
28/01/2025 lúc 23:15

19/08/2023 lúc 16:57
LTS. “Người vợ Vệ quốc đoàn” của Lê Tâm Tiềm là một Hồi ký tương đối “dài hơi” được tác giả chia ra thành 5 chương: 1 - “Quê hương - lửa đạn”; 2 - “Đọa đày và đấu tranh”; 3 - “Người chị”; 4 - “Chị và em”; 5 - “Quê hương ngày trở lại”… Phản ánh khá điển hình và sâu sắc số phận người phụ nữ bên bờ Nam Quảng Trị có chồng tập kết ra Bắc.
CV. Giới thiệu nhiều kỳ, rất mong bạn đọc đón xem.
I. Quê hương – lửa đạn.
Chị lấy chồng năm 20 tuổi. Đơn vị của anh tổ chức cưới.
Lễ cưới giản dị. Một bình hoa các anh hái trong vườn, có cây chuối con đứng cao ở giữa, chung quanh chủ yếu là hoa dại mọc chen lấn trong các bụi tre, bàn là cánh cửa hông kê cao bằng các gốc cây.
Đại diện đơn vị của anh thay mặt hai gia đình tuyên bố lễ cưới. Anh và chị đứng cạnh nhau một bên. Vị đại diện nói: “Kể từ hôm nay đồng chí Trung và đồng chí Quốc là vợ chồng. Có nghĩa vụ chăm sóc, lo lắng, nâng đỡ lẫn nhau để công tác ngày càng tiến bộ”. Vị đại diện cũng nói qua những thắng lợi giòn giã trên khắp các chiến trường Việt, Miên, Lào mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ đã buộc Pháp phải ký vào Hiệp định đình chiến Giơnevơ. Dòng sông Hiền Lương là ranh giới tạm thời để quân hai bên tập kết. Ta phía Bắc. Hai năm sau tổ chức tổng tuyển cử để thống nhất đất nước. Còn sáu ngày nữa Hiệp định có hiệu lực. Nhiệm vụ của mọi người là tiếp tục đấu tranh dưới cờ Việt Minh cho đến ngày toàn thắng vẻ vang.
Dưới ánh sáng mờ mờ của sao trời tháng 7, đoàn nhà trai gồm những đại diện đơn vị chú rể, gia đình cô dâu, và xóm làng tham dự lễ cưới chung nhau quanh khoảng sân đất nện. Mọi người vui vẻ, hồ hởi chúc tụng, mong cho cô dâu chú rể bên nhau, như chim liền cánh, như cây liền cành. Những tiếng cười, lời nói đều kiềm xuống vừa đủ nghe, không một ánh đèn, ngọn đuốc, đến đóm lửa từ điếu thuốc cũng được khum tay che kín. Tất cả để hòng tránh những đôi mắt cú vọ rình rập, hơn nữa cách đây khoảng năm bảy trăm mét về phía Đông, vượt qua một cánh đồng phẳng lỳ như mặt kính trên đất làng An Hưng, là một đồn Tây. Gần hơn, phía bắc là đồn Vân Hòa. Tụi “Tề” thì không dái ló mặt đã đành, nhưng tụi “gian” thì thật không biết đâu mà lường. Bởi vậy lễ cưới được kết thúc chóng vánh. Đơn vị nói gởi anh cho gia đình một đêm, mờ sáng phải có mặt tại đơn vị. Anh chị dẫn nhau vào buồng tân hôn. Gia đình lại thổi nồi cơm để đùm gói cho anh lên đường. Gà gáy lại anh khăn gói ra đi, chị tần ngần nhìn theo, không ai đưa tiễn vì sợ lộ đường đi, anh nhảy qua ruồng tre, lách qua vườn bên cạnh, hút vào màn đêm. Anh hẹn “Hai năm sau” chị hốt hoảng nhớ lại, chân tự nhiên nhủn đi, cả người rụi xuống bên cạnh cột hiên, điểm bám víu cuối cùng của chị giây phút này.
Hòa bình lập lại. Chị và mẹ cùng ba cháu em từ nơi sơ tán – cũng trong làng thôi, cách một con sông – về lại xóm mình – xóm Đông Bội, bắt tay vào phục hóa vườn tược, che bên gốc mít đã trụi hết cành lá cái trại để chui vô chui ra tránh mưa đỡ nắng, chị lãnh đạo gia đình và là lao động chính, có sự hỗ trợ của cô em, cậu út và chị kế nó thì còn nhỏ quá. Chị phác định chỉ cho cô em giúp thời gian đầu mà thôi, cái lúc ba tua lùa một nầy – lo chỗ ở, lo khai hoang, lo canh tác – còn em phải đến trường, ở đây là phần việc của chị, là công tác của chị. Mẹ chị đã qua tuổi bốn mươi và bệnh hoạn.
Mẹ bị nạn trong cuộc càn hơn năm trước ngày bọ chết. Theo những người cảnh giới và chị du kích kể lại. Tây nó rút khoảng xế trưa, nhưng không hiểu sao còn lại 15,17 thằng – chị du kích không đếm được cụ thể – trẩn lại nằm im thin thít dưới bờ ao. Mẹ thấy Tây rút vội vã gởi thằng con hơn tuổi để chạy về xem nhà còn lại cái chi. Vừa đến sân nhà, một thằng Tây đen tóm lấy mẹ, tay bịt miệng lôi tuột xuống ao. Nó tuột quần mẹ. Chị du kích nghe mẹ hét: “Bọ con Trung ơi…cứu”. Chỉ chừng đó, một báng súng đập vào đầu mẹ, một tiếng “hự” rền đặc, đơn côi. Chúng xé áo mẹ nhét vào mồm, ấn đầu mẹ vào giữa hai cây tre, xé quần mẹ cột tay, cột chân. Thấy mẹ nằm bên bờ ao, đầu chui vào bụi tre, hai tay giơ tới trước, gối quỳ, mông chổng về phía ao. Chúng nó thay nhau bu lấy mẹ… cũng có lúc thằng làm thằng đợi. Chị du kích đếm đến lượt thứ hai nhăm, thấy không khớp số người nên bỏ không đếm nữa. Chị du kích khẳng định chỉ 17 thằng hoặc 15 thằng không thể nhiều hơn. Chị du kích nói: “Sôi uất căm hờn nhưng chẳng biết làm sao”. Dù là du kích nhưng chị vẫn không có súng. Trời nhá nhem tối, chính bong tối nhờ nhờ lại lợi thế cho chị, có thể vén nhẹ lá các cây ngụy trang quan sát rõ hơn, rộng hơn. Chúng nó rục rịch rút lui sao đó, thấy tụm lại, một thằng nói thì thầm tay chỉ thằng này thằng nọ. Chị nghĩ đây là cơ hội tiêu diệt lũ dã man, bầy súc vật. Quả lựu đạn chị vẫn cầm trên tay, chị ấn mạnh chày xuống đầu gối, nhẩm đếm: một, hai, ba hết chữ ba thêm một nửa quãng nữa chị mới ném, trúng ngay giữa đám, nhưng thật xui xẻo quả đạn của chị cứ xì xì um khói mà không nổ. Tiếc quá, chị chỉ còn hai quả...

19/08/2023 lúc 16:57
C
uộc chiến tranh đã đi qua hơn một phần ba thế kỷ, nhưng nó chưa đi qua trong bữa cơm, giấc ngủ của những bà mẹ Việt Nam. Mẹ còn nhớ như in ngày tiễn chồng, tiễn con lên đường ra trận, mẹ vẫn biết chiến trường gian khổ lắm, ác liệt lắm, sự sống, cái chết chỉ cách nhau gang tấc. Cũng như mẹ, ở ngoài mặt trận anh có tính toán gì đâu, khi trong anh hình ảnh mẹ già: “năm năm, tháng tháng, ngày ngày với gọng rau, ai có biết lòng tôi đau như cắt…” Song có nỗi đau nào bằng nỗi đau mất nước; anh đã hiến trọn đời mình cho “mẹ hiền Tổ quốc”.
Không những mẹ mất anh, mẹ mất luôn phần hài cốt của anh, điều này càng về cuối đời nỗi đau trong lòng mẹ càng nhân lên gấp bội. Mẹ ước gì trước lúc nhắm mắt xuôi tay mẹ được tận mắt nhìn thấy và tự tay thắp nén nhang lên phần mộ của chồng, của con, mẹ đã làm tròn bổn phận một người vợ, người mẹ; người đang sống với người đã khuất. Nhưng mẹ chưa than phiền với ai lấy nửa lời khi mà Đảng và Chính phủ đã quan tâm ban hành nhiều chính sách đối với người có công với nước; khi mà hàng ngàn nấm mộ ở các nghĩa trang nay chung dòng chữ “liệt sỹ chưa biết tên”…
Là những người lính hơn ai hết các anh thấu hiểu nỗi mất mát to lớn của những người mẹ mất con, người vợ mất chồng, những đứa con chỉ biết mặt bố qua những tấm ảnh bạc màu theo năm tháng. Nỗi khắc khoải mong chờ nhận được phần hài cốt của chồng, của cha, của con mà càng về cuối đời nỗi khắc khoải càng nhân lên gấp bội. Càng thấu hiểu nỗi khổ tâm của các mẹ, các chị, của thân nhân liệt sỹ bao nhiêu các anh càng day dứt bấy nhiêu, khi mà hài cốt đồng chí đồng đội một thời “viên thuốc bẻ đôi, tấm chăn một nửa” đang nằm rải rác giữa đại ngàn Trường Sơn. Các anh đã tự nguyện cùng nhau trở lại Trường Sơn, trở lại nơi một thời cả nước dấy lên phong trào: “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước mà lòng phơi phới dậy tương lai”. Đã trở thành lý tưởng cách mạng cao đẹp của lớp lớp thanh niên lúc bấy giờ. Nơi một thời đánh địch mà đi, mở đường mà tiến; đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng. Nơi mà hàng ngàn liệt sỹ mãi mãi nằm lại dưới những cánh rừng giữa đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ. Để cho đất nước có ngày hôm nay; có con đường Hồ Chí Minh gắn với những chiến công hiển hách.
Sau bao nhiêu năm lăn lộn với cuộc chiến tranh, tháng 1/1989 đại uý Mai Thanh Hùng được rời quân ngũ, mang theo trên đầu những hạt bom bi quái ác không phẩu thuật được (thương binh loại 3/4). Khi ra quân, anh không trở về nơi chôn nhau cắt rốn (xã Triệu Nguyên, huyện Đăkrông) mà anh quyết định lập nghiệp tại thị trấn Khe Sanh, huyện Hướng Hoá, để có điều kiện trở lại Trường Sơn, trở lại chiến trường một thời gắn bó. Ý nghĩ này ấp ủ trong anh từ những ngày đầu mới rời quân ngũ, mãi đến năm 1990 khi có tổ chức Cựu chiến binh ra đời và đi vào hoạt động, anh bày tỏ nguyện vọng của mình với Hội CCB thị trấn Khe Sanh, Hội CCBVN, phòng Lao động thương binh xã hội huyện Hướng Hoá và được các tổ chức đồng tình ủng hộ, được Đảng uỷ, UBND, các đoàn thể thị trấn Khe Sanh động viên khích lệ. Đội tìm kiếm, quy tập mộ liệt sỹ của Hội CCBVN thị trấn Khe Sanh được ra đời từ đấy. Nói sao hết những khó khăn vất vả của những người lính trên mình mang đầy thương tích, mà phải vượt qua bao núi cao, suối sâu…công việc tưởng chừng như đáy bể mò kim, như muối bỏ bể. Không những thế mà các anh còn phải cảm thông với vợ, con khi mà kinh tế thị trường đã đi vào đời sống của đại bộ phận xã hội. “Người người làm giàu, nhà nhà làm giàu”, còn các anh thì tình nguyện trở lại Trường Sơn để thực hiện trọn vẹn nghĩa tình, để từ trong sâu thẳm của lòng mình không còn hổ thẹn với đồng chí đồng đội.
Với cương vị là đội trưởng Đội quy tập, Mai Thanh Hùng đã tập hợp được 11 hội viên gồm Nguyễn Hữu Cừ, Hoàng Văn Thạch, Phan Văn Quyến, Hồ Văn Hiệu, Nguyễn Xuân Thành, Trần Đình Thi, Trần Đình Lâm, Hồ Đại Số, Hồ Văn Sơn, Võ Bình Dương, Nguyễn Thành Nam. Trong 12 đồng chí có bốn đồng chí là thương binh, một bệnh binh; có 11/12 là hưu trí. Lớn tuổi nhất là đồng chí Nguyễn Hữu Cừ 70 tuổi thương binh 4/4; nhỏ tuổi nhất là đồng chí Nguyễn Thành Nam 24 tuổi. Là những người đầy nhiệt tình và tâm huyết tình nguyện “ăn cơm nhà tìm cho ra đồng đội”. Họ cùng nhau trở lại Trường Sơn trong đội hình hành quân như tiểu đội ngày nào chỉ khác vai không mang súng, đầu đội mũ không sao, vững chắc chiếc gậy ngày nào và đôi dép cao su bốn quai thít chặt. Còn lương thực, thực phẩm mang theo thì ai có gì mang nấy nhưng trong ba lô của mỗi người phải có dụng cụ đào bới như cuốc, xẻng, dao, rựa dùng để phát đường; hương, ni lon, giấy đỏ để bao gói hài cốt liệt sỹ. Các anh còn mang theo nồi niêu, xoong chảo, bát đũa, môi thìa để còn “tác chiến” trong những ngày hành quân… Nhớ ngày đầu mới thành lập Đội quy tập có năm tự nguyện đó là: tự nguyện thành lập Đội; tự nguyện bỏ kinh phí gia đình vào việc tìm kiếm, cất bóc, đưa hài cốt liệt sỹ về bàn giao cho nghĩa trang liệt sỹ huyện; tự nguyện làm việc ngày không tính giờ; tự nguyện tuần không tính ngày; tự nguyện năm không tính chuyến...

19/08/2023 lúc 16:57
T
rong hai cuộc kháng chiến chống giặc cứu nước, lớp lớp cháu, con tiếp bước cha ông lên đường chống ngoại xâm và bảo vệ, xây dựng quê hương đất nước, trong đó có cả lứa tuổi 15. Tiêu biểu là Trương Văn Bảo bí danh Trường Sơn, một tấm gương anh dũng của đội Thiếu niên Tiền phong (TNTP) xã Triệu Phước, huyện Triệu Phong, Quảng Trị. Gia đình Bảo nghèo, nhưng có truyền thống yêu nước, hai anh đã anh dũng hy sinh vì nước, anh thứ ba bị thương nặng, địch bắt giam ở Côn Đảo. Bảo thất học sớm, phải đi ở chăn trâu để góp phần giúp đỡ gia đình nuôi các em nhỏ. Mặc dù hoàn cảnh như thế, Bảo vẫn hồn nhiên vui tươi trong cuộc sống. Bảo đã cùng các bạn vận động, tổ chức xây dựng đội TNTP Xuân - Phiên - Hà, gồm 23 đội viên, do em làm đội trưởng. Đội TNTP có nhiệm vụ theo giỏi từng bước đi, nơi ăn, chốn ở của địch, nhằm bảo vệ cán bộ cách mạng, đi về hoạt động được an toàn và nắm thời cơ tốt là tiêu diệt chúng. Như thường lệ ở vùng Xuân - Phiên - Hà ban đêm địch đi trốn, sáng sớm thì tổ chức hành quân vào làng càn quét rồi nghỉ ngơi. Một hôm địch cố tạo ra sự bất ngờ cho ta, vào lúc 15 giờ chúng cho quân đột kích vào làng, hòng tiêu diệt và bắt sống cán bộ của ta. Lúc đó, Bảo đang chăn trâu ở cánh đồng bên kia sông, trong đàn trâu có một con trâu đực, bên này sông là tuyến đường địch đang hành quân áp sát vào làng, cũng có một con trâu đực. Hai con trâu này thường ngày phải cho ăn cỏ ở hai cánh đồng cách biệt, để tránh sự đụng độ, quấy phá lẫn nhau.
Trước tình hình như vậy, Bảo nhận định sẽ có tình huống xấu xảy ra cho cán bộ của ta, một ý nghĩ lóe lên trong đầu. Bảo lập tức giục con trâu đực vượt sông, cho hai con trâu xáp trận, nhằm cố tạo ra trò thích thú để địch dừng chân xem trâu chọi nhau. Lúc đó Bảo sẽ chạy về báo cho cơ sở của ta biết, kịp thời che giấu cán bộ cách mạng được an toàn. Hai con trâu chọi nhau quyết liệt; lừa lúc bọn địch nhốn nháo đứng xem, Bảo chạy như tên bắn vào làng, báo cho cơ sở biết, địch vây càn. Sau đó Bảo vờ lấy cây sào chạy về phía hai con trâu. Bảo vừa khóc vừa kêu cứu, nói: “Nhờ các anh ngăn hai con trâu cho em với, không thì ông chủ cho ăn đòn, chết em thôi!”, bọn địch nháo nhác đứng nhìn. Có một tên nghe được lời kêu cứu đó, liền cầm cây sào quờ mạnh, hai con trâu rời nhau ra, bọn địch tiếp tục dàn hàng ngang tiến quân vào làng. Thấy vậy mắt Bảo sáng lên, hí hửng cưỡi trâu qua sông trong tiếng sáo diều vi vút.
Thế rồi cuộc chiến cứ kéo dài, năm tháng nối tiếp đi qua, Bảo cùng với đội TNTP làm tốt mọi nhiệm vụ được cấp trên giao phó. Cuối năm 1967, Bảo nằng nặc xin cấp trên cho thoát ly làm cách mạng. Bảo tạm biệt gia đình và đội TNTP theo các chú, các anh lên đường làm nhiệm vụ mới. Bảo vốn hoạt bát nhanh nhẹn nên được cấp trên phân làm công tác giao liên, ngày đêm vượt trảng cát hàng chục cây số để chuyển công văn, thư mật lệnh hỏa tốc của huyện ủy Triệu Phong. Hơn một năm, Bảo hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ cấp trên giao.
Cuối năm 1968, trên đường làm nhiệm vụ, mang thư mật cho huyện ủy Triệu Phong, Bảo sa vào ổ phục kích của địch. Bọn chúng như hổ gặp được mồi, tập trung nhiều mũi để hòng bắt sống em, Bảo ra sức chạy để thoát, địch phải xả súng bắn như mưa, nhưng vẫn không làm gì được Bảo. Dưới làn đạn của địch, em chạy vòng vèo để có đủ thời gian nhai hết thư mật vào miệng, nhằm bảo vệ bí mật cho cách mạng. Sau đó Bảo ngoan cường ném lựu đạn diệt một toán địch, cuối cùng em đã anh dũng hy sinh, nằm xuống bên bờ cát trắng dưới những hàng phi lao vi vút. Bình minh rực sáng, sóng biển vỗ rì rào, để ngợi ca một người con kiên cường bất khuất. Tên Bảo được ghi vào trang sử vàng của quê nhà...

19/08/2023 lúc 16:57
C
huyện trạng ở Huỳnh Công Tây được xem là một kho tàng văn học dân gian có một không hai của Việt Nam, như là di sản văn hoá phi vật thể có từ xa xưa. Còn trạng Vĩnh Hoàng nay thuộc xã Vĩnh Tú, huyện Vĩnh Linh, Quảng Trị là địa danh mới có sau này.. Năm 1949, xã Vĩnh Hoàng được thành lập, trong đó có ba thôn là làng Huỳnh Công Đông, Huỳnh Công Tây, Huỳnh Công Nam nên chuyện trạng cả ba làng còn được gọi là chuyện trạng Vĩnh Hoàng. Nay xã Vĩnh Hoàng đã đổi thành xã Vĩnh Tú, vậy nên Vĩnh Hoàng chỉ còn là danh từ riêng chỉ chuyện trạng 3 làng Huỳnh Công mà thôi.
Tìm đến trạng Vĩnh Hoàng tức là phải tìm đến cội nguồn, nơi xuất xứ ra trạng Vĩnh Hoàng. Vào thời sơ khai cách đây trên 300 năm, các dòng họ các tỉnh phía Bắc như Nam Định, Thái Bình đến Thanh Hoá vào đây khai khẩn và lập nên làng Huỳnh Công. Trong đó Huỳnh Công Tây là nơi có nhiều điển tích làm căn cứ sản sinh ra chuyện trạng Vĩnh Hoàng.
Huỳnh Công Tây hồi đó có rất nhiều rừng rú, rú liền rú vào sát tận bìa làng, rất thích hợp cho các loài muông thú kéo nhau về đây trú ngụ và sinh sống. Cu, chim đủ loài, thú rừng như hươu, nai, trâu ri, bò tót, cọp beo vv..., nhiều vô kể. Cọp thường ăn lẫn lộn với bò để bắt mồi, cho nên có chuyện bắt nhầm cọp để cày. Cọp thường vào làng để bắt người. Nay còn có lòi rú gọi là “lòi mụ Sài”. Cọp đã bắt bà ấy vào lòi này ăn thịt, cho nên người ta đặt tên cho lòi rú đó là “lòi mụ Sài”.
Hoặc rừng rú cò những cây cổ thụ hàng trăm năm tuổi. Cu chim thường ăn và thải hạt ớt vào trên ngọn cây, cho nên có những cây ớt tự tạo, gốc có thể cưa được mấy cấp săng ấm và còn làm được mấy xác nhà Rường... Huỳnh Công Tây nơi đây là vùng đất có chín phần là đất cát, còn một phần là đất đỏ bazan. Thiên nhiên không được ưu đãi lắm. Hai mùa nắng gió khắc khổ. Mùa hè ngọn gió Lào kéo về nắng rát đến nổ tre. Mùa đông ngọn gió Đông Bắc kéo theo mưa phùn lạnh tê tái. Ruộng lúa rất hiếm hoi. Họ sống chỉ nhờ vào cây khoai, cây sắn, còn gạo thì rất khan hiếm, quý hơn vàng. Họ cho hạt gạo là “hòn ngọc nhà trời”.
Thiếu ruộng không đủ gạo ăn, họ tìm cách bù đắp bằng trồng dưa đỏ trên cát để tạo nên hàng hoá trao đổi. Họ làm dưa đỏ đã trở thành làng nghề. Dưa đỏ đã trở nên món hàng đặc biệt. Lái buôn đã về đây mua chở vào Nam, ra Bắc để tiêu thụ. Có giống dưa đặc biệt là ngon, đã được đưa vào cống tiến trong cung vua, để vua ngự lãm. Giống dưa đó được gọi là dưa ngự. Quạ ở đây cũng nhiều vô kể. Dưa đỏ là món ăn mà quạ thích nhất, cho nên có chuyện một đàn quạ từ trong quả dưa chui ra, bắt bọp đến mỏi tay và chỉ có nơi đây mới có. Nhờ có nghề làm dưa đỏ để trao đổi lấy lúa gạo, họ mới thêm bát cơm để bù đắp. Từ trên mảnh đất mà tổ tiên đã tạo dựng nên, họ phải vật lộn, bươn chải, đào bới trong đất, để làm ra cây khoai, cây sắn nuôi sống họ trong những ngày ba, tháng tám, những lúc giáp hạt, những năm mất mùa, khoai sắn đã nuôi sống họ không bị chết đói, cho nên họ vẫn bám giữ mảnh đất này “một tấc không đi, một ly không rời”.
Cũng giống như những cây trâm bầu quê họ, khi rễ đã cắm sâu vào lòng đất thì nắng vẫn không khô, hạn vẫn không héo, bão táp mưa sa vẫn đứng vững giữa trời, làm thành vành đai chắn bảo vệ con người, giữ cho làng xóm được yên vui.
Vĩnh Hoàng xưa nghèo khổ, phải vật lộn với thiên tai, giặc giã để mưu sinh. Trên cuộc hành trình gian khổ đó, người dân có một vũ khí rất lợi hại để tự động viên mình, đó là chuyện trạng. Và trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày, người ta đã sinh ra cả ngàn chuyện trạng, thành kho tàng đặc sắc. Đây là kho chuyện cười trào tiếu dân gian, cũng giống như chuyện cười của các làng trạng Bắc Bộ hay chuyện kể bác Ba Phi ở Nam Bộ Truyện Trạng Vĩnh Hoàng đã nêu bật được bản sắc độc đáo của con người Việt Nam ở Vĩnh Hoàng. Tuy là chuyện Trạng nhưng vẫn chứa đựng những giá trị hiện thực. Đây không phải là những truyện bông lơn, nói láo một cách hời hợt dễ dãi mà xây dựng từ những thành quả lao động và chiến đấu. Nghệ thuật kể truyện Trạng Vĩnh Hoàng tuy cũng dùng biện pháp khoa trương, phóng đại, nhưng cái lõi đều dựa trên cơ sở hiện thực như chuyện "Trâu đen trâu bạc" là để phóng đại dưa hấu ở Vĩnh Hoàng, chuyện "Mắc cọp mà cày" là để phóng đại việc người Vĩnh Hoàng ngày trước đi cày rất sớm và vùng này cũng nổi tiếng có nhiều cọp như ở Thuỷ Ba. Về phương thức phóng đại, người Vĩnh Hoàng không dùng lối trực tiếp mà diễn tả bằng lối gián tiếp. Để chỉ quả dưa khổng lồ, họ không so sánh quả dưa đó với vật thể nào mà diễn đạt một cách thông minh hơn: dưa mà đạn bắn vào mắc kẹt không ra được, cả đàn quạ chui vào ruột khoét dưa ăn, rồi mang cả dưa lẫn quạ bay lên giữa không trung…
Làng Trạng xưa nay đã được sự mến mộ của xa gần. Từ trong gian khó đã biết đấu tranh để sinh tồn. Từ chất trạng đã tiếp thêm cho họ nguồn sinh lực, trong nắng gió khắc nghiệt của môi trường sống họ đã tạo ra và nếm được hương vị ngọt ngào....

19/08/2023 lúc 16:57
P
hó bảng Trần Viết Thọ sinh ngày rằm tháng 9 năm Bính Thân, tức ngày 24 tháng 10 năm 1806, dưới thời vua Gia Long (1802 - 1820) tại làng Thâm Triều, huyện Đăng Xương, tỉnh Quảng Trị nay là xã Triệu Tài, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị trong một gia đình nho học. Ông có huý làThanh Phúc, tự là Chu Toàn, hiệu là Điềm Tịnh. Ông cũng có tên tu hành là Cư sĩ Đại Sư.
Thuở còn nhỏ ông được học chữ Hán tại làng mình và đã sớm bộc lộ tư chất thông minh, sáng dạ. Lớn lên, ông rời làng quê lên tỉnh lỵ Quảng Trị để tiếp tục học tập. Ít lâu sau, ông được gia đình cho vào kinh đô Huế để theo đuổi sự nghiệp bút nghiên. Ở đây, ông trở thành một môn sinh nổi bật hơn hẳn các bạn đồng học, nên đến năm Giáp Tý, năm Tự Đức thứ 17, 1864, Triều đình đã cấp học bổng cho ông, nhờ vậy việc dùi mài kinh sử của ông được thuận lợi hơn, tạo điều kiện cho ông thể hiện trí tuệ và tài năng của mình. Nhờ vậy, ông đã dễ dàng đổ Cử nhân tại trường Thừa Thiên, khoa thi Hương năm Tự Đức thứ 20, tức năm Đinh Mão, 1867 lúc mới 31 tuổi.
Tiếp sau đó ít năm, ông dự kỳ thi Hội năm Tự Đức thứ 24, khoa thi Tân Mùi, 1871 và đỗ Phó bảng ở tuổi 35.
Năm Tự Đức thứ 26, 1873, Triều đình bổ nhiệm ông chức Giáo thọ phủ Quảng Hoá, tỉnh Thanh Hoá. Đến năm sau, năm Tự Đức thứ 27, 1874, ông được thăng chức Tri huyện huyện Hưng Nhân, tỉnh Thanh Hoá. Gần ba năm sau, năm Tự Đức thứ 30, 1877, ông được Triều đình cử làm Giáo thọ huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định, rồi đến năm Tự Đức thứ 35, 1882, ông lại tiếp tục được thăng chức Huấn đạo phủ Nam sách, tỉnh Hải Dương.
Qua nhiều năm làm việc ở các phủ huyện nhiều tỉnh, vốn là một nhà khoa bảng có nhân phẩm và sống thanh bạch, Phó bảng Trần Viết thọ đã tận mắt nhìn thấy thực trạng đau lòng về nạn mua quan bán tước, về tệ nạn quan lại ức hiếp dân đòi hối lộ mà ông luôn luôn giữ mình trong sạch, với một lòng thương dân.
Chính vì vậy mà một số trọng thần của Triều đình như Biện lý Bô lại Nguyễn Hữu Độ, Tổng đốc Vũ Trọng Bình… đã nhìn thấy phẩm chất liêm khiết và cương trực, tài năng và sự tận tuỵ của Phó bảng Trần Viết Thọ nên đã tiến cử lên vua Tự Đức cất nhắc, giao nhiệm vụ trọng yếu hơn. Năm Tự Đức thứ 36, 1883, Triều đình đã phong cho ông hàm Chánh lục phẩm với chức Hàm lâm viện Trước tác và gọi về Kinh đô giao nhiệm vụ Chủ sự Bô Lại kiêm Cơ mật Hành tẩu.
Xa rời các phủ huyện mà ở đó nhiều điều mắt thấy tai nghe đã từng làm cho ông trăn trở, đau lòng, khi trở về kinh đô, ông toàn tâm toàn ý phụng sự vương triều, cùng lo toan, chia sẻ những công việc trọng yếu của đất nước, như nghiên cứu đề xuất hoặc trực tiếp soạn thảo các sắc dụ vua ban có liên quan đến quốc tế, binh cơ trong quan hệ với ngoại bang hoặc các chỉ, cáo vua ban liên quan đến việc điều hành việc nước, bổ dụng, sắp xếp, thăng thưởng quan lại và việc tham gia giảng tập cho các hoàng tử, công chúa trong cung…
Nhưng điều mà ông tâm đắc chẳng kéo dài được bao lâu, lại trở thành nỗi phiền muộn khôn nguôi trong lòng ông khi thực dân Pháp tiến hành xâm lược nước ta.
Ngày 19.7.1883, vua Tự Đức băng hà, nội bộ Triều đình lục đục, chia bè kéo cánh trong việc suy tôn vua kế nghiệp. Trong bối cảnh triều đình rối loạn, thực dân Pháp đã đưa sáu chiến hạm đến cửa biển Thuận An dưới sự chỉ huy của các tướng Courbet và Harmand ngày 14.8.1883. Và đến chiều 16.8.1883, hạm đội Pháp bắn phá dữ dội các đồn duyên hải của ta và ngày 20.8.1883, chúng chiếm cửa biển Thuận An.
Triều đình ngày 25 tháng 8 năm 1883 buộc phải ký với Pháp Hoà ước năm Quý Mùi hayHoà ước Harmand, một hiệp ước hoà bình, nhưng thực chất là một hiệp ước đầu hàng, chấp nhận trao hết quyền quan hệ đối ngoại cho Pháp, mất lãnh thổ, mất chủ quyền, chịu sự bảo hộ của Pháp.
Ngày 6 tháng 6 năm 1884, thực dân Pháp lấn thêm một bước nữa, buộc triều đình ký Hoà ước năm Giáp Thân hay Hoà ước Patenôtre làm rõ hơn quy chế bảo hộ của Pháp đối với Việt Nam, nhất là chấm dứt quan hệ giữa Việt Nam và Trung Hoa và sau Hoà ước này, Pháp buộc triều đình huỷ ấn Nhà Thanh phong vương cho vua Việt Nam.
Buồn phiền về nhân tình thế thái, Phó bảng Trần Viết Thọ xin cáo bệnh về quê năm Kiến Phúc thứ hai, 1884.
Vào thời kỳ đầu của năm Hàm Nghi thứ nhất, 1884, ở tỉnh thành Quảng Trị đã xảy ra một sự biến: quân phiến loạn mượn tiếng xướng nghĩa nổi lên cướp tỉnh thành, quân bảo vệ thành không đánh dẹp được, nên tỉnh đường rơi vào tay quân phiến loạn. Được tin, Phó bảng Trần Viết Thọ từ quê ra tỉnh lỵ ngay, đến gặp người cầm đầu phiến quân lấy lời hơn lẽ thiệt phân giải đúng sai trong cảnh nước nhà gặp nạn xâm lăng. Người cầm đầu phiến quân sau khi nghe xong cho là phải, liền ra lệnh rút lui, giải thể phiến quân, nhờ vậy quan quân của tỉnh nhà của ông nhân đó thu lại tỉnh thành...

19/08/2023 lúc 16:57
C
hiều ấy, một chiều cuối mưa của năm 1950, tổ làm công tác dân vận của Bộ đội Bình - Trị - Thiên chúng tôi đi về một bản của người Cơ Tu để gặp người già bàn việc thành lập đội du kích. Bản ấy nằm về tả ngạn sông Ba Lòng, cách thị trấn Hướng Hóa chừng 60 cây số về phía Bắc. Vừa vòng qua một mỏm núi nhô ra một cái vực thì trăng lên. Ba đứa vừa đi vừa ngắm vực thì bất thần nhìn thấy một con hổ đang uống trăng dưới vực. Sợ quá, chân tay bủn rủn, chúng tôi ngồi đánh phịch xuống nền rừng. Chỗ hổ ngồi chỉ cách chỗ chúng tôi chừng mươi mét. Nếu là mùa khô thì chắc chắn tiếng động của những bước chân chúng tôi vừa đi sẽ dội vào tai hổ. Bởi lẽ, về mùa khô, dưới nền rừng là dày đặc những lá khô cong cớn, giòn và khô khốc, không một chuyển động nào dưới nền rừng mà không để lại một âm thanh. Hồi tôi học Đệ tứ ở Quy Nhơn, tôi được nghe những người đi rừng kể rằng, hổ chỉ vồ những người đi giữa. Mà lúc này, tay Xuân ngồi trước, tôi ngồi giữa rồi mới đến tay Cẩm. Nếu cứ ngồi thế này thì chắc chắn con hổ kia sẽ quắp tôi trước. Mà tiếp tục đi hoặc bò thì tiếng động sẽ dội vào tai hổ và như thế có khác chi “lạy ông, tôi ở bụi này!”. Thôi thì đằng nào cũng chết. Từ ngày đi theo tiếng gọi của “Nước nhà nguy biến” với câu hát: “Rađi không về, âm vang lời thề”tôi đã không sợ chết thì bây giờ có chết cũng đã sao đâu. Với lại, đời người dễ đã mấy ai được ngắm “ông ba mươi” giữa rừng già, mà chỉ được ngắm sự ngán ngẩm của ông ta trong cũi sắt ở các vườn bách thú. Nghĩ vậy, tôi trấn tĩnh lại, ngắm sự iêng hùng của “chúa sơn lâm”. Tôi nhìn rõ mấy cái râu của Chúa đang đong đưa dưới làn nước trong vắt và lăn tăn sóng. Mắt hắn đắm đuối uống vầng trăng rung rinh dưới vực. Thi thoảng lại ngáp một cái phô ra bộ răng nhọn hoắt và cái lưỡi thè lè ra liếm mép. Hai chân trước đặt lên một tảng đá cao cao, đầu nhô về phía vực, mình hơi trũng xuống phía sau, cái đuôi khi vắt sang trái khi vắt sang phải một cách thờ ơ như sự thờ ơ trong đầu hắn. Hẳn lúc này trong bụng hắn đã quá no nê, hắn đang cần một khoái lạc khác; khoái lạc của “chúa sơn lâm” hoặc về bạn tình của hắn. Nghĩ vậy nên tôi càng trấn tĩnh hơn. Giá lúc này có được cái máy ảnh thì chắc chắn tôi sẽ chụp được tâm trạng của “ông ba mươi” giữa rừng già Quảng Trị.
Tôi ngắm “tâm trạng” của hắn dễ đến mươi phút thì bỗng dưng có một tiếng động đánh soạt ở phía sau hắn. Hắn giật mình, ngơ ngác rồi quay lại, lao vút vào màn đêm. Tôi vừa tiếc vừa thở phào nhẹ nhõm. Còn tay Xuân và tay Cẩm thì chết giấc lúc nào không hay. Một cái mùi gì khai khai thoang thoảng qua mũi tôi. Tôi đinh ninh đó là nước đái hổ. Vì hồi còn ngồi trên ghế nhà trường, học môn động vật, thầy giáo tôi bảo, loài hổ là chúa của sơn lâm; tất cả mọi con vật ở rừng núi đều phải sợ nó, nhưng nó cũng là chúa của đãng trí. Đãng trí tới mức, nó mới găm một sự việc nào đó vào trong đầu mà sau đó, chỉ cần quệt vào lá rừng là quên hết nên đi tới đâu nó phải đái tới đó để nhớ đường về. Nhưng trong trường hợp này đâu có phải là nước đái hổ, vì nó có lao qua chỗ chúng tôi ngồi đâu mà là do sợ quá, tay Xuân và tay Cẩm đã đái ra quần! Nếu cứ để thế này vào bản thì các noọng sẽ cười chết. Tôi giục hai đứa cởi quần ra, hai cái mông trắng hếu. Tôi phải đá đít cho mỗi đứa vài cái, chúng mới dám lò dò xuống vực; vì thần hồn nát thần tính; vẫn còn sợ cái bóng hổ còn chờn vờn đâu đây…
Hai năm sau, năm 1952, cả ba chúng tôi đều được bổ sung cho Mặt trận Tây Nguyên. Trên đường đến bản của người M’Nông nằm về hữu ngạn sông Krông Ana mà các dân tộc ở đây kêu là sông Ea Krông, cách hồ Ea Snô huyền thoại chỉ chừng 20 cây số về phía tây- bắc. Chưa kịp tới bản thì trời sẩm tối. Đêm ấy cũng là một đêm trăng đầu mùa khô như đêm nào ở Quảng Trị, ba anh em nhóm bếp nấu cơm rồi mắc võng theo thế chân vạc nằm ngắm trăng suông. Theo các già làng, ở vùng này là xứ sở của “chúa sơn lâm”. “Chúa” vồ người giữa ban ngày ban mặt, nhưng “chúa” sợ nhất các vật nhọn đầu. Vì vậy, trước khi nằm toòng teng trên võng ngắm trăng, chúng tôi đã phạt nhọn hàng chục cây rừng cắm xung quay võng. Tâm trạng sợ hổ vẫn cứ lan man trong đầu óc chúng tôi. Nhưng do đã được “chiêm ngưỡng” hình hài “ông ba mươi” ở Quảng Trị và suốt ngày cuốc bộ, chúng tôi đi vào mộng mị lúc nào không hay. Giữa mùa khô, cánh rừng gần biên giới Căm-pu-chia này đêm đến cũng lành lạnh, tôi ngồi dậy lục trong bồng lấy tấm đắp để đắp thì thấy ngay con hổ đang ngồi chồm chỗm gầm gừ ở giữa ba chúng tôi, cách mỗi đứa chỉ chừng mươi mét. Giá không có những cọc vót nhọn kia thì chắc chắn “ổng” đã quắp một trong ba đứa. Tôi giặng lên mấy tiếng, vừa để dọa lại “ổng” vừa để đánh thức thằng Xuân và Cẩm. Chắc hai tay này không té ra quần như lần trước nên chúng hắn cứ hú hòa dộ lại “ổng” mỗi khi “ổng” quay về mỗi đứa gầm ghè. Tuy chúng tôi không “leo lên lưng cọp” như người đời vẫn nói, nhưng không thể chạy được!. Trong ba đứa chúng tôi, tôi là tổ trưởng nên lời nói của tôi lúc này là mệnh lệnh của quân đội. Tôi gọi như hét lên:..

19/08/2023 lúc 16:57
N
ăm 1972, chiến trường Quảng Trị không chỉ sôi động bởi cuộc chiến đang hồi kết thúc mà còn háo hức tưng bừng trên diễn đàn báo chí thi ca làm xao động lòng người.
Trong những căn hầm chật chội nấp bên những bờ tre thưa lá, nhiều anh chị em văn nghệ sĩ xin được tá túc cùng ăn cùng ở với bộ đội ta để khai thác tư liệu cho tác phẩm. Vì thế trong những ngày tháng sôi động ấy, thường xuyên xuất hiện trên các trang báo với nhiều thể loại ngợi ca mảnh đất con người Quảng Trị gan góc, dạn dày mà cả nước biết đến như một chiến trường ác liệt nhất. Trong hoàn cảnh ấy, tôi đã gặp, đã sống với nhiều nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ nổi tiếng một thời.
Ấn tượng trong tôi ngày đầu là một bất ngờ thú vị. Người giao liên với khẩu AK mang chéo trước ngực dẫn theo một anh bộ đội cao lớn đến gặp tôi trước cửa căn hầm mới dựng. Anh giao liên nhỏ nhẹ giới thiệu: - Đây là nhà thơ Thu Bồn mới vào chiến trường muốn về tìm hiểu vùng đất Gio Linh, mong các anh giúp đỡ. Tôi hơi ngờ ngợ trước diện mạo của khách. Cứ nghĩ, nhà thơ phải là con người mảnh khảnh có nét thư sinh, sao đây là một ông bộ đội cao lớn đồ sộ thế kia. Trông dáng dấp như là vị sư trưởng hơn là nhà thơ. Thu Bồn, tôi biết anh là tác giả của trường ca "Bài ca chim Chơ - rao" và bài thơ "Gởi lời con đến cùng cha" có câu:
Có người thợ dựng thành đồng
Đã yên nghỉ tận sông Hồng mẹ ơi!
Theo trí nhớ của tôi chỉ đến vậy.
Trong bộ quần áo 8-3 bạc màu với chiếc túi đựng mìn Claymo, chiến lợi phẩm bộ đội tặng cho để đựng bản thảo. Sau phút giây làm quen vội vã theo tác phong của những người lính, tôi đưa anh ra mỏm đá bên bến sông ngồi chuyện trò làm quen. Anh nói chuyện có duyên đến lạ. Cánh thanh niên như tôi nghe anh nói là mê ngay. Anh có giọng đọc thơ hút hồn. Đây là một khúc trong trường ca mà anh đọc tôi nghe, sang trọng lắm, đến giờ tôi vẫn thuộc như in:
"Xưa kia tráng sĩ hề da ngựa
Ta nay uống cạn mấy rừng mưa
Độc huyền tráng sĩ xưa ca cẩm
Ta ôm xích đạo gãy vòng cung
Ta như con dế nằm trên cỏ
Đợi uống từng đêm giọt ngọc sương
Châu báu trọn đời con dâng mẹ
Là trái tim đau lấm bụi đường...”.
Chừng ấy cũng đủ làm cho tôi, một anh lính trẻ mê văn chương thi phú ngẩn ngơ, coi anh như một thần tượng cứu cánh tâm hồn lãng tử của tôi. Tôi tò mò hỏi anh: Sao anh lấy dòng sông Thu Bồn để đặt cho bút danh của mình. Anh cười bảo rằng đó là con sông quê thấm đẫm huyền thoại về mối tình của chúa thượng Nguyễn Phúc Lan và cô thôn nữ hái dâu trở thành hoàng hậu. Câu chuyện tình đã đi vào tâm hồn anh từ thời thơ trẻ.
Vào chiến trường, dạo ấy, anh viết nhiều thơ. Tôi còn nhớ bài thơ viết về người mẹ Gio Linh có nhiều câu đậm chất ca dao:
Trưa nằm trên chiếc võng đưa
Con nghe tiếng mẹ xa xưa vọng về
Mái tôn che quá nặng nề
Con nghe gió tự bờ tre thổi vào...
Tiếng ru như tiếng con đòi
Bao đêm sữa mẹ chảy ngoài môi con
Những câu thơ nằm lòng tôi cho tận bây giờ...

19/08/2023 lúc 16:57
1 – Tiềm năng vượt trội
N
gay từ khi thành lập (Tại nghị định 174/2004/ NĐ – CP ngày 01/10/2004) và chính thức đi vào hoạt động từ 18/4/2005 Chính phủ đã có chủ trương đặc thù cho huyện đảo Cồn Cỏ là phát triển kinh tế kết hợp với củng cố quốc phòng – an ninh, trong đó ưu tiên xây dựng Cồn Cỏ trở thành hòn đảo du lịch biển/
Nằm ở biển Đông tỉnh Quảng Trị, huyện đảo Cồn Cỏ cách đất liền 13 – 17 hảy lý. Điểm gần nhất là Mũi Lay thuộc xã Vĩnh Thạch huyện Vĩnh Linh 13 hai lý; cách cửa biển Cửa Tùng 15 hải lý và Cửa Việt 17 hải lý. Đảo Cồn Cỏ vì vậy được quy hoach là một đỉnh trong tam giác phát triển du lịch Cửa Tùng – Cửa Việt – Cồn Cỏ, nằm trong cụm du lịch phát triển phía bắc của tỉnh Quảng Trị. Nằm án ngữ ở cửa ngõ phía Nam của Vịnh Bắc Bộ, vì vậy trong quá khứ, hiện tại cũng như tương lai, lúc nào Cồn Cỏ cũng có ý nghĩa chiến lược trọng yếu trong mối quan hệ kinh tế – lãnh thổ và quốc phòng – an ninh của đất nước. .............

19/08/2023 lúc 16:57
T
ôi không rõ ngày ấy những bạn cùng lớp 8D với mình có bao nhiêu người mơ ước trở thành kỹ sư, bác sĩ, nhà báo, nhà văn? Riêng tôi cứ mơ ước âm thầm và nồng nhiệt rằng mình nhất định sẽ trở thành một giáo viên dạy văn. Mười sáu tuổi ai cũng tóc xanh, mắt biếc, còn là học sinh cấp III trường huyện. Tự hào lắm!
Trong màn sương hồng kỷ niệm của tuổi mười sáu, trường cấp III còn lưu giữ trong tôi hình ảnh ngôi trường hai tầng toạ lạc trên đồi cao giữa thị trấn Hồ Xá, trước mặt là cánh đồng và dòng sông Sa Lung trong xanh. Trường cấp III Vĩnh Linh ngày ấy, ngôi trường trung học phổ thông đầu tiên của miền Bắc XHCN ở đầu cầu giới tuyến, mang tầm vóc và ý nghĩa lịch sử của cả một vùng đất. Học sinh của trường không chỉ người Vĩnh Linh mà còn có con em của đồng bào miền Nam từ Thừa Thiên Huế trở ra. Và trong từng giờ học, giọng giảng bài, đọc thơ của các thầy các cô đã thấm vào trí não trong trẻo và da thịt hồng hào của chúng tôi. Ngọn gió nào thổi vào lớp học của chúng tôi cũng nhuốm màu lãng mạn và trong ngọn gió lãng mạn ấy còn nguyên tươi một cuộc chia ly màu đỏ của Nguyễn Mỹ...
Mười bốn giờ ba mươi phút ngày 8/2/1965 máy bay Mỹ dội bom xuống xưởng chế biến chè Bến Hải, xưởng gỗ Lê Thế Hiếu, Trường cấp III và Đài anh hùng. Thầy Lê Duy Minh của chúng tôi, thầy giáo dạy văn giỏi của Trường và tám bạn học sinh đã bị bom Mỹ giết hại. Đã năm mươi năm trôi qua, nhưng tôi vẫn còn nhớ mãi cái khung cảnh bi thương và da diết khi cùng các thầy các cô, bạn bè và phụ huynh đưa thi hài thầy Lê Duy Minh và tám bạn học sinh về nơi an nghỉ cuối cùng.
Ngày thống nhất đã đến 34 năm rồi. Trường cấp III Vĩnh Linh đến mùa thu này tròn năm mươi năm tuổi. Thầy Lê Duy Minh, tám học sinh và trên năm ngàn người dân Vĩnh Linh đã ngã xuống cho cầu Hiều Lương nối nhịp. Có nơi nào trên trái đất này mỗi người dân phải gồng mình gánh chịu trên bảy tấn bom đạn để tồn tại và tái sinh như ở Vĩnh Linh không? Và cũng chưa có một huyện nào được làm nhiệm vụ chiến lược của một đặc khu hơn 20 năm, được Nhà nước phong tặng 23 đơn vị anh hùng, 18 cá nhân anh hùng, được Bác Hồ tám lần gửi thư khen. Mảnh đất nghèo nhưng bao hy sinh và anh hùng đã cùng cả nước làm tất cả để bắt nhịp cầu cắt chia thành những nhịp cầu vui nối liền mãi mãi.
Sau sự kiện máy bay Mỹ ném bom xuống thị trấn Hồ Xá, trong tình trạng cả nước có chiến tranh, để bảo vệ nguồn lực, thực hiện chủ trương của Khu uỷ, trường cấp III Vĩnh Linh chia thành ba phân hiệu sơ tán về học ở xã Vĩnh Trung gọi là phân hiệu 1, Vĩnh Long phân hiệu 2 và Vĩnh Tân phân hiệu 3. Bạn bè cùng lớp mới quen biết nhau qua một học kỳ nay lại phải chia tay, nên ai cũng lưu luyến, bịn rịn. Tôi nhớ mãi hình ảnh Nguyễn Thị Bích Hải cứ ôm lấy Nguyễn Thị Nghĩa một bạn gái cùng lớp người xã Vĩnh Tân vừa cười, vừa khóc trông thật tội nghiệp. Trước khi về Vĩnh Tân, các lớp thuộc phân hiệu 3 phải học nhờ trường trung cấp nông nghiệp huyện tại xã Vĩnh Hoà vào ban đêm. Thế là suốt học kỳ II cứ bốn giờ chiều là học sinh thuộc các xã vùng đông Vĩnh Linh, ăn cơm sớm mang theo đèn dầu đi lên xã Vĩnh Hoà để học. Buổi học ban đêm thường bắt đầu từ 5h30 đến 9h30. Những hôm trời tạnh và có trăng thì không sao, nhưng những lúc gặp trời mưa, đường trơn lại phải leo dốc thì vất vả không tưởng tượng được. Có đêm trời mưa, học xong cả bọn bám vai nhau mò mẫm về đến nhà thì đã 12h đêm. Đấy là chưa kể trường hợp có đứa trượt chân ngã lấm lem cả quần áo, sách vở, đèn dầu, hôm sau phải vào chợ Do mua lại. Có một câu chuyện buồn cười mà đến giờ các học sinh cũ của lớp 8D ngày ấy vẫn còn nhớ là trường hợp Ngô Thị Huệ người cùng làng với tôi, sau khi nghe thầy Tình giáo viên dạy môn Sinh kể câu chuyện khoa học viễn tưởng: “Đầu giáo sư Oen” sợ quá, đêm nào cũng bắt cả bọn đem về tận nhà. Thế là hàng đêm bọn con trai phải thay nhau đưa Huệ về tận ngõ mới thôi. Bù lại, cả bọn chiều nào cũng được ăn ổi, vì nhà Huệ trồng rất nhiều ổi.
Năm học lớp 9, phân hiệu 3 chuyển về xã Vĩnh Tân, sát đường 70 về bãi tắm Cửa Tùng bây giờ. Để chuẩn bị cho năm học mới trong điều kiện chiến tranh, sau khi dựng xong phòng học, lớp nào cũng lao động một tháng để đào hầm hào phòng tránh. Phòng học là những hầm lán sâu một mét, có trần trát bằng đất để tránh bom bi. Hai bên phòng học có những đường giao thông hào ăn liền với hệ thống hầm ếch, hầm chữ A, địa đạo để thầy trò ẩn nấp khi có máy bay ném bom hoặc pháo hạm của Mỹ từ biển bắn vào. Tôi nhớ có bạn đang giờ ra chơi, bất thần pháo hạm của Mỹ từ biển bắn vào, cả lớp ùa nhau chạy xuống giao thông hào để tìm hầm ẩn nấp. Hết đợt pháo kích, mọi người lại vào lớp tiếp tục học thì thấy thiếu hai người là Ngô Thị Huệ và Ngô Thị Thành. Tưởng hai người có mệnh hệ gì, cả lớp nháo nhào chạy đi tìm. Mãi lúc sau mới phát hiện cả hai người đang cố tìm cách leo lên trong cái giếng cạn của nhà ông thợ rèn. Thì ra vốn đã nhát, khi nghe pháo hạm nổ, cả hai người phát hoảng, không chạy xuống giao thông hào để tìm hầm tránh mà chạy tuốt vào xóm nhà dân và nhảy đại xuống giếng lấp trong vườn nhà ông thợ rèn. Thật là một phen hú vía!...

19/08/2023 lúc 16:57
T
rước khi thuộc về người Việt (đầu thế kỷ XI và nửa đầu thế kỷ XIV), vùng đất Đông Hà hiện nay về cơ bản là một phần của đất châu Ô (phía nam sông Hiếu) và châu Ma Linh (phía bắc sông Hiếu) của vương quốc Chămpa. Sau năm 1069, một phần đất của Đông Hà hiện tại nằm phía bắc sông Hiếu thuộc châu Ma Linh sát nhập vào bản đồ Đại Việt. Để hợp thức hóa lãnh thổ, năm 1075, nhà Lý cho đổi châu Ma Linh thành châu Minh Linh (1), đặt quan cai trị, chiêu mộ nhân dân đến khai thác. Tuy nhiên, thời gian này do hoàn cảnh chiến tranh liên miên nên người Việt vẫn chưa vào đến vùng đất phía bắc sông Hiếu .
Cuối thời Trần, suốt thời Hồ, thời thuộc Minh và đầu đời Lê sơ, vùng đất Đông Hà hiện nay là một phần của huyện Lợi Điều thuộc châu Thuận, trấn/ phủ/ lộ Thuận Hoá (2) (và có thể là một phần của huyện Dạ Độ thuộc châu Minh Linh (từ năm 1407 đổi thành châu Nam Linh), trấn/ phủ/ lộ Tây Bình/ Tân Bình ở phía bắc sông Hiếu). Tuy nhiên, trên thực tế, vùng đất Đông Hà thời kỳ này chủ yếu là các làng Chăm còn ở lại sống cộng cư với các nhóm chiến binh Việt. Các làng Việt và cư dân Việt còn rất thưa thớt. Phải đến sau năm 1471, với chiến dịch của Lê Thánh Tông đánh chiếm kinh đô Vijaya, kéo biên giới Đại Việt vào tận Phú Yên, kết thúc sự tồn tại của vương quốc Chămpa; đồng thời mở ra một trào lưu di dân mạnh mẽ của người Việt tiếp tục vào khai phá vùng Thuận - Quảng, thì vùng đất Đông Hà hiện nay mới đồng loạt xuất hiện nhiều làng/ xã của người Việt.
Từ năm Quang Thuận thứ 10 (1469), sau khi vua Lê Thánh Tông cho định lại bản đồ của các phủ, châu, huyện, xã, trang sách thuộc 12 thừa tuyên trong cả nước, châu Nam Linh đổi làm huyện Minh Linh (gồm 8 tổng, 63 xã), thuộc phủ Tân Bình. Châu Thuận cải đặt thành hai huyện: Hải Lăng (gồm 7 tổng, 75 xã) và Vũ Xương (8 tổng, 53 xã) cùng với 2 châu: Sa Bôi (10 tổng, 68 xã) và Thuận Bình (6 tổng, 26 xã) ở miền Tây, thuộc phủ Triệu Phong nằm trong thừa tuyên Thuận Hóa (3). Đông Hà vào thời Lê - Mạc thuộc huyện Vũ/ Võ Xương (tương ứng với huyện Triệu Phong nay), châu Thuận, thừa tuyên Thuận Hoá. Theo sách “Ô châu cận lục”, vào giữa thế kỷ XVI, huyện Võ Xương có 59 xã/ làng thì trên đất Đông Hà đã có các làng/ xã như sau: Hướng Ngao (sau đổi là Điếu Ngao), Hạ Đô, Thượng Đô (sau đổi là Thượng Nghĩa), Trung Chỉ, Thượng Độ, Hạ Độ (sau đổi là Đại Độ), Nghĩa Đoan (sau đổi là Nghĩa An), Vĩnh Phước, Thiên Áng, Tiểu Áng (sau đổi thành Đại Áng), Lai Cách (sau đổi là Lai Phước), Vĩnh Phúc/Vĩnh Phước, Liên Trì (sau đổi là Tây Trì) (4).
Đông Hà thời các chúa Nguyễn theo Lê Quý Đôn trong sách “Phủ biên tạp lục” là đất của hai tổng An Đôn và tổng An Lạc thuộc huyện Đăng Xương, phủ Triệu Phong, xứ Thuận Hoá.
Thuộc tổng An Đôn có các xã, phường sau: Vĩnh Phúc (tức Vĩnh Phước), Lai Phúc (tức Lai Phước), Vân An, Đại Áng, Trung Chỉ, Lập Thạch, Phưng Lương, Phú An, Lãng Phúc, Điếu Ngao, Đông Hà, Liên Trì (tức Tây Trì), Đông Vu (tức Đông Lai), Thượng Đô (tức Thượng Nghĩa), Thiết Trường tử chính, Thiết Trường hạ phường, Sơn Trập, Sơn Bàng, An Trung ngũ giáp.
Thuộc tổng An Lạc có các xã phường sau: An Lạc, Nghĩa An, Thanh Lương, Đình Tổ, Thượng Độ, Hạ Độ (tức Đại Độ), Thiết Trường (tức Thiết Tràng) (5).
Năm 1801, Nguyễn Ánh sau khi đánh bại triều đại Tây Sơn, lên ngôi Hoàng đế, (tháng 8 năm 1801) đã cho tổ chức sắp xếp lại các địa danh hành chính trong cả nước. Trong bối cảnh đó, Quảng Trị cũng được sắp xếp lại bằng việc Gia Long cho lấy hai huyện Hải Lăng, Đăng Xương thuộc phủ Triệu Phong và huyện Minh Linh thuộc phủ Quảng Bình, đặt thành dinh Quảng Trị. Công đường và lỵ sở của dinh Quảng Trị được đặt tại khu vực Trà Bát - Ái Tử nằm sát nách các xã thuộc vùng đất Đông Hà ở phía nam. Riêng phía tây lại đặt đạo Cam Lộ, mọi việc cống Man, thuế Man ở đạo Cam Lộ đều lệ vào Quảng Trị (6).
Đất Đông Hà lúc đó phần lớn thuộc huyện Đăng Xương. Phía tây huyện Đăng Xương là đạo Cam Lộ. Đất của phường Đông Thanh (có thể là cả Đông Giang) hiện nay lúc đó thuộc đạo Cam Lộ. Thành đạo Cam Lộ lúc đó đóng ở làng Nghĩa An. Thành được đắp bằng đất bốn mặt thành tạo thành một chiến luỹ kiên cố (7)....

19/08/2023 lúc 16:57
Sau thắng lợi ở 935, Sư đoàn được lệnh phát triển tiến công tiêu diệt căn cứ Coóc Bai. Điểm cao Coóc Bai nằm trên đường ranh giới hai tỉnh Quảng Trị - Thừa Thiên, cách đông bắc căn cứ 935 khoảng 9km, diện tích trên đỉnh không lớn, sườn dốc đứng nên dung lượng chứa quân không bằng 935.
Coóc Bai nằm kẹp giữa con sông Ô Lâu và Mỹ Chánh, Coóc Bai vừa là một căn cứ pháo binh, vừa là căn cứ hành quân của Trung đoàn 1, Sư đoàn 1 nguỵ Sài Gòn. Được xây dựng cùng thời điểm 935, căn cứ 935 là lá chắn cho Coóc Bai. 935 bị đạp vỡ, Coóc Bai trở thành căn cứ vòng ngoài chiến tuyến phòng thủ sông Bồ của địch, trên Coóc Bai có tiểu đoàn 3, Trung đoàn 54, tiểu đoàn 1, Trung đoàn 1 nguỵ và một trận địa pháo.
Xung quanh Coóc Bai có tiểu đoàn 1 dù Mỹ ở điểm cao 316, tiểu đoàn 2 ở Củng Cáp, tiểu đoàn 2 và 3 Trung đoàn 1 ở khu vực Động Ngãi, Cô Pung và CôVaLaĐạt. Pháo binh chi viện cho Coóc Bai có căn cứ Chiêm Dòng 267 Củng Cáp 316, 700 và các trận địa pháo tầm xa ở đồng bằng. Khi Coóc Bai bị tấn công, địch có điều kiện tăng quân nhanh để giải toả.
Sau khi cứ điểm 935 bị tiêu diệt 1 ngày Tổng thống Việt Nam cộng hoà Nguyễn Văn Thiệu đáp trực thăng xuống căn cứ Coóc Bai lên giây cót cho bọn lính nguỵ bị cô lập. Thiệu nói: “Bọn mũi lõ bỏ chạy, quân lực Việt Nam cộng hoà chúng ta quyết không chạy phải tử thủ đến cùng” Cánh quạt trực thăng của Tổng thống phải quay liên tụ sẵn sàng cất cánh để đưa Thiệu đi ngay tránh ăn đạn pháo của quân giải phóng. Lúc đó là 15 giờ ngày 29/8/1970.
Trận địa phòng ngự của địch xây theo tuyến dọc trên điểm cao bên bờ hai con sông, lấy Coóc Bai và 935 làm điểm hội tụ, để từ đây chúng có thể vươn tới bất kỳ mảnh đất nào ở tây đường 12. Vì vậy, Coóc Bai là vị trí chiến lược quan trọng mà địch quyết giữ bằng được. Song sau khi căn cứ 935 mất Coóc Bai thành khu vực độc lập, không cho phép địch dễ dàng chi viện cho nhau bằng bộ binh. S
Trung đoàn 3 được Bộ Tư lệnh Sư đoàn giao nhiệm vụ là lực lượng chủ yếu tiến công dứt điểm căn cứ Coóc Bai, phối hợp với Trung đoàn có tiểu đoàn 1 Trung đoàn 6 (Thừa Thiên) và Tiểu đoàn 7B đặc công.
Đội hình tác chiến: Tiểu đoàn 9 cùng Tiểu đoàn 1 (Thừa Thiên) có nhiệm vụ vây lấn từ hướng đông Nam sang tây Nam Coóc Bai.
Tiểu đoàn 7 và tiểu đoàn đặc công 7B bố trí ở Coóc Muộn và điểm cao 1314 sẵn sàng phát triển sang điểm cao 787, 884, Coóc Pe-Lai để đánh địch đổ bộ đường không phía sau hậu phương ta.
Tiểu đoàn 8 sẵn sàng đánh địch phản kích ở Quảng Trị vào. Phương châm chỉ đạo tác chiến là vây điểm, diệt viện, lấy mục tiêu diệt địch đóng dã ngoại là chính.
Trên cơ sở nhiệm vụ được giao Đảng uỷ các tiểu đoàn họp quán triệt quyết định phương án tác chiến và làm tốt công tác chuẩn bị chiến đấu.
16 giờ ngày 6/8 vào thời điểm nắng nóng trong ngày hè, lúc Mỹ - nguỵ đang căng thẳng nhất về tâm lý và tinh thần. Trung đoàn trưởng phát lệnh tiến công. Các trận địa hoả lực đồng loạt dội lửa xuống Coóc Bai, hàng chục tên nguỵ đang giành nhau nước tắm bị trúng đạn, 4 khẩu pháo 105 bị hất nghiêng sang bờ công sự, một số công sự bị phá, trận tập kích hoả lực đầu tiên vào Coóc Bai kéo dài 30 phút, gây thiệt hại nặng cho đại đội Nguỵ cùng với bọn chỉ huy tiểu đoàn 1, Trung đoàn 54 Nguỵ, một trận địa pháo bị phá huỷ.
Mười phút sau khi pháo ta phát hoả, các trận địa pháo của địch ở các điểm cao 367, 316, 700, Củng Cáp quay nòng vãi đạn suốt đêm vào khoảng rừng xung quanh Coóc Bai.
Từ ngày 7 đến ngày 12 tháng 8 địch liên tục đổ quân để giải toả Coóc Bai, các đợt đổ quân này đều bị Trung đoàn 6 Thừa Thiên đánh thiệt hại nặng. Ngày 13 tháng 8 chúng phải đổ bộ tiếp hai tiểu đoàn còn lại. Như vậy toàn bộ Trung đoàn 1 và tiểu đoàn 3, Trung đoàn 54 ngụy đã có mặt ở Coóc Bai...

19/08/2023 lúc 16:57
Đ
ình - Chợ làng là một khái niệm đã ăn sâu vào tâm thức của mỗi người dân quê Quảng Trị. Từ bao đời nay người ta nhắc đến đình là gắn liền với khái niệm chợ như khu đình và chợ làng Bích La, khu đình và chợ phiên Cam Lộ, khu đình và chợ làng Câu Nhi...
Qua khảo sát thực tế ở một số chợ làng Quảng Trị chúng tôi thấy rằng hầu hết các chợ làng đều được nhóm họp cạnh hoặc trước đình làng. Tuy nhiên đa số các chợ làng đều ra đời muộn hơn đình làng. Chính vì nằm cạnh hay trước các đình làng nên mặc dù khác nhau về mặt cấu trúc, sinh hoạt nhưng chợ và đình làng có mối quan hệ nhất định với nhau về mặt không gian, cảnh trí cũng như địa điểm.
Về mặt không gian, đình gắn với làng là trung tâm sinh hoạt tinh thần của một làng. Đình là biểu tượng tập trung nhất của làng trên tất cả mọi phương diện. Trước hết, nó là một trung tâm hành chính, là nơi hội họp, nơi diễn ra mọi công việc quan trọng của làng... Đình cũng là trung tâm văn hoá, là nơi tổ chức các lễ tiết, hội hè, tiệc tùng, nơi biểu diễn văn nghệ truyền thống. Ngoài ra, đình còn là trung tâm tôn giáo tín ngưỡng, tất cả các yếu tố phong thuỷ như: thế đất, hướng đình... đều có tác động chi phối đến vận mệnh của cả làng, là nơi thờ Thành Hoàng - vị thần bảo hộ cho làng. Và cuối cùng đình cũng là điểm tựa, nơi bám víu tình cảm của mọi gia đình và các cá nhân thành viên trong làng, là một trong những chất keo kết dính tính cộng đồng, làng xã.
Dựa vào những lợi thế về vị trí của đình và sự tập trung mọi thành viên trong làng đến sinh hoạt tại đình mà nhân dân đã sử dụng địa điểm này để họp chợ. Ngày xưa khi dựng đình làng người dân thường để một khoảng đất trống có diện tích khá rộng trước đình để làm nơi tổ chức các lễ tiết hội hè, tiệc tùng... vào những ngày lễ hội của làng. Những ngày lễ hội này được tổ chức một lần hoặc hai, ba lần trong một năm còn các ngày còn lại trong năm không tổ chức gì thì khoảng đất đó để trống. Nếu người ta cho trồng các loại cây rau màu, khoai, sắn... nơi đây thì khi cần lấy lại không gian để tổ chức các buổi họp làng đột xuất hoặc định kỳ rất khó khăn và tốn kém. Chính vì vậy, người ta tận dụng khoảng trống đó để cho họp chợ là thích hợp. Việc nhóm họp chợ ở đây chỉ đơn thuần vài ba gánh hàng của người dân địa phương đến để trao đổi những nhu yếu phẩm cần thiết trong cuộc sống hàng ngày. Hơn nữa, chợ được dựng lên ở đây tạm bợ mang tính chất “dã chiến” nếu khi cần không gian đó để sử dụng thì chợ sẽ trả về vị trí cho đình làng nên rất thuận lợi trong việc tæ chức các buổi họp của làng ở đình. Ban đầu chợ được nhóm họp mang tính chất tạm thời như vậy về sau lâu dần người mua bán ngày càng đông đúc, các lều quán được dựng lên nhiều hơn. Chợ bắt đầu hình thành dần và ổn định phát triển ngay trước cổng đình. Sự hình thành và phát triển đó của chợ được sự chấp nhận của dân làng và chính quyền địa phương nên việc tổ chức trong chợ được thiết lập với nhiều bộ phận để quản lý chợ.
Bên cạnh đó, chợ làng còn dựa vào vị trí của đình, đình thường dựng ở các trung tâm, các trục đường giao thông có nhiều người qua lại, gần các con sông uốn khúc bởi dòng sông ngày xưa là mối giao thông quan trọng của người dân trong vùng. Chính dòng sông đã trở thành mạch nguồn chuyển tải các yếu tố văn hoá, để lắng đọng trong nhận thức, tư duy của người dân. Từ đó sản sinh ra những nét văn hoá chợ độc đáo mang sắc thái riêng biệt của vùng quê Quảng Trị. Đặc biệt đình còn là ngôi nhà chung của mọi thành viên trong làng. Sinh hoạt ở đình làng là một nét văn hoá đã xuất hiện từ lâu trong đời sống của người dân nên mọi người đều tập trung ở đình rất thường xuyên không chỉ trong những ngày diễn ra các kỳ lễ tết mà cả ngày thường vì vậy thuận lợi cho việc nhóm họp chợ. Khi chợ đã phát triển ổn định thì trở lại phục vụ cho yêu cầu sinh hoạt cúng lễ của đình. Chợ cung cấp các loại hàng hoá cần thiết cho những buổi cúng lễ của đình như: hương đèn, hoa quả, giấy vàng bạc... Do vậy, đình làng có tác dụng rất lớn trong quá trình hình thành, tồn tại và phát triển của chợ làng...

19/08/2023 lúc 16:57
T
ừ khai thiên lập địa của thời kỳ nguyên đại địa chất thứ hai. Trong cái địa thế cát lập ấy. Một nguồn nước được hình thành bởi những làn mưa mỏng ban đầu và những màn sương ngọt ngào từ trong sâu thẳm của thời gian, thấm đẫm dần thành những mạch nguồn âm thầm rả rích, rồi chung sức chảy thành một nguồn nước. Dần dần nguồn nước ấy có chiều kích thành một dòng sông vươn dài ra biển cả.
Năm tháng âm thầm đằng đẵng. Dòng nước cứ lặng lờ trôi qua các bờ bãi bình yên. Lắm lúc ào ạt, bứt phá, lao phóng xuống những ghềnh thác cheo leo hiểm trở. Bình trôi hay dữ dội; hung hãn hay đằm thắm âu cũng là tướng mạo và số phận cố hữu của một dòng sông không tên tuổi. Thế rồi, một sáng tinh sương giữa đất trời, con người men đến dòng nước để tìm tòi, khám phá và nương náu. Dòng nước trong lành ấy đã giúp con người có nước uống; cơm ăn; có phù sa bồi đắp bờ bãi; có nước trong tắm, tưới hoa màu. Dòng nước dâng hết sức mình cho hoa lá đôi bờ; cho cuộc sống con người tươi xanh để khỏi phụ lòng cha trời mẹ đất hào hiệp sinh ra. Tấm lòng hào phóng tận tâm ấy - con người vốn mang nặng ân tình - đã ban tặng cho dòng nước hiền thục mầu nhiệm với cái tên yêu quý là: Hiếu Giang(1).
Hiếu Giang, dòng sông thơm thảo hiếu tình, từ ngày ơn nặng sinh thành, như người con gái được về nhà chồng yêu quý, bâng khuâng hớn hở lạ thường. Tinh thần phấn chấn ấy đã sinh sôi bao điều, nâng tầm dòng sông lên mọi mặt. Dòng sông thao thức, trăn trở, vươn mình để bắt kịp với nhịp sống văn hoá văn minh vốn được con người khai hoá.
Quả vậy, cái ngõ ngách; cái thai nghén của các nền văn minh nhân loại được bắt nguồn và hình thành từ những dòng sông...
Hiếu Giang là một dòng sông nhỏ bé, không được như trường giang kỳ vĩ Amazone; không như sông Nil; cũng chẳng sánh nổi với “Quân bất kiến Hoàng Hà chi thuỷ thiên thượng lai”...
Hiếu Giang phát xuất ở triền Bắc “Động Sá Mùi” có độ cao 1.300m. Đây là “Tháp nước” trên mái nhà chung của Quảng Trị và Sêpôn của Việt Nam và nước bạn Lào.
Từ cội nguồn thoát thai: bôn ba, trôi nổi, bồng bềnh, lãng du để về hội ngộ với vạn sống trùng khơi; về chan hoà cái ngọt ngào, trong veo của mình với cái mặn mà chan chứa của biển Đông. Hiếu Giang còn được tiếp sức từ các phụ lưu: “Nác Rào” của dòng Rào Quán; của dòng Sébanghiêng; của dòng Sesamy. Lại càng mạnh mẽ và dạt dào hơn khi hợp với sông Trinh Hinh- phát xuất từ “”Động La Ruông” ở độ cao 1.139m; hơn thế nữa khi về đến ngã ba làng Gia Độ cách cầu Đông Hà trên tuyến đường Quốc lộ 1A về phía Đông khoảng ba cây số thì nhập dòng với sông Thạch Hãn rồi cùng nhau chảy về Cửa Việt. Trên đường về biển, sông còn có một chi hà chảy ra phía Bắc để bắt tay với hạ lưu sông Bến Hải. Nhờ thế, Hiếu Giang mới có một lưu vực rộng đến 460 cây số vuông...
Thầm nghĩ: Sông lớn đến mức nào; sông nhỏ đến độ nào đều có những tơ vương gắn bó, những dấu ấn trong tâm thức của dân sinh sống ven bờ.
Đêm nằm nghe bản trường ca thác đổ- đầu nguồn bên bờ sông Hiếu (Cam Lộ)- giữa đại ngàn thâm u hùng vĩ của núi rừng Trường Sơn. Những màn trăng pha sương tắm gội cho ngàn cây, tràn qua kẻ lá, trôi nổi bồng bềnh, uốn khúc rồi vội vã thả vào cùng thác đổ. Nước chở trăng đi. Trăng cỡi nước về chơi dạo miền xuôi. Thật là thơ mộng! Thật là hoang dã! Đã những ngàn năm như thế - hùng thiêng vời vợi...
Cùng giữa thời gian không gian ấy, các cư dân bản tộc họ sống với nương rẫy, với suối sông một cách nhọc nhằn vất vả mà thấy họ vẫn an nhiên tự tại. Họ sống gần như nguyên bản cội nguồn. Cái dốc kia lên nương rẫy, cái hố nọ xuống thác ghềnh như bạn đời thân quen với họ. Một miếng thịt rừng, một con cá suối, một chồi măng non, lá cây lá rau rừng, một tai nấm mốc, một trái cây rừng như là lương thực cho người dân nơi này. Núi rừng hào phóng đã ban sẵn như vậy. Khi dồi dào dành dụm, lúc ít ỏi tự cung tự cấp. Họ cho thế là đủ, là thoả đáng những gì có được trong thực tại. Cuộc sống không mơ ước gì hơn vì chẳng lấy đâu ra, làm gì được trong bốn bức tường rừng núi. Họ sống gắn bó với núi rừng, khe suối; với muông thú như tim óc như máu thịt, như hơi thở của mình...

19/08/2023 lúc 16:57
T
rong rất nhiều dấu tích, di tích người Chàm để lại trên đất Quảng Trị, Hệ thống khai thác và xử lý nước cổ ở xã Gio An còn lại khá nhiều và tương đối nguyên vẹn.
Hệ thống giếng cổ này bao gồm hơn 30 giếng nằm rải rác ở bắc nam đường 75 (Km 7,8) thuộc địa phận năm thôn: An Nha, An Hướng, Hảo Sơn, Long Sơn, Tân Văn...
Đây là những công trình khai thác nước ngầm, sử dụng phương pháp xếp, kè, đẽo đá rất điêu luyện của các thế hệ người Chàm, Việt trên vùng gò đông miền tây Gio Linh và một số nơi khác như Vĩnh Linh, Cam Lộ, Đông Hà.
Đặc điểm kỹ thuật nổi bật của hệ thống khai thác nước là các công trình đều xây dựng theo phương thức xếp, kè và đẽo bằng đá bazan mà dân địa phương gọi là đá ong hay đá mồ côi.Chúng được sử dụng ở đây không chỉ là xếp, kè nhằm tạo ra các bể vách ngăn dưới dạng đá gốc hay tạo ra các máng dẫn, bi giếng, đá phiến lót thành giếng thông qua kỹ thuật chế tác gọt đẽo ở các bộ phận chính của giếng mà còn được dùng kè các bậc cấp, đường lên xuống, hệ thống mương dẫn và bờ ruộng bậc thang. Các công trình đều cùng một mục đích là khai thác nguồn nước ngầm để thực hiện hai chức năng: Cung cấp nước cho sinh hoạt và trồng trọt.
Về khái quát, hệ thống khai thác nước Gio An tập trung ba loại chính sau:
Loại thứ nhất: Là loại có cấu trúc hoàn chỉnh nhất. Đây là những công trình xây dựng qui mô, nhiều bộ phận kết hợp khá chặt chẽ, liên hoàn. Tất cả được phân thành ba hoặc hai bậc cấp với các bể chức năng khác nhau. Bậc cao nhất trên cùng là một bể lắng (hay bãi hứng) được xếp đá cuội, ở vách phía trên chừa các lỗ nhỏ cho nước thoát ra. Tiếp đó là bộ phận tràn và bể chứa, nước từ bể lắng chảy xuống bể chứa qua một bãi tràn có đặt các máng đá, máng đá này được chế tác từ đá bazan dạng nửa hình trụ bổ dọc, dài từ 1,3m - 1,5m, mặt trên có một đường rãnh chạy dọc dài theo thân để dẫn nước. Bể chứa hình tròn hoặc hình bầu dục được xếp đá xung quanh, phía ngoài có các đường cho nước thoát ra chảy vào các con mương. Bể chứa thường sâu từ 1-2m rộng từ 15 - 30m2. Đây vừa là nơi lấy nước sinh hoạt phục vụ ăn uống, vừa là nơi tắm giặt của con người. Cuối cùng là các kênh mương dẫn nhỏ được kè đá hoặc đắp bằng đất chạy ngoằn ngoèo, có nhiệm vụ nhận nước trực tiếp từ bể chứa rồi dẫn ra ruộng. Những giếng thuộc loại này tiêu biểu là: Giếng Đào, giếng Trạng (An Nha), giếng Côi, giếng Kình (An Hướng), giếng Máng (Long Sơn), giếng Gái (Hảo Sơn).
Loại thứ hai: Là giếng không có bể lắng, không có máng dẫn mà thường là các bể chứa nhận trực tiếp nước từ những mội nước (mạch nước) phun nổi có lưu lượng dòng chảy mạnh. Phía ngoài có cửa thoát nước ra mương dẫn hay chảy thẳng ra ruộng. Loại công trình này do chỉ có một bể chứa nên tất cả các sinh hoạt đều diễn ra ở trong lòng bể. Vì thế, để giữ vệ sinh người ta rải một số khối đá chắn ngang một phần ba phía trong với mục đích đào tạo ra một đường ranh giới qui ước, từ đó phần bên trong chỉ dành lấy nước ăn, phần bên ngoài là nơi tắm giặt. Những giếng thuộc loại này tiêu biểu là giếng Ông, giếng Tép (Hảo Sơn), giếng Nậy (Thanh Khê).
Loại thứ ba: Loại giếng này kết hợp giữa hình dạng giếng khơi cổ truyền ở vùng đồng bằng của người Việt và kỹ thuật xếp đá truyền thống tuân thủ theo nguyên tắc tự chảy của người Chàm. Giếng Pheo (Tân Văn) còn nguyên vẹn, được xây dựng ngay chân đồi bằng cách thả “bi giếng” xuống nơi có mạch nước ngầm tạo thành vách từ dưới đáy lên khỏi mặt đất, các bi giếng có hình trụ tròn, mặt ngoài khum, dạng hình tang trống cao chừng 0,4m, đường kính 0,5m dày 0,1m. Nền được xếp các phiến đá ong ghè đẽo sắc sảo. Mặc dù có sự khác biệt về cấu trúc đối với hai loại trên nhưng nó vẫn giữ nguyên tắc khai thác nước ngầm.
Hệ thống dẫn thuỷ cổ Gio An là một loại hình di tích độc đáo của Quảng Trị và cả nước, có giá trị về lịch sử, văn hoá và cả kiến trúc nghệ thuật. Đã có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến các công trình dẫn thuỷ cổ này như: M.Colani, Trần Quốc Vượng, Lâm Mỹ Dung, Lê Duy Sơn... Tuy có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn gốc, chủ nhân, niên đại... song giới nghiên cứu đều công nhận rằng đây là những sản phẩm văn hoá được hình thành bởi sự sáng tạo tuyệt vời của con người từ rất xa xưa.

19/08/2023 lúc 16:57
Đ
ảo Cồn Cỏ có tên gọi là Hòn Cỏ, Hòn Gió, Thảo Phú, đảo Con Hổ... Cồn Cỏ cách Cửa Tùng 30km về phía Đông Bắc, cách thôn Vĩnh Mốc 25km về phía Đông. Từ huyện đảo Cồn Cỏ nhìn về phía Tây sẽ thấy rõ màu xanh của rừng ven biển Cửa Tùng, Vĩnh Thái. Phía Tây Nam là dãi bờ ven sông Bến Hải.
Huyền thoại về hình thành Đảo thật mộng mơ: Có ông Thồ lồ (khổng lồ) gánh đất đắp nên dãy Trường Sơn. Một hôm đất đá nặng quá, đòn gánh gãy hai đầu đất rơi xuống. Một đầu thành đồi Lò Ren (xã Vĩnh Thuỷ bây giờ). Đầu kia văng ra biển thành một hòn Đảo, cây cỏ mọc xanh, tên gọi Cồn Cỏ muôn đời.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Cồn Cỏ đã đánh 841 trận, bắn rơi 48 máy bay, đánh chìm 17 tàu chiến, vinh dự được nhà nước hai lần tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, xứng đáng được Bác Hồ 3 lần gửi thư khen ngợi và đề tặng câu thơ:
“Cồn Cỏ nở đầy hoa thắng trận
Đánh cho tan xác giặc Hoa Kỳ”
Cồn Cỏ không chỉ chiếm vị trí quan trọng về mặt chiến lược đối với An ninh Quốc phòng mà còn có giá trị lớn về sinh học và kinh tế. Những ngày đẹp trời từ Vĩnh Mốc trong tầm ngắm mắt thường, Cồn Cỏ như một con rùa khổng lồ đang ngoi lên mặt biển. Trên Đảo có các loại rừng nhiệt đới với nhiều tầng cây cỏ làm cho Cồn Cỏ thực sự là hòn đảo xanh với các thảm thực vật phong phú.
Đã có nhiều đoàn khảo sát liên hợp của các trung tâm nghiên cứu, trường Đại học, chuyên gia của các nước... ra Cồn Cỏ khai quật khảo cổ, nghiên cứu khoa học và bảo tồn biển. Đoàn của cố giáo sư Trần Quốc Vượng và nghệ sĩ nhân dân Xuân Đàm ra Đảo từ tháng 7/1994. Tại đây đoàn đã tìm thấy đồ đá cũ trên dưới hai vạn năm ở vùng Bến Nghè và vùng Bến Tranh gồm các hiện vật thuộc các thời đại khác nhau như rìu đá mài nhọn cùng nhiều đồ sành sứ. Thực vật trên Đảo khá phong phú và những giống cây lạ mà đất liền không có. Ở Đảo có những loại cây thân vằn vèo nhiều đốt; cũng có cây giống như cây ổi nhưng to cao, gỗ cứng và nặng, khi xây xát nhựa chảy ra có màu đỏ gọi là cây “dầu máu”. Cây “dầu máu” dùng để ngâm rượu uống trừ phong rất tốt. Lại có loài khoai dại lá to hơn cả lá chuối, giúp người che nắng che mưa. Những rừng bàng vào mùa thu lá đỏ ối cả một vùng trên Đảo. Cây phong ba có sức kháng cự trước gió bão, đến mùa hoa nở trắng trông rất đẹp. Các loại cây đu đủ, chuối, bí... trồng ở đây lúc nào cũng xanh tốt. Thế giới động vật trên đảo không nhiều nhưng chủng loại khá độc đáo. Trên trời, những bầy chim én bay lượn gửi đến con người những tính hiệu bình yên. Dưới đất có nhiều loại rắn dùng làm được thuốc chữa bệnh rất tốt. Nhưng nổi tiếng vẫn là loài cua đá to bằng bàn tay, đã từng là món đặc sản cho lính biển những năm tháng chiến tranh. Bài hát “Con cua đá” của Ngọc Cừ và Phan Ngạn biểu hiện sự lạc quan của chiến sĩ Cồn Cỏ “Cồn Cỏ có con cá đua, là con cua đá - nó nằm trong đá, nó nằm trong khe, có tám cái que, có hai cái càng.... A... lính ta chiến đấu suốt ngày đêm. Có canh là canh cua đá - Càng bền sức trai...”
Đứng trên cao điểm 63,5m nhìn toàn cảnh Cồn Cỏ như một chiếc nón chụp xuống biển Đông. Có hai điểm cao là đồn Hải Phòng 63,5m, đồi cây Si 33m, còn lại là địa hình thoải xuống ven bờ đá và xen lẫn cát trắng, san hô. Nền đá mẹ là phím xuất basalte đệ tứ mà phần phủ ngoài đã bị phong hoá thành thổ nhưỡng lasalte gọi nôm na là đất đỏ. Cấu tạo địa hình Cồn Cỏ không khác gì các mũi đất ở Cửa Tùng, Mũi Si, Mũi Lay.
Vùng biển từ Mũi Lay đến Cồn Cỏ có độ sâu 30 - 40m, vùng Bắc và Đông Bắc Cồn Cỏ có độ sâu 50-90m quy tụ rất nhiều loại hải sản quý hiếm. Tháng 5/2005 đoàn công tác của Dự án bảo tồn biển tiến hành khảo sát và nghiên cứu bờ biển đảo Cồn Cỏ và phát hiện ở đây vùng san hô tốt nhất trong các đáy biển đã khảo sát ở Việt Nam. Ông Ponald Jmacintosh cố vấn trưởng Dự án đã nghiên cứu tại hai điểm Hà Nam và Bến Nghè ở độ sâu 8 - 10m có 45% là san hô lớn, đặc biệt có loại san hô màu đỏ rất quý. Tại Bến Nghè có hải sâm đen, sao biển xanh. Theo kết quả nghiên cứu Cồn Cỏ có 267 loại cá của 120 giống thuộc 69 họ, ngoài ra còn có các loại giáp xác, nhuyễn thể, cua, tôm hùm, ghẹ và cá thu, ngừ... có giá trị xuất khẩu cao...

19/08/2023 lúc 16:57
C
on người tâm huyết và lý luận.
Mở đầu bài tham luận bác Nguyễn Đức Tảo nhấn mạnh “Dân tộc Việt Nam có nền văn hiến lâu đời, có tư chất thông minh, cần cù, chịu khó. Ấy thế mà do sự đô hộ, xâm lược của thực dân, phong kiến, đất nước Việt Nam có nền giáo dục chậm phát triển so với các nước khác”. Bằng sự hiểu biết Bác lập luận “Nhưng trong những đêm đen nô lệ ấy, không thiếu hình ảnh những người nông dân lao khổ tập đọc trên ruộng cày, tập viết dưới ánh trăng sao, hay lấy đom đóm làm đèn để đến với các lớp bình dân học vụ. Khắc phục mọi khó khăn, phát huy nguồn lực trí tuệ, trang bị cho mình những tri thức cần thiết, phá vỡ vòng cương toả của chính sách ngu dân của bọn xâm lược”. Xuyên suốt bài Tham luận “Tư tưởng Hồ Chí Minh về sự học và khuyến học” (tại Trung tâm học tập cộng đồng ở xã Cam Hiếu), bác Nguyễn Đức Tảo luôn lấy tấm gương tự học của Chủ tịch Hồ Chí Minh để mọi người noi theo. Kết thúc bài tham luận, một lần nữa Bác Tảo khẳng định “Học tập suốt đời, học tập thường xuyên, học tập cho mọi người là nội dung chủ yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh về sự học và khuyến học, đây cũng là nội dung cốt lõi của khái niệm xã hội học tập mà Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng trong bối cảnh thế giới đang phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học và công nghệ, sự bùng nổ của cách mạng thông tin”.
Bác Tảo say sưa nói với tôi về bài tham luận như đứng trước buổi toạ đàm hôm nào, Bác đưa ra nhiều chứng cứ về thực tiễn địa phương mình (xã Cam An) để minh chứng “Giáo dục, đào tạo là một sự nghiệp lớn, vĩ mô, chiến lược lâu dài”. Nhắc đến đây tôi nhớ đến câu nói của Bác Hồ: “Trình độ văn hoá của nhân dân nâng cao sẽ giúp chúng ta đẩy mạnh công cuộc khôi phục kinh tế, phát triển dân chủ. Nâng cao trình độ văn hoá của nhân dân cũng là một việc cần thiết để xây dựng nước ta thành một nước hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”. Quan điểm giáo dục được Bác Hồ cụ thể hoá khi Người đến với các trường học, các địa phương: như học tập để làm cho nước Việt Nam sánh vai cùng với các cường quốc năm châu; học tập không phải để đi làm quan mà để phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân mà nhân dân đang đòi hỏi; phải “học đi đôi với hành”, “học tập kết hợp với lao động sản xuất”…Từ những tư tưởng giáo dục đó của Bác Hồ, xuất phát từ thực tiễn đất nước Văn kiện Đại hội IX của Đảng đã nhấn mạnh “Đẩy mạnh phong trào học tập trong nhân dân bằng những hình thức giáo dục chính quy và không chính quy, thực hiện “giáo dục cho mọi người”, “Cả nước trở thành một xã hội học tập”; Văn kiện Đại hội X nêu rõ thêm “Chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở - mô hình xã hội học tập với hệ thống giáo dục suốt đời, đào tạo liên tục, liên thông giữa các bậc học, ngành học; xây dựng và phát triển hệ thống học tập cho mọi người với những hình thức học tập, thực hành linh hoạt, bảo đảm sự công bằng xã hội trong giáo dục”. Và tinh thần Chỉ thị 11 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập, xác định “xây dựng xã hội học tập là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, là mục tiêu cơ bản trong chiến lược chấn hưng và phát triển giáo dục của nước ta…” đó là những quyết tâm thực hiện mong muốn của Bác Hồ: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành…”.
Nhịp cầu khuyến học Cam An hôm nay.
Bác Nguyễn Đức Tảo kể lại: “Tốt nghiệp Cử nhân Anh văn, Bác vào quân đội năm 1963; Bác đã tham gia nhiều trận đánh lớn góp phần giải phóng quê hương đất nước. Năm 1984 bác được nghỉ hưu, nhưng với bản chất anh bộ đội Cụ Hồ, với những tri thức của mình, Bác đã dạy kèm cho các em hiếu học trong xã, thôn về Anh văn mà không bao giờ Bác nhận thù lao. Rất nhiều em được Bác dạy bảo nay đã trưởng thành, lúc nào có dịp lại ghé về thăm thầy cũ”....

19/08/2023 lúc 16:57
N
gày 7 tháng 11 năm 2006, Bộ chính trị Ban chấp hành trung ương Đảng (khóa X) đã ban hành chỉ thị số 06 - CT/TW về tổ chức cuộc vận động " Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh"
Tuy nhiên, tấm gương đạo đức của Bác thì chúng ta đã học từ lâu và sẽ học mãi mãi. Một trong những tư tưởng của Bác đã để lại cho con cháu là: "Kiên quyết không ngừng thế tấn công". Câu này Bác viết ở bài thơ "Học đánh cờ" trong "Ngục trung nhật ký" từ cuối năm 1942, khi bọn Tưởng Giới Thạch nghi cho Bác là Hán gian rồi bắt giam Bác và giải từ nhà tù này đến nhà tù khác. Tư tưởng "Kiên quyết không ngừng thế tấn công" của Bác không chỉ trong tấn công, mà cao hơn tấn công, là trong phòng thủ. "Tấn công trong phòng thủ" vừa là khoa học vừa độc đáo và đã được kiểm nghiệm qua nhiều chiến dịch, đã trở thành một trong những tư tưởng nổi bật nhất trong Binh thư giữ nước của dân tộc ta.
Một trong những chiến dịch "tấn công khi phòng thủ" là lần quân dân Quảng Trị đánh bại liên tiếp 4 cuộc hành quân "Lam Sơn 72A", "Sóng thần 36", "Sóng thần 45", và "Sóng thần 18" của Mỹ - ngụy vào mùa mưa năm 1972.
Là người được tổ chức phân công theo dõi diễn biến các cuộc hành quân này để viết bài cho "Tuần tin tức" của Bộ Tham mưu B2 (Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ), tôi xin kể lại sự chỉ đạo của Bộ chỉ huy Mặt trận Trị - Thiên ngày đó để các bạn chưa sinh ra "khi nước nhà còn chia cắt" được rõ:
Ngày ấy; 16/9/1972, với nhiều lý do quân ta phải rút khỏi Thành Cổ, mà lý do chủ yếu là phải hấng chịu nhiều cơn bão, áp thấp nhiệt đới và lũ quét. Nước mưa cùng lũ trên nguồn đổ về trắng trời trắng đất, thị xã Quảng Trị và Thành Cổ bỗng chốc biến thành biển khơi, nước lũ cuốn đi tất cả những gì trên mặt đất. Tường Thành Cổ dày là thế mà cứ rùng mình rồi cùng nhau đổ rùng rùng xuống chiến hào của chiến sĩ ta chốt chặn. Lợi dụng " Thiên thời" ấy, Mỹ- ngụy đã tiếp tay cho bão tố bằng những trận ném bom hủy diệt mọi sinh linh trên mặt đất và dùng súng phun lửa quét ràn rạt vào lính ta khi ngoi lên khỏi chiến hào hết ngày này qua ngày khác. Trong hoàn cảnh này, những người trong cuộc mới hiểu được giá trị trong câu "Thực tiễn là thước đo chân lý" mà Võ Tổng (theo cách gọi đầy khâm phục của Đoàn chuyên gia Trung Quốc đối với anh Văn) đã rút ra trong chiến dịch Điện Biên lừng lẫy địa cầu. Sự quái ác của bão lũ đến đột ngột quá, buộc quân ta phải bỏ Thành Cổ rơi vào tay Mỹ -ngụy. Mất Thành Cổ, bỏ lại hài cốt đồng đội bên kia sông Thạch Hãn là cái uất mỗi khi nghĩ tới của Bộ chỉ huy Mặt trận Trị - Thiên, của các sư đoàn 308, 304, 316, 325, 324, 320B và lực lượng vũ trang địa phương.
Cái uất chặn ngang cổ họng mỗi khi đưa thỏi lương khô lên miệng. Vì sao vậy? Vì không thua giặc đất mà thua "giặc trời". Cái uất chưa hề nguôi ngoai thì mấy ngày sau khi quân ta rút khỏi Thành Cổ, Mỹ - ngụy lại mở cuộc hành quân "Lam Sơn 72A" nhằm tái chiếm phần đất "đã mất" trước ngày 1/5/1972, trong đó có cảng Cửa Việt. Mỹ - ngụy đã huy động 2 sư đoàn dự trữ chiến lược, 1 liên đoàn biệt động "dày dạn sa trường"của Ngụy quân Sài Gòn và được không quân, pháo binh, chiếm hạm của quân đội viễn chinh Mỹ chi viện cao nhất, dã man nhất. Mục tiêu của cuộc hành quân "Lam Sơn 72A" là cắt đứt đường dây chiến lược của ta từ Tây Trường Sơn tiếp sức cho Mặt trận Trị - Thiên bằng cách đánh bật các chốt của ta trên cao điểm 367, Động Ông Do…ra khỏi phía tây Quảng Trị: cho quân ngụy vượt hồ nước Tích Tường hất quân ta xuống sông Thạch Hãn; và chiếm bằng được vùng ngã ba Sông Hiếu rồi hợp nhau chiếm ái Tử - Đông Hà- Cửa Việt.
Đi "tiên phong" trong cuộc hành quân này là hai sư đoàn sừng sỏ nhất của quân ngụy Sài Gòn là sư đoàn "Thiên thần mũ đỏ", sư đoàn "Cọp biển" và lợi dụng tối đa mưa bão, áp thấp nhiệt đới, lũ quét trong mùa mưa trắng trời trắng đất của miền Trung.
Như vậy, muốn giữ được chốt trên một chiến tuyến dài hơn 50km từ biên giới Việt -Lào tới đồng bằng huyện Triệu Phong, quân ta không chỉ phải phòng thủ giữ chốt mà quan trọng hơn là phải tiến công; tiến công vào hậu phương quân ngụy và tiến công vào lũ quét."Tiến công vào lũ quét" là bài học rút ra từ cái uất khi quân ta phải rút khỏi Thành Cổ...

19/08/2023 lúc 16:57
ĐÔNG ĐỘI
LÊ TRÍ DŨNG
T
ôi viết bài này trong buổi sáng rát như cắt, cái rét 100 năm nay mới có Cứ mỗi độ xuân về, lòng lại không khỏi trào lên nổi nhớ đồng đội. “Đồng đội”, hai chữ thiêng liêng đã nâng đỡ tôi qua bao nỗi khó của đời. Tôi không công thần, không “ăn mày dĩ vãng”, không nói mãi một việc “biết rồi…” Nhưng nói gì thì nói, ở nơi đó tôi đã tìm thấy tình người đích thực, thấy sự hy sinh cao cả… Và thế là tôi vẽ bức “Đồng đội”. Nền tranh đỏ một màu máu, chính giữa tranh là hai người lính đang cõng nhau tìm về đơn vị. Cây rừng và vách đá Trường Sơn, một mảnh trăng vắt ngang trời… có lẽ thế là đủ.
...........
Hiện tại
26°
Mưa
25/01
25° - 27°
Mưa
26/01
24° - 26°
Mưa
27/01
23° - 26°
Mưa