chốn Đào Nguyên về trần gian, và nhiều nhiều người nữa, bởi, “cõi tiên không gì khác hơn là khát vọng hằng có nơi người nghệ sĩ của muôn đời” (HPNT).
Mới đây trong một tùy bút của một nhà văn trẻ cũng lấy tựa “Quê quán tôi xưa” để trang trải nỗi hoài nhớ quê nhà khi cô đang ở tận xứ sương mù Anh quốc. Đất khách quê người, nỗi nhớ hẳn mênh mang trĩu nặng khôn cùng.
Nhưng đâu cần chi trời Âu bể Á, dân Quảng Trị quê tôi do hoàn cảnh lịch sử của vùng đất, lưu lạc nhiều vào phương Nam, đâu cũng gặp họ, và nỗi nhớ quê quán thường trực trong mỗi người, nhất là độ Tết xuân về. Ngày xưa sự cách trở muôn phần quan san bởi chiến tranh, bởi cuộc sống cơ hàn, bởi đò giang ngăn lối, nhưng nay chỉ một giờ bay với Vietnam Airline là từ Sài Gòn đã ra đến Huế, một giờ xe đò nữa thì chạm mặt quê hương, biết là như vậy nhưng mà sao đường về quê nhà cứ cảm giác cách ngăn một màn mưa sương hoang hoải. Nỗi nhớ ấy khiến ai cũng thành nhà thơ.
Tôi chưa thấy có Hội đồng hương nào mà cứ độ Tết về lại ra những tập san như Hội đồng hương Quảng Trị ở các tỉnh thành. Cũng không phải văn chương huê dạng chi nhiều, chỉ nhắc mãi nhắc hoài chuyện tiếng quê, chuyện mái đình cây đa, chuyện mưa sa nước sỉa, ăn món này, nấu món kia, năm nào cũng vậy, sách in ra rồi đọc, rồi ngâm ngợi, vậy mà nỗi nhớ ấy viết mãi năm này qua năm nọ không hết.
Ai cũng có một “quê quán tôi xưa” trong mịt mùng hoài nhớ. 
Và cái nỗi nhớ ấy luôn khản khắc trong tôi như khi đi qua miền đất này vùng quê nọ, gặp bóng xưa rêu phong trong ngôi miếu cổ, một dáng cổ thụ đầu thôn, nước giếng làng soi bóng thì cái “giọng người gọi tôi nghe tiếng rất nhu mì” vang lên từ quê nhà cứ khắc khoải như tiếng cuốc đêm hè. Nói nhớ như vậy cũng có căn nguyên của nó! 
Hồi tháng 10 mới đây, đi dự hội thảo lịch sử về triều đại nhà Nguyễn ở Thanh Hóa, khi đứng trước bức không ảnh chụp lăng miếu Triệu Tường ngày xưa nguy nga lộng lẫy đã thành bình địa sau bao dâu bể nỗi đời thì cái miền ký ức quê nhà hương hỏa ấu thơ lại hiện về mồn một.
Không phải là những đền đài chùa miếu uy phong , nhưng ký ức hoa râm của mái đầu đủ lặn lội nhớ về những dấu xưa man mác một quê quán thanh bình và nho nhã, thâm hậu mà huyền hoặc.
Quê tôi không có những đền to miếu lớn, cũng không có ai danh thần khoa bảng gì, một ngôi làng bình dị như muôn ngôi làng khác nơi miền đất gió cát. Và cũng vì thế mà nó mang vác một số phận như bao nhiêu ngôi làng nhỏ bé ấy, sau những bể dâu bom đạn, sau những bể dâu trên đời dân phận người, bể dâu trên những dấu tích tiền nhân từng may mắn vẹn nguyên đi qua chiến tranh.
Nỗi nhớ bắt đầu từ cái giếng hình vuông được kè bằng đá, bốn mùa nước trong vắt. Bây giờ lớn lên mới biết kiểu giếng ấy là của người Chàm chứ thời thơ dại chỉ mơ hồ biết đấy là cái giếng “thiêng”. Quê tôi hồi đó chưa có hồ đập thủy lợi, khát là nỗi ám ảnh của mùa hè khi gió Lào thổi ràn rạt , nước sông khô kiệt rong rêu và lòng giếng nào cũng trơ đáy, thế nhưng cái giếng Chàm với cây duối cổ thụ ngã bóng luôn ăm ắp nước ngọt, ngọt như những trái duối chín vàng sum suê trên cành, mang những niềm vui cho tuổi thơ chăn trâu cắt cỏ. 
Cũng trong xóm tôi có một chỗ để thờ đạo học gọi là Văn Thánh, bà con trong xóm gọi là “Nương” Thánh- “nương” chính là cách gọi cái vườn quê của người dân Quảng Trị. Chỗ đó sau ngày hòa bình cỏ cây lên rậm rạp, nhiều rắn, không còn ai cúng lễ bởi sẽ bị coi là “mê tín dị đoan”. Văn Thánh ở xóm tôi không to lớn kỳ vĩ nhưng sau này lớn lên, nhớ về nó, tôi thường bâng khuâng nhớ câu thơ xưa của Nguyễn Bính “Nhà ta coi chữ hơn vàng, Coi tài hơn cả giàu sang trên đời”. Cái nơi thờ tự những người hay chữ, tôn vinh đạo học của tiền nhân ấy nay cũng không còn....
 

Lan man nơi đồng sâu, đồng cạn

01/01/1970 lúc 08:00

Trong dân gian, từ lâu đã truyền tụng câu ca dao mà thoạt tiên khi đọc lên, thường không để lại ấn tượng gì đặc biệt, nhưng càng đọc, càng ngẫm ngợi, càng thấy tầm khái quát đầy chất minh triết của cha ông về cái nghề muôn năm cũ nhưng luôn tươi mới cho đến tận ngày hôm nay, nghề trồng lúa nước.
Cố công sống mấy nghìn năm
Để xem thửa ruộng mấy trăm người cày
...
 

Nét võ của cây mai

22/01/2014 lúc 15:37






G





ần hai mươi năm tôi sống ở quê hương, cũng chừng ấy lần tết đến lại chứng kiến những mùa hoa mai nở ra trước khoảnh sân nhà. Nhưng lạ thay, cứ như mỗi lần hoa nở thì không chỉ làm đẹp thêm cho ngôi nhà mà còn hun nên sức lực cho cả gia đình. Tôi nghiệm ra rằng, cái thế đứng của cây mai nhà mình là một thế võ hiên ngang trước cuộc đời.
Xưa Cao Bá Quát nói một câu bất hủ “nhất sinh đê thủ bái mai hoa”, ông cúi đầu ngưỡng vọng hoa mai; còn tôi, xin “nhất sinh đê thủ bái chi mai”, tức ngưỡng vọng cái thế uốn của nhành cây cho hoa vào mỗi mùa xuân.
1. Cây mai nhà tôi được ông nội trồng giữa sân, thú chơi cây kiểng của người lớn tuổi là thế, thích đặt chính diện. Trồng mai ở chỗ ấy gọi là “gầy mộc chính tâm” theo quan điểm Ngũ hành của Triết học Đông phương. Con đường dẫn ngõ lối nhà đi qua độ dăm chục bước chân thì chạm phải dáng cây đứng chắn lại, ở đó lối vào nhà được rẽ theo hai hướng, “nam tả nữ hữu”, đàn ông con trai đi vào bên trái, đàn bà con gái đi vào phía bên phải. Cây mai trồng như thế cũng là để chắn lại một khoảng không trước căn bảy chính diện của bàn thờ tiên tổ. Tán cây xoè ra như một chiếc khán liễn người ta vẫn dùng để đặt trang trọng trước bàn thờ vong linh nhằm tạo sự trang nghiêm tôn kính.
Người Nhật yêu hoa đào và chơi đào theo kiểu bonsai, trồng trong các chậu kiểng nhằm động viên con người sức sống bền bĩ mãnh liệt. Người Việt mình quý cây mai và đơn giản chỉ để vui cửa vui nhà; hay nói theo kiểu dân gian là “cây có cội, nước có nguồn”  thì trồng mai với hàm ý nhắc nhủ con cháu luôn nhớ đến tổ tiên gốc tích.
Độ vào giữa tháng mười một âm lịch, tôi lại được ông nội giao nhiệm vụ thay áo lá cho cây mai, thực ra là mình chỉ cởi áo lá cho cây mà thôi. Tôi trèo lên nhánh cây, vừa đưa tay ngắt lá vừa hát “thương nhau cởi áo í à cho nhau...”và cô bé Mùa xuân đứng ở phía giêng hai khúc khích cười e thẹn. Một ngọn gió đông thoáng tạt về se se lại cái lạnh bùi bùi. Chiều dựng lên cột khói vẽ vòng trắng loan loan mái nhà quê.
Với tôi, dường như hái lá mai là công việc đầu tiên để chuẩn bị cho một cái tết cổ truyền dân tộc. Thời điểm hái lá rất quan trọng bởi nó quyết định đến ngày bật nở và sắc màu của những bông mai. Hái lá, thứ nhất là vì mùa đông lạnh lẽo nên cần tập trung tất cả năng lượng sống vào thân cây và búp; thứ hai là để những chồi búp được đón nhiều hơn ánh nắng mặt trời hiếm hoi của mùa này. Lâu thành quen, dần dà tôi rút ra được kinh nghiệm thế này: hễ năm nào trông trời âm u mà những chồi búp nhỏ quá thì nên hái sớm, cỡ đầu tháng mười một; ngược lại, cứ năm nào có nắng nhiều thì để muộn hơn mới hái.
Mấy năm liền cây mai nhà tôi trổ hoa đúng dịp tết, ngày nguyên đán cả cây rực một màu vàng đồng loạt. Ông nội tôi khen thằng này có mắt nhìn cây! Người trong làng thấy vậy năm sau cũng học theo, cứ hễ thấy tôi leo lên cây hái lá thì y chang thằng bé con hàng xóm cũng leo lên cây nhà nó. Nhưng đặc điểm mỗi loại mai một khác, lại còn phải nhìn độ chín của búp mầm để điều tiết thời điểm tróc lá. Coi mai là một thú chơi chuyên nghiệp của người nhà quê thì chỉ ở khía cạnh này đã có thể khẳng định lại một câu cùng tiền nhân, rằng “nghề chơi cũng lắm công phu”.
2. Nhưng chơi ở mức độ đó là chơi phóng đãng, chơi vì cái đẹp của hương sắc; còn để chơi theo kiểu bậc chí nhân quân tử thì phải bắt nó uốn theo ý mình. Người xưa có câu “uốn cây từ thuở còn non/ dạy con từ thuở con còn ngây thơ”, tức ngay khi gầy nên một gốc mai con con thì đã bắt đầu uốn cho nó một tư thế. Ông tôi chuộng võ thuật, nhờ thế mà gốc mai này ngay từ ngày mới đưa trên Khe Sanh về ông đã “dạy” cho nó một tư thế đứng, nói theo ngôn ngữ nhà binh là “truyền pháp”.
Uốn nắn một nhành cây non cũng như rèn võ cho một đứa trẻ con, vừa dễ mà lại vừa khó. Dễ là vì cây còn non nên uốn sao nó đi như vậy. Còn khó là vì phải cẩn trọng chứ không sẽ làm cho cây chết non bởi quá sức chịu đựng. Tôi đã từng trực tiếp giúp những môn đệ Thiếu Lâm xạc chân ép sát xuống mặt đất, độ tuổi dưới mười lăm thì rất dễ; còn cỡ trên dưới hai mươi thì ép chảy nước mắt không xuống được, do các gân dây chằng đã căng cứng. Nhiều môn đệ lớn tuổi mới đến võ đường, cách duy nhất để ép xạc chân là cho uống cà phê kích thích thần kinh cơ bắp và dùng chính dây đai võ buộc vào chân rồi kéo. Uốn một cây mai đã lớn cũng như thế, phải tưới thật nhiều nước cho cành cây mọng mềm đi, rồi dùng dây buộc vào những nhánh cần nắn, cứ mỗi ngày lại nhích gằng dây một tí. Nhưng quy luật muôn đời vốn có giới hạn, cái gì ép quá mức thường không hay, ta muốn uốn mai đẹp thì phải uốn từ lúc nhỏ. Lối uốn mai đó chính là cách trao truyền võ thuật theo kiểu gia truyền, dạy từ nhỏ lên.
Trong gia tài võ thuật cổ truyền Việt Nam có bài Lão Mai Quyền, từ năm 1994 đã được Liên đoàn chọn làm bài quyền quy định chung cho tất cả các môn phái. Bài quyền này dựa vào thế uốn và cốt cách của cây mai mà phân bộ. Ngắm những điệu tác mềm mại của võ sinh, tưởng chừng như có cây mai đang đẫy trong mình một sức sống tiềm tàng dù cho “lão mai độc thọ nhất chi vinh” - ấy là câu thiệu đầu tiên trong bài quyền Lão Mai, đại ý cây mai già chỉ có một nhánh tươi xanh. Chỉ một nhánh còn tươi sót lại ấy thôi, nhưng đã hàm chứa sinh lực phồn phát đủ đi qua mùa đông và đâm hoa trẩy lộc vào mùa xuân mới....
 

« 4950515253 »

Dự thảo
tư tưởng Hồ Chí Minh
Du Lịch Quảng Trị

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

24/01

25° - 27°

Mưa

25/01

24° - 26°

Mưa

26/01

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground