Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 12/02/2026 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Người & đất quê hương

 Câu chuyện về gia đình ông Hồ Tri Tân vào hoạt động Cách mạng ở Nam Kỳ

19/08/2023 lúc 16:57






V





ào những năm 1929-1930 phong trào cách mạng sôi sục ở tỉnh Quảng Trị, mật thám Pháp và Nam triều thẳng tay đàn áp, nhiều chiến sĩ cách mạng bị bắt bớ, tù đày, tra tấn dã man, dân ta lâm vào cảnh có một cổ hai tròng. Trong hoàn cảnh đó, ở thôn An Lộng (nay xã Triệu Hòa), anh cả là Hồ Tri Tân đã được giác ngộ cách mạng cho là vào Nam Kỳ (thuộc địa Pháp) nơi dân chủ có nới lỏng hơn nên năm 1931 quyết định đưa cả gia đình vào tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu làm ăn và hoạt động cách mạng. Cùng đi là hai em trai Hồ Trị Hạ (Hồ Thẻo) và Hồ Ngọc Chiểu.
Ông Tân mở một xưởng gỗ có vài công nhân để che mắt mật thám trong là cơ sở cách mạng, lập chi bộ Đảng có 3 đảng viên là Tân, Lạng và Phạm Ngọc Cừ (bí thư), quan hệ với giới thợ thuyền và các nhóm cách mạng khác. Khi tình hình đã tốt lên, ông tổ chức hội thề với các nhóm cách mạng ở chùa Châu Viên (Bà Rịa - Vũng Tàu), thề tuyệt đối trung thành với lý tưởng cách mạng, giữ bí mật, hoạt động theo từng nhóm để đạt mục đích chung... như treo cờ Đảng, khẩu hiệu trong các ngày lễ lớn của Pháp để cổ vũ phong trào cách mạng v.v... Trong cuốn hồi ký của Hồ Tỵ có những đoạn như sau:
...
 

Nữ thiện xạ số một ngày ấy bây giờ

19/08/2023 lúc 16:57






Đ





ặt chân đến Trung Hải Gio Linh khi nắng chiều đã xuồi xuội vàng trên những triền cỏ ven sông. Ngôi nhà nhỏ sâu hun hút phía cuối làng Xuân Long đang soi mình hiền hòa xuống dòng sông Bến Hải. Vùng quê bình dị yên hàn như bao vùng quê khác giữa một huyện Gio Linh ngút ngàn màu xanh cây trái đang phát triển từng ngày. Nhưng với tôi lại có lý do để đến nơi đây một lần nữa. Bởi trước đó, trong một lần cùng đồng nghiệp đi thực tế được ông Bí thư Đảng ủy xã giới thiệu khá đặc biệt về một nữ y tá thôn gần bốn mươi năm chữa bệnh cứu người, 9 lần được Đảng và Nhà nước phong tặng Dũng sĩ diệt Mỹ và nhiều Huân, Huy chương khác… Vâng! Người tôi muốn nhắc đến đó là bà Hoàng Thị Chẩm nữ xạ thủ số một bên bờ sông tuyến năm xưa.
Tuổi nhỏ nhưng chí lớn.
Sinh ra và lớn lên trong gia đình  giàu truyền thống cách mạng; cha bị bọn địch bắt ở tù, mẹ làm cơ sở nuôi dấu cán bộ cách mạng, hai chú ruột hy sinh trong kháng chiến và cô ruột là bà mẹ Việt Nam anh hùng.........
 

Ký ức sơn tràng

19/08/2023 lúc 16:57







V





ừa chuyển phát nhanh cái hợp đồng xuất bản đầu sách “Làng nghề truyền thống Quảng Trị” ra cho Văn phòng dự án công bố tài sản Văn nghệ Dân gian Việt Nam thì nhận được cú điện thoại của bố tôi hỏi, gửi chưa? Tôi bảo, gửi rồi và chẳng thấy ông dặn dò gì thêm nữa. Nhưng ngày hôm sau ông bảo: Tiếc quá, ngoài 24 làng nghề truyền thống tiêu biểu đã viết, vẫn còn một số làng nữa. Có những nghề đã thất truyền nhưng không ghi chép nó lại vẫn thấy như mình là người có lỗi. Tôi buột miệng hỏi: Còn nghề gì nữa? Ông bảo: Sơn tràng, đóng cối xay…Và chỉ chờ có thế, ông lệnh cho tôi đi viết bổ sung.
Tôi có chút may (mà nói xui cũng được), là hầu hết bản thảo các đề tài, hết đề tài này đến đề tài nọ (trong đó có 24 làng nghề truyền thống kia) ông đều giao cho tôi vi tính. Có làng nghề ông đi thực địa hai, ba lần; có làng ông đi trong một buổi, sau chỉ thấy ông bổ sung tư liệu trên điện thoại bàn. Các thầy ở học viện báo chí dạy chúng tôi rất kỹ 3 công đoạn để ra một bài báo là đọc, đi và viết. Tôi thấy viết cái gì bố tôi cũng đọc rất kỹ, rất nhiều nguồn tư liệu đã có, song cái việc đi và viết của ông thì chớp nhoáng quá, tài tử quá. Biết việc đi viết bổ sung thêm vài làng nghề lần này là không từ chối được nên tôi đánh liều hỏi: Tư liệu ở đâu? Ông nói gọn lỏn: Vô làng! Và ông bổ sung thêm vào 3 công đoạn sản xuất ra một bài báo mỗi một từ “định hướng”: đọc cũng định hướng, đi cũng định hướng, viết cũng định hướng. Suốt ngày ngồi đọc lung tung trên mạng thì được cái gì; đi thực tế mà thiên tung mang nai thì rồi sẽ đi đâu về đâu, và viết “dây cà ra dây muống” thì chẳng viết cho ai, viết để làm gì cả!...Tôi đã về làng trong tâm thế như vậy.                                                
Làng tôi có cái tên Nôm rất kêu là làng Đại, nay là KP. Đại Áng, P. Đông Lương, Tp. Đông ........
 

Nghề làm giấy ở làng Phổ Lại

19/08/2023 lúc 16:57

Làng Phổ Lại nằm bên bờ Nam của Hói Sòng, trên địa phận hành chính thuộc xã Cam An, huyện Cam Lộ; phía Đông giáp làng Kim Đâu; phía Tây giáp làng An Bình; phía Bắc giáp làng An Xuân và Cẩm Thạch; phía Nam giáp làng Cam Lộ. Phổ Lại là một làng được hình thành khá muộn so với nhiều làng vùng Cam Lộ, Đông Hà vào khoảng giữa thế kỷ XVI. Công lao khai khẩn, dựng đặt hương hiệu thuộc về họ Nguyễn có gốc từ vùng Hải Dương ngoài Bắc.

Một lần nữa gọi tên Quảng Trị

19/08/2023 lúc 16:57

LTS: Từ ngày 7 đến 29 -5 -2011, nhà thơ, giáo sư Bruce Weigl (tác giả Sau mưa thôi nã đạn, Nguyễn Phan Quế Mai biên soạn và chuyển ngữ, NXB Trẻ 2010) sẽ trở về Việt Nam để giao lưu và nói chuyện về văn chương đương đại Mỹ ở một số trường đại học.
Trong hơn 20 năm qua, giáo sư Bruce Weigl đã giới thiệu cho hàng ngàn sinh viên và công chúng Mỹ về văn hóa, lịch sử và văn học Việt Nam với mong muốn mở rộng góc nhìn của họ về đất nước Việt Nam giàu bản sắc văn hóa.
Giáo sư Bruce Weigl đã được Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật ViệtNam và Hội Nhà văn Việt Nam trao Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp văn học nghệ thuật” (2010).
Ngày 25 tháng 12 năm 2010, giáo sư Bruce Weigl đến Quảng Trị và sau chuyến đi ông đã có bài viết này. CV trân trọng giới thiệu bài viết của ông





C





hiếc xe buýt cồng kềnh lao đi trong màn đêm, bỏ lại sau lưng tôi Hà Nội và những ngôi nhà sáng choang ánh đèn, những dòng người hối hả.
Màn đêm xung quanh dần tối thẫm, chỉ trừ ánh đèn mờ trên xe, đủ cho tôi thấy những khuôn mặt bình thản ngái ngủ của những người Việt Nam. Lòng tôi bồn chồn lo lắng. Tôi sắp phải đối diện với quá khứ đau đớn nhất của mình: Quảng Trị.
Gần bốn mươi bốn năm trước, vào năm 1967, tôi đã đặt chân đến Quảng Trị cùng với những người lính Mỹ trong Lữ đoàn kỵ binh bay số 1. Là một chàng trai 18 tuổi, tôi không nghĩ nhiều đến chiến tranh và cái chết. Tôi đến Việt Nam với một ý nghĩ giản đơn rằng sẽ sớm trở về nhà nếu tôi cẩn trọng và khi tôi trở về, quân đội sẽ trả tiền cho tôi học tiếp.
......
 

Đi tìm o Diệp Gio An

19/08/2023 lúc 16:57






T





rong phương ngữ quê tôi, người ta dùng từ o (cô) để xưng hô lễ phép đối với một phụ nữ đứng tuổi (chưa già nhưng không còn trẻ). Lại cũng có một cách dùng thân mật hơn, đó là xưng gọi với các em gái, bạn gái thân thiết. Bởi thế, tôi cảm cái cách gọi o Diệp của CCB Đặng Ngọc Sỹ trong mẩu hồi ký ngắn, chân thật và cảm động của anh về nữ du kích Gio An.
Khi nhận được mẩu  hồi ký do anh gởi đến, tôi đã đọc rất chăm chú, và đọc đến mấy lần, tình cảm của người lính sâu sắc và cảm động, tấm gương hy sinh tuổi xuân của các o du kích tuyến lửa hiện lên chân thành mà lạc quan…
"…Chúng tôi vượt bến Cẩm Sơn lúc chập choạng tối, tiếng ùng oàng của pháo nổ gần xa không ngớt. Mùi thuốc nổ trộn lẫn với mùi lá cây tươi dập nát, mùi bùn đất mới lật lên, mùi khét của bom na-pan... hỗn hợp khó chịu. Cách sông Bến Hải phía Nam thượng nguồn chừng 500m, trung đội tôi được bổ sung 2 cô du kích dẫn đường. Dưới ánh trăng mờ, mọi người đều thấy 2 cô mặc bà ba đen, cũng ba lô con cóc, súng AK, thắt lưng mắc lựu đạn, băng đạn, bi đông nước và túi vải đựng cơm vắt; người nhỏ gọn, tiếng nói nhẹ nhàng, rất trẻ làm tôi quên đi mọi nỗi nhọc nhằn của cả tháng hành quân xa. Mới 17-18 tuổi thôi, nhưng ở đây, nơi chiến trận, các cô đã quen phòng tránh, già dặn những kinh nghiệm chiến đấu với quân thù trên đất quê hương.
Sau khi "B trưởng" giới thiệu, một trong 2 cô nói nhanh: "Em tên là Diệp, còn o ni là Lễ, vào đây gần địch rồi mấy eng nghe tụi em. Không được ở đây lâu vì địch hay dùng bom tọa độ và cối từ đồn bắn cầm canh vu vơ. Mỗi người cách nhau 5 mét! Đi theo chúng em! Nào ta bắt đầu!”.
Chúng tôi lại xốc ba lô, đeo súng đạn lên người. Diệp còn nói thêm: "Nếu gặp địch, bọn em có nổ súng, mấy eng mới được đánh nghe!".
Thế là chúng tôi lại hành quân. Qua làng An Nha, chúng tôi đến địa điểm chốt. Nói là làng nhưng kẻ địch đã đốt trụi nhà cửa. Trâu, bò, lợn, gà chạy cả vào rừng. Dân chúng một số chạy ra Vĩnh Linh, số còn lại bị chúng nhốt vào các ấp chiến lược ở tuyến trong. Tất bật suốt đêm đào bới, mờ sáng chúng tôi đã có hầm được ngụy trang cẩn thận chờ địch. Trước lúc trở lại dẫn đường cho đơn vị khác, Diệp và Lệ còn đi từng hầm bắt tay và chúc chúng tôi lập công diệt cho được giặc Mỹ trên mảnh đất này. Cầm tay Diệp ấm áp, mảnh mai, tôi biết mình đang lớn.
…Chiến tranh kết thúc đã gần 40 năm, tôi đã được điều trị, an dưỡng, mang trên mình thương tật 81%. Cũng như nhiều thương binh khác, về quê hương tôi có tổ ấm gia đình, có vợ hiền đảm đang, có con ngoan chăm học. Được nhìn đất nước tự do, đổi mới, tôi bắt đầu tìm kiếm đồng đội sau chiến tranh, những tình cảm đã bên mình theo Đảng từng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Nhiều đồng chí đã ngã xuống trên quê hương Quảng Trị anh hùng mà mãi cho đến nay chúng tôi không sao quên được những phút giây bồi hồi thương xót. Những anh chị ấy để lại danh thơm cho đất nước. Số bị địch bắt tù đày, số bị thương như tôi, số anh em nguyên vẹn thì như hạt gạo trên sàng, thành cán bộ, sĩ quan, thành công nhân viên chức nhà nước. Mỗi người mỗi ngả, khắp mọi miền của Tổ quốc thống nhất. Mỗi khi được gặp mặt trong ngày truyền thống của đơn vị anh hùng năm xưa, gặp đồng chí nào của thời kỳ “ăn cơm Bắc, đánh giặc Nam”, tôi cũng hỏi:
- Có nhớ Diệp Gio An ngày ấy không?
 ( Đi tìm o Diệp Gio An, Đặng Sỹ Ngọc)
Tôi hiểu trách nhiệm của mình là… tìm ra o Diệp, để hoàn tất chuyến "đi tìm..." của người CCB - thương binh nặng ấy, với sự đồng cảm và tri ân đối với những người như o Diệp và các anh.

Trong tài liệu lưu trữ của văn phòng UBND xã Gio An, huyện Gio Linh, tôi tìm thấy danh sách của những người dân quân, du kích qua các thời kỳ hiện còn sống,  nhưng không có tên o Diệp....
 
 
 

Xin thầy cô hãy dạy cho em viết đúng chính tả tiếng Việt

19/08/2023 lúc 16:57






M





ột thực trạng chung trong nhiều năm qua kéo dài cho đến hôm nay, đối với người Quảng Trị, đó là lỗi viết sai chính tả tiếng Việt. Không phải tất cả, nhưng đa số người Quảng Trị đều mắc lỗi này, đến nỗi có người nói vui hễ cứ đọc bài nào sai chính tả nhiều thì đó là của người Quảng Trị. Bài viết này không phải là chuyện “vạch áo cho người xem lưng” mà chỉ là góp ý kiến nhỏ cùng quý thầy cô đang làm công tác giảng dạy ở tỉnh nhà, âu cũng là một việc làm cần thiết nhằm giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt hiểu theo nghĩa rộng.
1. Do đâu mà viết sai
Gần đây tôi có vào đọc bài của một số người Quảng Trị trong các forum (diễn đàn) và blog (nhật ký cá nhân), đây là hai dạng thức của thế giới mạng tin học (internet). Vào những trang đó, thấy bà con chúng ta viết sai lỗi chính tả quá nhiều. Đôi khi tôi ngồi tủm tỉm cười một mình, nhưng rồi lại thấy buồn.
Thời đi học ở trường làng, trường huyện, tôi và bạn bè thường viết sai chính tả, lúc đó cứ nghĩ sai là do mình mới học ít chưa biết. Nhưng đến mãi khi vào đại học thì cái sai này vẫn còn, nhiều người ra trường đi làm việc vẫn chưa khắc phục được. Lỗi viết sai chính tả cứ bám dùng dằng dai dẳng như con đỉa, mà đối với người Quảng Trị đi làm ruộng thì đỉa không phải là điều đáng sợ (!). Một nét tính cách thuần hậu đáng quý của người Quảng Trị đó là chịu đựng và chấp nhận. Nhưng cũng chính cái sự dễ dàng chấp nhận này mà lỗi chính tả, thành ra cũng “ừ thì kệ nó” luôn.
Lỗi sai chính tả dễ thấy nhất đó là viết nhầm giữa dấu hỏi với dấu ngã (dấu thanh). Cái sai này là sai chung của người Việt mình, nhưng Quảng Trị vẫn nặng hơn cả. Có người viết tên tỉnh Quảng Trị thành ra Quãng Trị, viết tên sông Thạch Hãn thành Thạch Hản, viết tên di tích lịch sử Nghĩa Trang Trường Sơn thành Nghỉa Trang Trường Sơn... Cái sai này đã chạm vào những tên riêng thiêng liêng của quê hương. Thiết nghĩ, viết như thế là đáng trách.
Bây giờ ra đường, nhìn các biển hiệu ở quán xá dịch vụ, ta dễ dàng bắt gặp rất nhiều lỗi chính tả. Đấy là những cái sai ngờ nghệch, ngớ ngẩn, buồn cười, thậm chí thô thiển. Chẳng hạn có nhiều quán sửa chữa xe máy đề biển “sữa Honda”. Giả sử có một người khách nước ngoài tra từ điển, chắc sẽ thốt lên là ở nước Việt có một loại sữa uống mang hiệu Honda. Hoặc nhiều quán đề biển “sữa chửa”, thì nó có nghĩa là sữa của bà mẹ đang mang thai.
Có lần tôi đọc được câu văn thế này trên trang blog của một người Quảng Trị: “Tôi rất quý mến nhà văn Hoàng Phũ Ngọc Tường”. Quý mến nhau mà thế à? Quý mến nhau mà đến cái tên người ta có mỗi một dấu chữ cỏn con cũng để sai. Ai cũng biết chữ “Phủ” (dấu hỏi) có một nghĩa rất đẹp mà có lần Nguyễn Trọng Tạo thắc thỏm thì Hoàng Phủ trả lời rằng chữ “Phủ” đó đại khái là một cái nhà chứa sách hay tiền bạc gì đó. Còn khi viết chữ “Phũ” (dấu ngã) thì thành ra một nghĩa chẳng có gì hay ho, thậm chí là xấu. Cái sai này tuy không thiêng liêng như sai tên địa danh quê hương, nhưng lại chạm đến vấn đề tình cảm mà đôi khi rất dễ làm mếch lòng nhau. Trong các blog đều có phần viết góp ý và khổ chủ trả lời góp ý đó. Một hôm nhà thơ Hữu Kim vào trang blog của một người Quảng Trị mình, ông nhà thơ viết tên rõ ràng là Hữu Kim. Thế mà ngay kế đó khổ chủ trả lời lại viết “anh Hửu Kim thân mến!”. Thân mến mà thế à? Thân mến mà đổi luôn cái tên có vẻ sang trọng quý phái của người ta thành ta một chữ hình như chẳng có nghĩa gì cả....
 
 
 

Chị và em

19/08/2023 lúc 16:57






H





è 1968
Nhà mình ở Bố Trạch, Quảng Bình. Chiến tranh phá hoại do không quân Mỹ thực hiện ra miền Bắc ngày càng khốc liệt, sự sống được tính bằng ngày. Mạ và năm chị em sống trong một căn hầm chữ A làm bằng gỗ, tre tháo từ căn nhà lợp rạ cạnh căn hầm của Hội nhà báo tỉnh Quảng Bình. Mỗi lần bọn “Thần sấm”, “Con ma“ Mỹ nhào lộn ném bom xuống cầu sắt và cầu đường bộ bắc qua sông Dinh nối hai bờ Nam Trạch và Đại Trạch thì mạ và chị dồn các em vào một góc hầm rồi choàng tay ôm như muốn che chắn. Em chuồi  ra khỏi vòng tay mạ lao tới cửa phụ của căn hầm trồi người lên và đếm: hai quả, bốn quả!. Những quả bom đen trũi lao vun vút rồi một loạt tiếng nổ trầm đục cùng những đụn khói đen cuộn lên. Mạ nhào tới kéo chân em: “xuống đi, xuống đi con, mạ xin!” Chú Phan Văn Khuyến - nhà báo, qua hầm nhà mình nói: “Chị cho mấy đứa qua bớt hầm tụi em, như thế thì tốt hơn.” Lần nào mạ cũng phân trần: “không được mô chú, ông nhà  tui bộ đội ở xa, hai đứa lớn thì đang học trường học sinh miền Nam ngoài Bắc. Năm đứa ni ở với tui, mạ con phải ở chung một hầm. Nếu có phúc thì cùng sống, lỡ có xui thì cùng chết chứ chia ra không may mạ chết con ở với ai, còn nếu không may nữa  con chết, mạ sống làm chi, ngày ông nhà tui về, tui ăn nói làm răng?
Có lẽ ba rất hiểu mạ, nên từ Nam Đàn, Nghệ An nơi Bộ tư lệnh Quân khu Bốn đóng quân, ba nhờ các chú bộ đội có dịp ghé thăm và bàn với mạ bố trí cho chị và em ra Nghệ An với ba. Lúc này người dân Quảng Bình, Vĩnh Linh cũng đang lũ lượt sơ tán khỏi vùng đất "tọa độ chết" ra Tân Kỳ (Nghệ An), Thọ Xuân (Thanh Hóa)... Mạ đồng ý, vậy là em - lúc đó 12 tuổi và chị 18 tuổi đã có một chuyến đi bộ ra Hà Tĩnh, để từ Hà Tĩnh đi tiếp ra Nghệ An. Chuyến đi dưới bom đạn của tàu bay và pháo hạm Mỹ đầy nước mắt và khổ cực. Em còn nhớ cái buổi chiều chị em mình đi qua đèo Ngang, trời mưa lất phất, nhìn xuống bên tay phải, vực sâu hun hút nhìn lên bên trái vách núi dựng đứng. Một cây ổi mọc ngay lề đường với vài ba trái xanh, nhỉnh hơn ngón chân cái, em dừng lại hái, chị chạy lui kéo tay em “đi thôi em, đứng lại là chết, pháo Mỹ ngoài biển sắp bắn vô rồi” “em đói lắm chân em chảy máu không đi được nữa mô“, “vậy để chị cõng”, “nhưng chân chị cũng chảy máu tề, thôi để em đi”…
 Sau gần một tuần hai chị em cũng đã đến được Thạch Hà (Hà Tĩnh) và tạm trú ở đó chờ tin Ba. Những ngày thiếu thốn và đói khát "cơm vừng một bát" bắt đầu…
Xuân 1975
Ba đang là Đoàn trưởng Đoàn 200 – Quân khu Bốn, Mạ và ba em sau mấy năm ở Thanh Chương đã chuyển về Quỳnh Lưu - Nghệ An. Chị đã tốt nghiệp Đại học sư phạm Hà Nội và đang làm giáo viên ở Trường cấp 3 Thuận Thành, Hà Bắc. Cuộc chiến tranh chống Mỹ đang ở giai đoạn quyết liệt, ngày toàn thắng đang đến gần. Cả miền Bắc dồn hết sức người, sức của cho trận chiến đấu cuối cùng giải phóng miền Nam. Em đang là sinh viên của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội viết đơn xin nhập ngũ với một tâm niệm cháy bỏng được tham gia giải phóng quê mình. Chị hay tin, tìm đến khu ký túc xá của trường Tổng hợp ở Thanh Xuân thăm em trước ngày em lên đường, đặt vào tay em một ít tiền và tờ giấy trắng có bốn câu thơ của chị:...
 
 

Đất rừng xanh thắm

19/08/2023 lúc 16:57






C





ánh đồng Già – Voòng của xã miền núi Vĩnh Trường, huyện Gio Linh trông giống như chiếc quạt xòe ra hai bên đại lộ Hồ Chí Minh chạy từ thị trấn Bến Quan huyện Vĩnh Linh vượt sông Bến Hải rồi vươn xa vào phía Nam. Ít ai đồ rằng trên những lối mòn lịch sử xuyên dưới những cánh rừng đại ngàn còn in dấu chân của các nghĩa sĩ Cần Vương hơn 100 năm trước, hay vết xích xe tăng của những binh đoàn chủ lực tiến vào giải phóng miền Nam nay đã trở thành một đại lộ thanh thang mang tầm cỡ thời đại. Những ngọn đồi bát úp với những tên gọi nghe huyền bí như tên gọi của một thời tiền sử như Xà Luộc, Leng Keng, Vơng Vơng… nay đã thức dậy với màu xanh bạt ngàn của cao su, hồ tiêu, cây ăn quả, rừng nguyên liệu… Thấp thoáng trong sương sớm là nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn - tượng đài bất tử của khát vọng thống nhất non sông của dân tộc Việt Nam với hơn một vạn cán bộ chiến sĩ của khắp mọi miền đất nước về yên nghỉ giữa đất rừng của Vĩnh Trường. Xa hơn chút nữa là những thôn bản bình yên của đồng bào dân tộc Vân Kiều với những ngôi nhà ngói, nhà xây và những ngôi nhà sàn cất theo lối kiến trúc truyền thống của người xứ núi. Buổi sáng, tiếng chim quyên quy giục giã cỏ non nhú lá, mấy chú dê non tung tăng dưới ánh mắt trời. Trên khắp các ngã đường của thôn bản tấp nập các em học sinh người Vân Kiều cổ quàng khăn đỏ tung tăng cắp sách đến trường như vẽ vào bức tranh buổi sớm của xã miền núi Vĩnh Trường một gam màu mới…
 Cô giáo Hường – quê vùng sông nước Gio Việt, đến năm học 2010 – 2011 đã có năm năm thâm niên cắm bản. Năm 2006, tốt nghiệp Trường cao đẳng mẫu giáo mầm non Đà Nẵng, trở về Gio Linh cô tình nguyện lên nuôi dạy các cháu con em đồng bào dân tộc Vân Kiều xã Vĩnh Trường. Đến nay cô giáo Hường được xem là con em của dân bản, với thói quen chạy xe máy vượt đèo Kù Rang để vận động bà con dân bản cho con em đến trường, hoặc thăm nom các cháu bị ốm phải nghỉ học. Và hôm nay cũng như mọi ngày, cô giáo Hường lại chuẩn bị một ngày đến lớp trên chiếc xe máy đã tróc hết màu sơn. Trước cô giáo Hường đã có nhiều thế hệ giáo viên miền xuôi lên dạy cái chữ Cụ Hồ cho đồng bào dân tộc Vân Kiều của hai xã miền núi của huyện Gio Linh, trong đó có xã Vĩnh Trường. Nhiều người trong số họ đã mãi mãi nằm lại với đất rừng vì sốt rét ác tính, vì bom đạn còn sót lại của chiến tranh. Dân bản thường bảo:
- Người Vân Kiều học được cái chữ của Cụ Hồ như con chim bay giữa trời.
Quả đúng như vậy thật!
Nhờ học được cái chữ của Cụ Hồ nên nhiều đồng bào dân tộc Vân Kiều của xã miền núi Vĩnh Trường như ông Hồ Vê, Hồ Hà, Hồ Hằng, Hồ Pừng… không những nhận thức được lý tưởng cách mạng, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, kiên cường bám trụ đánh Mỹ đến ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất Tổ quốc, mà còn trở thành những cán bộ đảng viên gương mẫu được dân quý, dân tin. Sau ngày quê hương được giải phóng, được học cái chữ của Cụ Hồ, nhiều con em của dân bản như Hồ Văn Sơn, Hồ Thị Lam, Hồ Hải Sâm, Hồ Thị Mừng, Hồ Thị Hiền… không những trở thành điển hình sản xuất giỏi làm gương cho đồng bào dân tộc Vân Kiều noi theo mà còn trở thành những cán bộ chủ chốt của địa phương, lãnh đạo dân bản đổi mới sản xuất để xây dựng quê hương ngày một thêm giàu đẹp. Đặc biệt, nhiều con em của đồng bào Vân Kiều xã Vĩnh Trường còn phấn đấu thi đỗ vào các trường Đại học, Cao đẳng. Nhiều người trong số họ đã trở thành kỹ sư lâm nghiệp, giáo viên, nhạc sĩ. Trong lần về thăm quê hương, Hồ Thị Khai tốt nghiệp trường Cao đẳng văn hóa Hà Nội đã sáng tác bản nhạc nền cho điệu múa Tạc Xình truyền thống của dân tộc mình. Điệu múa Tạc Xình là tiết mục văn nghệ được cán bộ, đồng bào Vân Kiều các xã miền núi yêu thích nhất trong các buổi liên hoan văn nghệ mừng Đảng mừng Xuân....
 
 
 

Nghĩ về nghề từ một chuyến đi

19/08/2023 lúc 16:57






N





hư một tất yếu: Khi đã cùng sống, cùng sẻ chia trong gian khó thì sự cảm thông và gắn bó thường rất sâu đậm. Ta gặp điều đó khi nhà thơ Hữu Thỉnh viết bài thơ tặng thầy mình nhân ngày 20 - 11, có đoạn:
… Đời mau quá, tóc thầy khói phủ
Giáo án mong manh, bão giật đời thường
Cây trước cửa, gió ở ngoài trang vở
Thầy một mình vật vã với văn chương
Đang mưa bão, đường về ngập nước
Giở trang Kiều thầy giảng, chạnh lòng đau!
Thương cái đau của Thúy Kiều, từ sự liên tưởng, nhà thơ “chạnh lòng đau” cho thầy mình giữa đêm lạnh “vật vã” với giáo án cùng những gian khó thường nhật. Tôi không có vinh dự được dạy nhà thơ nhưng cũng là thầy giáo ở thời điểm nhà thơ Hữu Thỉnh là học trò nên với những gì đã trải nghiệm, tôi hiểu được nỗi lòng của thế hệ học sinh “mang mũ rơm đi học trên đường dài” của bốn mươi sáu năm trước. Đúng là đã có “một thời bom đạn”, “khoai sắn qua ngày” mà tình thầy trò thật đẹp!
Tháng 11 năm nay, trong tâm trạng đó, tôi háo hức vượt hơn 700km để về dự lễ kỷ niệm 50 năm thành lập của trường cấp 3 Hạ Hòa – Phú Thọ. Đây là nơi tôi đã dạy và cũng đã học được rất nhiều điều quý giá. Với tôi đây là nơi gắn với hai sự khởi đầu to lớn: Khởi đầu nghề nghiệp với những kỷ niệm sâu sắc và khởi đầu cuộc sống gia đình với những kỷ niệm ngọt ngào. Vì vậy tôi xem mảnh đất trung du này là “quê hương thứ hai” hay nói như Chế Lan Viên:
Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn
Quả thật: Tình đồng nghiệp, tình thầy trò và tình dân đã là một tài sản tinh thần quý giá “kết tủa” trong tôi, một động lực cho tôi đi tới trong những năm tháng sau đó khi đi B, đi K và làm các công vụ khác nhau. Năm tháng đã không thể xóa nhòa kí ức đó.
Ở tuổi đời 50, trường đã có những đóng góp to lớn nên Nhà nước đã trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhì. Từ mái nhà chung này, hàng vạn học sinh đã bước vào cuộc sống, không ít em đã trở thành cán bộ cao cấp, tướng lĩnh, nhà khoa học, danh nhân tên tuổi và biết bao em khác đang là cán bộ, chiến sĩ, người lao động xuất sắc, tin cậy trên các mặt trận. Nửa thế kỷ với một mái trường bị bom Mỹ đánh sập 1965, rồi mười năm phải vượt sông sơ tán vào tận chân núi và rồi mái trường cao tầng to đẹp hôm nay, có biết bao điều xúc động tại nơi này. Lễ kỷ niệm đã được tổ chức trang trọng và thấm đẫm nghĩa tình. Trong hai ngày lưu lại mái trường xưa, tôi được dự nhiều hoạt động và nhiều cuộc tiếp xúc. Đã có thật nhiều xúc động mà cho đến lúc cầm bút viết những dòng này vẫn còn nóng hổi trong tôi. Vì “Niềm vui được chia sẻ là niềm vui được nhân đôi” nên tôi muốn thuật lại một số điều lắng đọng để bộc bạch với mọi người mà chủ yếu là với các đồng nghiệp và học sinh thân thiết của mình....
 
 
 

Tình đồng hương

19/08/2023 lúc 16:57






N





hững ngày cuối năm, trời Sài Gòn se lạnh. Mỗi sáng mai thức dậy, chợt thấy bồi hồi khi những vạt nắng ngoài sân đã pha màu tết, vàng hanh. Mỗi chiều, ngồi nhớ bâng khuâng theo lời gió xôn xao, trên những tàn cây trút lá bên hiên. Chợt buồn. Năm tháng lụn tàn!
Mới đó thôi, mà đã hơn nửa thế kỷ lưu lạc quê người. Trên bước đường trôi nổi khắp phương Nam, không biết bao lần tôi đã gặp những đồng hương để lại trong lòng mình những ân tình thấm đẫm, càng thêm gợi nhớ quê nhà.
Ngày đó, khi còn là chàng trai trẻ. Một hôm có việc phải về Cần Thơ, đến bến bắc Mỹ Thuận thì trời sẩm tối. Phà kẹt từ chiều bởi phải nhường ưu tiên cho đoàn xe nhà binh chuyển quân ra trận. Đang đứng bên cửa sổ, nhìn xuống lòng sông Tiền đục ngầu, mênh mông, nhạt nhòa trong cơn mưa cuối mùa. Bỗng một anh Trung sĩ từ trên một chiếc GMC nhảy xuống, tìm đến nói với người bán thuốc lá dạo: “Bán cho tui 3 đồng, 4 điếu ruby”. Rõ ràng là giọng Quảng Trị không lẫn vào đâu, tôi nghe mà lòng bồi hồi, vội gợi chuyện: “Trung sĩ là người Quảng Trị?”. Không trả lời, mà anh ta hỏi ngược lại: “Anh cũng người Quảng Trị?”. Tôi gật đầu, anh ôm chầm lấy tôi chẳng khác nào bằng hữu thân tình, cách xa lâu ngày mới gặp lại, nét mặt hớn hở như trẻ con:“Trật đi mô được, nghe giọng là biết đồng hương liền”. Anh đốt thuốc và chìa cho tôi một điếu. Rồi kể: “Tui học trường Nguyễn Hoàng, thi rớt tú tài nên bị động viên vào Đồng Đế. Ra trường, chẳng thân thế nên bị đưa về miền Tây làm lính trận”. Té ra, anh cũng cùng huyện Hải Lăng với tôi. Anh ở xã Hải Kinh, còn tôi Hải Dương, cách nhau một cánh đồng cò bay thẳng cánh. Chưa nói được gì thì phà cặp bến. Trước khi nhảy lên xe, hai chúng tôi bịn rịn ôm nhau một lần nữa, ước hẹn với nhau có ngày gặp lại ở quê nhà. Dạo đó làm gì có điện thoại di động như bây giờ, anh nhặt bao thuốc lá dưới sàn phà, xé làm đôi ghi địa chỉ của hai đứa. Tôi còn nhớ như in, anh tên là Trần Lợi, KBC 4496. Đoàn xe chuyển bánh, anh cố ngoái lại, vẫy tay chào tạm biệt đồng hương. Tôi bước lên cầu bắc mà lòng xao xuyến như vừa chia tay với một người ruột thịt, chẳng biết có còn gặp lại hay không! Trở về Sài Gòn, tôi viết thư cho Lợi ngay, trong thư toàn nhắc chuyện quê nhà với lòng hoài hương canh cánh. Tất nhiên, cuối thư tôi không quên cầu chúc cho anh bình an, chân cứng đá mềm. Hơn mười ngày sau, lá thư được chuyển trả lại cho tôi với dòng ghi chú trên phong bì: “Hoàn lại người gởi, người nhận đã tử trận!” Tôi nhớ, lúc đó mình đã cố nén, nhưng nước mắt cứ trào. Thế là Trần Lợi đã hồi hương, anh đã làm một chuyến trở về không hề hẹn trước.
Mười mấy năm trước đây, nhân một chuyến về Hà Tiên công tác. Lúc bấy giờ từ phía núi Tô Châu, nối liền với trung tâm thị xã, còn là chiếc cầu phao bập bềnh trên sóng nước. Buổi chiều, tôi từ khách sạn Đông Hồ thả bộ ra đầu cầu hóng gió thì gặp một anh xe ôm chào mời bằng giọng không Quảng Bình thì cũng Quảng Trị. Hỏi ra, thì đúng đồng hương. Quê quán anh ở làng Nại Cửu, huyện Triệu Phong. Năm 1979, đi nghĩa vụ quân sự, chiến đấu ở mặt trận 479 bên nước bạn Campuchia. Xuất ngũ, định ghé lại Hà Tiên chơi mấy ngày cho biết. Nào ngờ duyên số đẩy đưa, anh bén duyên với một người con gái nơi đây, rồi rứt ra không đành. Thế là thành vợ, thành chồng và ở lại luôn. Tên anh là Lê Trọng Tình, cái tên phản ảnh một cách chính xác với tính cách con người. Tôi rủ anh vào một quán cà phê ven sông lộng gió biển khơi. Anh rớm nước mắt khi nhắc đến thời thơ ấu quê nhà. Những lần sung sướng được mẹ cho đi theo lên chợ thị xã, đôi chân trần bé bỏng chạy lúp xúp sau gánh rau nặng trĩu của mẹ, thế mà lòng vẫn thấy háo hức vô cùng. Ngang qua chùa Tỉnh Hội, anh đã thẩn thờ vì lần đầu tiên được thấy một công trình đồ sộ đến thế. Trước sân chùa, dòng sông Thạch Hãn lượn quanh, trơ đáy những ngày hè rát bỏng ngọn nam Lào. Tình nói: “Ở đây ít đồng hương lắm, nên gặp anh, em mừng hết lớn. Dù anh em miềng mới gặp nhau lần đầu, nhưng em thấy chẳng khác nào ruột thịt. Quê miềng (mình) khổ lắm, nên tha phương mà gặp được đồng hương là không có chi bằng”. Giọng của Tình chân thật và rất đơn sơ. Nghe là nhớ củ sắn, củ khoai, mùi đất bùn đồng cạn. Là nhớ tiếng kẻo kẹt sau lũy tre còm, ngàn đời vang vọng nỗi nhớ không nguôi. Khi không còn giữ kẻ, Tình nói: “Anh cứ ở khách sạn cho thoải mái, nhưng còn ở đây ngày nào cứ ghé nhà em ăn cơm. Mỗi sáng, em sẽ ghé đón anh, muốn đi đâu, em chở đi. Không tiền nong chi cả. Thú thật với anh, trước đây vợ chồng em lo nuôi hai cháu cũng vất vả lắm. Trời thương, năm ngoái em trúng 5 tấm vé số đặc biệt, thế là đổi đời. Nhưng vẫn cứ giữ nghề chạy xe ôm như bình thường để tránh mắt thiên hạ. Có tiền, vừa rồi em đã đưa vợ con về thăm nội. Xây lăng, đắp mộ cho ông bà, không mả đố ả làm nên! Em cũng dựng lại mái nhà cho mẹ em ở với vợ chồng thằng út. Rứa cũng là phúc đức lắm rồi phải không anh”. Tình thật thà như đếm. Hôm đầu tiên ghé nhà anh ăn cơm, tôi có mua chút quà cho hai đứa nhỏ. Đứa con gái lớn được anh đặt tên là Lê Thị Nại Cửu, thằng út là Lê Triệu Phong, chắc là Tình nhớ quê lắm mới đặt tên con như vậy. Người Quảng Trị ở đâu cũng khó lòng mất gốc. Anh ghé vào tai tôi trách móc: “Anh cứ làm khách, anh tới ăn với vợ chồng em bữa cơm là em vui lắm rồi, bày chi quà cáp. Anh biết không, từ ngày lấy vợ đến nay, khách đến nhà em toàn là bà con bên vợ. Năm thi mười họa mới có một người bên mình, toàn là tha phương cầu thực. Chừ được đồng hương là nhà báo như anh đến thăm, em nở mặt nở mày với bên vợ lắm”....
 
 
 

Dư vị đất Sải

19/08/2023 lúc 16:57






N





hững ai đã từng đến chợ Sải chắc chắn sẽ không thể quên vị ngọt cay của kẹo ú, tiếng xèo xèo của bánh khoái, vị bùi béo của bánh đúc, chua ngọt của nem, đậm đà của chả, dẻo ngon của những cái bánh chưng, mùi thơm đặc biệt quyến rũ của nem lụi và cảnhvui nhộn trên bến dưới thuyền với những hàng tôm cá tươi chong. Đó là ký ức của những ngày một trăm đồng mua được mười cái kẹo ú trong tuổi thơ tôi!
Bao nhiêu thế hệ ở quê mình đã lớn lên, nếm được những dư vị của đất và làm nên tên đất. Những dư vị đã theo bao gánh hàng, thuyền buôn ùn ùn toả đi khắp nơi. Từ Triệu Phong vào Hải Lăng, ngược Ba Lòng, lên Cam Lộ, ra Vĩnh Linh, Quảng Bình.
Xưa hơn, chợ Sải còn là trung tâm buôn bán của rất nhiều mặt hàng phong phú. Từ sản vật của các địa phương lân cận như vật dụng làm bằng tre của Phương Ngạn, bún Linh Chiểu, bánh ướt Phương Lang, đậu mè, chuối, rau của Nại Cửu,.v.v. Đến những mặt hàng “xa xỉ” như vải vóc, đồ đồng, dép guốc của các nơi xa mang đến. .............
 

Lễ hội cầu ngư của làng Phú Hội

19/08/2023 lúc 16:57

I. Đôi nét về làng Phú Hội.





P





hú Hội là một làng vùng biển thuộc xã Triệu An - huyện Triệu Phong - tỉnh Quảng Trị. Phía nam giáp làng Hà Tây, phía bắc giáp sông Thạch Hãn và xóm Tuần của làng Hà Tây, phía tây giáp sông Cụt, phía đông giáp biển Đông. Diện tích đất tự nhiên của làng Phú Hội 132 ha, trong đó đất nông nghiệp 28 ha, nuôi trồng thủy sản (tôm và cá) 22 ha, số còn lại là đất thổ cư và đất lâm nghiệp trồng rừng phòng hộ ven biển. Dân số 346 hộ với 1455nhân khẩu.
Phú Hội là một làng hình thành khá muộn so với nhiều làng xã người Việt trên vùng bắc và nam Cửa Việt. Lúc mới thành lập làng có tên là Phường Mành - tên được gọi theo một loại ngư cụ đánh bắt cá nục ở trên biển. Từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII làng có tên là Phụ Lũy (Theo địa bạ của làng lập vào năm Cảnh Trị thứ 7 (1669) dưới thời vua Lê Huyền Tông ghi tên làng là Phụ Lũy. Địa bạ hiện nay do ông Nguyễn Công Liên - Hội chủ làng lưu giữ). Phụ Lũy cũng là tên được Lê Quý Đôn chép trong “Phủ biên tạp lục” . Đến thế kỷ XIX, làng Phụ Lũy đổi thành Phó Hội (Theo Giáp tư địa đồ được lập vào năm 1812 dưới thời vua Gia Long, Giáp tư địa đồ hiện nay do ông Nguyễn Công Liên - Hội chủ làng lưu giữ). Việc làng đổi tên từ Phụ Lũy thành Phú Hội mang nhiều ý nghĩa: Đây là nơi hội tụ sự giàu có để trở thành nơi đô hội, sầm uất; có lẽ lúc này thương cảng Cửa Việt nói chung và tại nhánh sông Cụt trước mặt của làng đã trở thành nơi đô hội - một cảng thị trên sông, là trung tâm thương mại, nơi tấp nập những thuyền buôn bán ra vào neo đậu. Sau ngày đất nước thống nhất, Phó Hội đổi tên thành Phú Hội (1977).
Công lao khai khẩn dựng đặt hương hiệu để hình thành nên làng xóm trên mãnh dất làng Phú Hội thuộc về thủy tổ 4 họ: Đinh, Lê, Trần, Nguyễn có gốc từ vùng Thanh Hóa vào đây lập nghiệp. Tuy nhiên, những người thuộc thế hệ đầu tiên đặt chân đến mãnh đất này là vị thủy tổ họ Đinh (Gia phả họ Đinh đến nay đã 18 đời, họ Nguyễn 13 đời). Hai họ Trần, Lê thế tục ở làng không được bao lâu thì đoản mạch, hiện không còn người nối nghiệp. Những thời kỳ tiếp theo cho đến nay nhiều dòng họ đã nhập cư vào làng, đến nay làng có 13 họ. Cháu con của làng qua nhiều thế hệ vẫn đồng tâm hiệp lực, chịu khó, chịu khổ xây dựng quê hương ngày càng giàu mạnh. 
Để tưởng nhớ công ơn của các vị tiền nhân, các thế hệ con cháu của làng Phú Hội vẫn truyền lưu việc tế tự hàng năm, vào ngày 15/ 6 Âm lịch tế Đại tự cầu an tại Đình làng, ngày 20/ 12 Âm lịch tế các họ không ai thờ tự tại Miếu Hiệp tự và đình làng, ngày 15/2 Âm lịch tổ chức lễ hội Cầu Ngư.
II. Lễ hội Cầu Ngư của làng Phú Hội.
Lễ hội Cầu Ngư của làng Phú Hội được diễn ra vào ngày 15 tháng 2 Âm lịch hàng năm. Đây là lễ hội lớn nhất, quan trọng nhất, là một hình thức sinh hoạt văn hóa, là sản phẩm tinh thần của người dân được hình thành và phát triển để rồi truyền lưu qua nhiều thế hệ. Lễ hội mang những nét độc đáo, riêng biệt của một làng nghề - nghề biển, mục đích lớn nhất của lễ hội là cầu quốc thái dân an; cầu lộc, cầu tài cho con em dân làng, cầu mưa thuận gió hòa với những chuyến xa khơi may mắn.
Lễ hội Cầu Ngư bắt nguồn từ câu chuyện tương truyền: Ngày xưa, có một con cá Ông (cá Voi) khi lụy (chết) trôi dạt vào bờ biển của làng, người dân đem về chôn cất, tôn lên làm thần lập miếu thờ cúng; từ đó trở đi các tàu thuyền con em trong làng khi ra khơi đánh cá đều gặp nhiều may mắn, tránh những tai ương, rủi ro của biển cả, lại gặp những vụ mùa bội thu tôm cá đầy thuyền. Từ đó trở đi việc an táng các loại cá lớn chủ yếu là cá Voi và cá Phớn khi lụy (chết) trôi dạt vào bờ được người dân coi trọng và trở thành tục lệ của dân làng Phú Hội. Theo quy định bất kỳ người dân nào của làng khi bắt gặp Ông lụy đều phải báo để làng đứng ra lo tang lễ, người đầu tiên thấy Ông phải đứng ra làm trưởng nam chịu tang như cháu con thân nhân trong gia đình và phải coi đó là điều may mắn, hạnh phúc, vinh dự của mình...
 

 

Vài nét về kiến trúc và mỹ thuật đình làng Quảng Trị

19/08/2023 lúc 16:57






L





ịch sử Việt Nam nói chung và Quảng Trị nói riêng trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm và để lại những di sản văn hoá có giá trị trong đó có cả văn hoá vật chất và văn hóa tinh thần. Kiến trúc là một dạng của văn hoá vật chất mà ở bất kỳ vùng nào cũng có, đây là dấu ấn ghi lại những điều kiện sinh sống và trình độ phát triển kinh tế  - xã hội của cư dân trong một vùng vào những thời kỳ nhất định.
Ở các công trình kiến trúc nói chung, luôn biểu hiện rõ những đặc điểm riêng của từng vùng và hơn thế nó còn biểu hiện tính cộng đồng văn hoá mà bản thân nó chịu ảnh hưởng trong quá trình tồn tại và phát triển. Quá trình phát triển của đình làng Quảng Trị gắn liền với việc mỡ mang bờ cõi về phía Nam của dân tộc Việt Nam. Đó là quá trình phát huy các yếu tố nội sinh của văn hoá dân tộc mà người Quảng Trị mang theo từ đất Bắc vào nhập cư ở vùng đất mới; đó là quá trình cộng cảm văn hoá mà người Việt Quảng Trị chịu ảnh hưởng trong thời gian chung sống với người Chăm trên vùng đất bản địa của họ. Mặt khác, vì sống trong điều kiện khắc nghiệt nắng lắm, mưa nhiều, bảo lụt triền miên nên kiến trúc đình làng Quảng Trị phải thay đổi để thích nghi với môi trường. Tất cả các tác động và ảnh hưởng trên tạo cho các ngôi đình ở vùng này có những phong cách riêng, những nét riêng biệt từ quy mô, hình dáng bên ngoài đến trang trí nội, ngoại thất.
1.      Vị trí cảnh quan chung của đình làng Quảng Trị.
Xuất phát từ tín ngưỡng dân gian nên cũng giống các công trình kiến trúc khác, từ xưa việc chọn địa điểm và hướng để dựng các ngôi đình là một việc làm hết sức quan trọng đối với mọi người dân làng xã. Việc chọn đất xây dựng đình cần có mặt của các thầy địa lý. Người dân tin và vận dụng khôn khéo thuật “phong thuỷ” để tuân theo chặt chẽ các quy định và tạo ra cảnh quan hài hoà giữa công trình và thiên nhiên. Người xưa coi trọng thuật “phong thuỷ “ vì họ luôn tin tưởng vào sự huyền bí, siêu nhiên, chỉ cần một sơ suất nhỏ thì có ảnh hưởng xấu đến cả cộng đồng dân chúng trong làng:
Toét mắt là tại hướng đình
Cả làng toét mắt một mình chi em.
Đình Quảng Trị thường được xây dựng ở các khu trung tâm, các trục đường giao thông, gần các chợ làng và sông ngòi. Hướng của đình đa phần là hướng chính Nam  (Lấy vợ hiền hoà, làm nhà hướng Nam). Hướng Nam vừa ứng hợp với thuật“phong thuỷ“ vừa thích hợp với khí hậu ở Quảng Trị. Trước mặt đình cần có nước, đặc biệt là các dòng sông uốn khúc, bồi đắp ; theo quan niệm đó là thế “tụ thuỷ”, là nơi hội tụ “linh” và “phúc”. Các ngôi đình ở Quảng Trị đa số đều hướng mặt ra bờ sông, bởi dòng sông ngày xưa là mối giao thông quan trọng của người dân trong vùng. Chính dòng sông là mạch nguon chuyển tải các yếu tố văn hoá, vũ trụ để lắng động trong nhận thức, tư duy của người dân. Từ đó nảy sinh ra những nét văn hoá độc đáo mang sắc thái riêng biệt của vùng quê Quảng Trị.
2. Những nét cơ bản về kiến trúc đình làng Quảng Trị.
Sau khi chọn được thế đất và hướng đình thích hợp, người dân bắt đầu dựng đình. Trước kia, các kiểu đình ở Quảng Trị cũng đa dạng và phong phú nhưng qua nhiều lần chiến tranh, cùng nạn thiên nhiên khắc nghiệt đã phá huỷ rất nhiều công trình kiến trúc đình làng. Người dân đã ba lần bảy lượt dựng lại và trùng tu nên về kiến trúc, trang trí, diện mạo các ngôi đình thay đổi rất nhiều. Qua thực tế hiện nay chúng tôi thấy có hai kiểu đình chủ yếu: Đó là một toà đại đình (đình chữ nhất) và hai nếp nhà song ngang (đình chữ nhị)...
 
 
 

Nhớ những mùa lụt ở làng Lập Thạch xưa

19/08/2023 lúc 16:57






B





ão lụt là một tai họa khủng khiếp của thiên nhiên ấn vào loài người. Nó đã cướp đi sinh mạng hàng triệu người mỗi năm trên toàn thế giới.
Vì vậy Liên hiệp quốc đã đưa ra khẩu hiệu như: “Ngày môi trường thế giới, hành tinh xanh,…”.
Ngày xưa, hình như làng tôi dựa vào lũ lụt để thu lợi, để làm ăn.
Trước hết nhờ có lụt mà những ruộng đất bạc màu của làng tôi được phủ một lớp phân bùn non có khi dày vài tấc, đó là loại phân đặc biệt trời cho. Biết bao nhiêu là chất bổ tổng hợp trong bùn non từ rừng Trường Sơn trôi về, xác động vật, thực vật đã bón cho ruộng đất, cây cỏ làng tôi, đã làm cho mùa màng xanh tốt.
........
 

Đêm bình thơ ở Cồn Mớc

19/08/2023 lúc 16:57






T





rong số những học sinh các lớp đầu của trường Lê Thế Hiếu, vào những năm 1950-1952, có rất nhiều người làm thơ. Làm thơ là niềm vui, nhưng cũng là trách nhiệm. Làm thơ cho báo tường, để đọc trong các buổi hội họp, để phục vụ các đêm lửa trại hay các buổi mít tinh. Cũng có khi làm thơ để tham dự các giải văn học hay đăng báo. Tôi còn nhớ bạn Minh Quang có bài thơ về chiến thắng Việt Bắc được Hội văn nghệ Quảng Trị trao giải nhất năm 1952. Bạn Lê Hữu Dinh có nhiều bài đăng trên Tạp chí văn nghệ Liên khu IV. Ta tạm gọi đó là thơ “bề nổi”. Bởi lẽ, bên cạnh dòng thơ chính thống này còn có một dòng khác, hoàn toàn riêng tư, các tác giả làm cho mình rồi cất giữ kín đáo, hoạ hoằn mới cho người khác đọc. Dòng thơ ấy là “dòng chìm”, biến mất theo thời gian nếu không được ai để tâm tìm tòi nghiên cứu. Tôi may mắn còn giữ được cuốn nhật ký ghi những ngày xa xôi gian khổ đó và cuốn nhật ký giúp tôi phục hồi một sự kiện “dễ thương” về thơ của cánh vị thành niên thời đó.  
  .........
 

Ký ức người đội trưởng

19/08/2023 lúc 16:57






M





ột chiều đầu Thu tôi về gặp anh Nguyễn Mạnh Hùng, Hội viên Hội cựu TNXP Quảng Trị. Tiếp tôi trong ngôi nhà nhỏ, đơn sơ, bên ly trà nóng, anh kể cho tôi nghe về những tháng năm “Không thể nào quên” ấy, những chiến tích thầm lặng mà rất đỗi tự hào của Đội Vận tải, thuộc Liên đội TNXP giải phóng Quảng Trị. Nơi mà anh và đồng đội đã không tiếc máu xương hiến dâng tuổi thanh xuân của mình chiến đấu, hy sinh vì lý tưởng cao đẹp: Giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Đội Vận tải được thành lập vào tháng 1 năm 1972 gồm có 9 người (2 nữ, 7 nam) tại thôn Xuân Tiến, xã Gio Việt do anh Nguyễn Mạnh Hùng làm đội trưởng. Nhiệm vụ của đội là thu chiến lợi phẩm của địch thất bại bỏ lại sau các cuộc giao tranh, chở những chiến sĩ bộ đội vào bờ Nam Cửa Việt và chở thương binh ngược ra bờ Bắc Cửa Việt để chữa trị, kịp thời; chở lương thực vào tiếp tế cho bộ đội ta ở chiến trường miền Nam, chở những cán bộ lãnh đạo làm nhiệm vụ cách mạng. Nhiệm vụ không trực tiếp chiến đấu trực tiếp với quân thù, nhưng luôn phải đối mặt với nguy hiểm. Máy bay địch bắn phá suốt đêm ngày, dọc bờ biển tàu tuần tra canh chừng nghiêm ngặt, cách một hải lý là Hạm đội 7 của Mỹ - Nguỵ như những “ống nhòm” chĩa thẳng các tuyến đường biển, đường sông, nếu phát hiện có dấu hiệu khả nghi là chúng phóng hoả.
.........
 

Thành Tân Sở với phong trào Cần Vương

19/08/2023 lúc 16:57






T





rên con đường vào phía Nam Hoành Sơn để tìm đất “vạn đại dung thân” Nguyễn Hoàng đã đến Ái Tử của tỉnh Quảng Trị (1558). Ông chọn nơi đây làm thủ phủ mở đầu cho thời thịnh đạt của các chúa Nguyễn mở đất Đàng Trong, rồi hậu duệ ông lập nên vương triều Nguyễn kéo dài 387 năm (1558-1945); khẳng định họ Nguyễn là dòng họ cầm quyền dài nhất trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam. Trong gần bốn thế kỷ đó có hai thời kỳ gián cách, tác động lớn đến lịch sử dân tộc, việc phân kỳ lịch sử Việt Nam nói chung và triều Nguyễn nói riêng cũng lấy đó làm mốc thời gian để xét định. Đó là sự thành lập vương triều Quang Trung với kinh đô Phú Xuân sau ngày Nguyễn Huệ ban Chiếu “Lên ngôi” (22-12-1788) và vương triều kháng chiến sau ngày vua Hàm Nghi ban Dụ “Cần vương” (13-7-1885) ở thành Tân Sở. Mốc thời gian này là định vị cuối cùng của một vương triều có chủ quyền, kiên quyết đấu tranh chống ngoại xâm, không chịu chuyển giao chủ quyền và nền độc lập dân tộc cho thực dân Pháp.
Thành Tân Sở có vị trí cực kỳ quan trọng trong lịch sử dân tộc như vậy, nhưng hiểu biết về tòa thành này thì hết sức mờ nhạt, dấu tích trên thực địa hiện là một bãi đất trống không; trong khi đó công việc bảo tồn và phát huy giá trị khu di tích lại trở nên cấp bách. Đó là lý do cũng là yêu cầu đặt ra cho lãnh đạo tỉnh Quảng Trị, huyện Cam Lộ, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Viện Sử học Việt Nam, Cục Di sản Văn hóa thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và cũng là nguyện vọng của nhân dân trên cả nước. Do vậy, Hội thảo “Thành Tân Sở với phong trào Cần Vương” được tổ chức vào dịp kỷ niệm 125 năm ngày vua Hàm Nghi ban Dụ Cần Vương và vào tối hôm nay: 13-7, Lễ hội “Tân Sở dấy nghĩa Cần Vương” cũng được tổ chức trên “Thánh địa Cần Vương” để kết nối ký ức lịch sử sau nhiều thập kỷ bị lãng quên. Đó là một giải pháp khoa học có ý nghĩa thiết thực mang tầm quốc gia trên con đường nghiên cứu tìm tòi, sáng tạo để khơi dậy sức sống của một vùng đất gắn liền với vận mệnh dân tộc, với nhà vua yêu nước Hàm Nghi và tên tuổi của nhiều nhân vật khác đã làm rạng danh trong sử sách, tỏa sáng hào quang yêu nước muôn đời cho hậu thế…
Việc tổ chức hội thảo khao học Thành Tân Sở với phong trào Cần Vương, để thể hiện trách nhiệm và góp tiếng nói trung thực, khách quan của giới nghiên cứu và cũng nhằm thể hiện nguyện vọng thiết tha của nhân dân về một vấn đề được nhiều người quan tâm nhưng việc triển khai thực hiện thì không hề đơn giản.
Do khuôn khổ giới hạn về nội dung và thời gian thực hiên nên chủ đề hội thảo chỉ tập trung xung quanh việc khai thác các nguồn tư liệu về thành Tân Sở nhằm khẳng định tính xác thực của tòa thành này gắn với phong trào Cần Vương để có cơ sở xây dựng đề án bảo tồn và phát huy giá trị khu di tích thành Tân Sở một cách khoa học. Cho đến hiện nay có 18 bản báo cáo khoa học và tham luận gửi đến hội thảo, đánh dấu một thành tựu quan trọng trong việc nghiên cứu về thành Tân Sở và phong trào Cần Vương. Trong đó, công tác sưu tầm, phát hiện xác minh tư liệu là vô cùng quan trọng, sau đó là kết quả mới nghiên cứu về thành Tân Sở gắn với phong trào Cần Vương và đề xuất giải pháp bảo tồn và phát huy tác dụng Khu di tích thành Tân Sở.
1. Về thành tựu tư liệu
Các tác giả đã tra cứu tỉ mỉ các nguồn tư liệu của triều Nguyễn như Đại Nam thực lục, Đại Nam liệt truyện, Đại Nam nhất thống chí, Châu bản triều Nguyễn…
Các nguồn tư liệu tiếng Pháp trước năm 1945 cũng được nhiều tác giả tìm tòi nhằm cung cấp những thông tin giá trị qua các công trình của: Charles Gosselin, L’empire d’Annam, Imprimerie D’Extrême Orient, Hanoi, 1904; H. de Pirey, Une Capitale Éphémère: Tân Sở, BAVH, 1914;  A. Laborde, tỉnh Quảng Trị, BAVH, tập VIII, 1921; Jabouile, Une page de l’histoire du Quảng Trị, Septembere 1885, BAVH, No.4, 1923; L.Cadière et cosserat, Les postes Militaires du Quảng Trị et du Quảng Bình en 1885-1890; BAVH, Janvier-Mars 1929; B. Bourottel, Aventure du Roi Hàm-Nghi, BAVH, 1929; Marcel Gaultier, Le Roi Proscrit, Hà Nội, IDEO, 1940; Delvaux (a), Quelques précicisions sur une période troublée de l’histoire d’Annam, BAVH, Juillet-Septembre, 1941 và bài Le camp de Tân Sở (Căn cứ Tân Sở), BAVH, 1942; Charles Fourniau, Annam-Tonkin 1885-1896, Edtions Harmattan, Paris, 1989; cùng các công trình nghiên cứu về Tân sở và phong trào Cần Vương của hai miền Bắc - Nam trước năm 1975 và các công trình sau năm 1975 đến nay. Đặc biệt là nguồn tư liệu khai thác thực địa tại vùng Cùa và các nơi khác bao gồm gia phả, di tích, di vật có liên quan đến Tân Sở.
Thông qua các báo cáo khoa học, các tác giả cung cấp nhiều thông tin mới về thành Tân Sở và phong trào Cần Vương, đánh dấu một thành tựu quan trọng về tư liệu thành Tân Sở từ trước đến nay nên đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề vốn hoài nghi do thiếu tư liệu và cũng xuất hiện nhiều tồn nghi khác trên cơ sở tư liệu mới phát hiện nhưng chưa có điều kiện để xác minh.
Trong các tư liệu mới sưu tầm có giá trị là văn bản Dụ Cần Vương  bằng chữ Hán; gia phả ông Trần Văn Hạnh – người đã nhường ngôi nhà của mình làm hành cung cho vua Hàm Nghi và cận thần nhà vua trong thời gian lưu trú tại Tân Sở; giếng nước ở làng Bảng Sơn nơi vua Hàm Nghi đã sử dụng; một số viên gạch và đạn thần công liên quan đến thành Tân Sở, một số văn bản Hán Nôm làng xã ở vùng Cùa vào thế kỷ XIX. Đó là những nỗ lực sưu tầm, xác minh tư liệu của các tác giả Đỗ Bang, Nguyễn Quang Trung Tiến, Nguyễn Bình, Phan Thanh Hải, Nguyễn Thanh Tùng, Lê Đình Hào, Ngô Thanh Bảo… Tài liệu sưu tầm lần này cũng góp phần làm sáng tỏ nhiều nhân vật tham gia thời Tân Sở-Cần Vương qua các báo cáo của các nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân, Trương Công Huỳnh Kỳ, Nguyễn Tất Thắng, Lê Tiến Công, Nguyễn Văn Đăng, Lê Quang Thái… Các tư liệu này sẽ tiếp tục xác minh chọn những thông tin chính xác để khắc vào các tấm bia, đền thờ, các bức phù điêu ở Khu di tích thành Tân Sở khi đề án tôn tạo được triển khai...
 

« 4243444546 »

Tạp chí số cũ
Câu chuyện du lịch
tư tưởng Hồ Chí Minh

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

13/02

25° - 27°

Mưa

14/02

24° - 26°

Mưa

15/02

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground