Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 05/08/2021 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Người & đất quê hương

Ngôi trường của chúng tôi

23/01/2014 lúc 09:44






T





ôi không rõ ngày ấy những bạn cùng lớp 8D với mình có bao nhiêu người mơ ước trở thành kỹ sư, bác sĩ, nhà báo, nhà văn? Riêng tôi cứ mơ ước âm thầm và nồng nhiệt rằng mình nhất định sẽ trở thành một giáo viên dạy văn. Mười sáu tuổi ai cũng tóc xanh, mắt biếc, còn là học sinh cấp III trường huyện. Tự hào lắm!
Trong màn sương hồng kỷ niệm của tuổi mười sáu, trường cấp III còn lưu giữ trong tôi hình ảnh ngôi trường hai tầng toạ lạc trên đồi cao giữa thị trấn Hồ Xá, trước mặt là cánh đồng và dòng sông Sa Lung trong xanh. Trường cấp III Vĩnh Linh ngày ấy, ngôi trường trung học phổ thông đầu tiên của miền Bắc XHCN ở đầu cầu giới tuyến, mang tầm vóc và ý nghĩa lịch sử của cả một vùng đất. Học sinh của trường không chỉ người Vĩnh Linh mà còn có con em của đồng bào miền Nam từ Thừa Thiên Huế trở ra. Và trong từng giờ học, giọng giảng bài, đọc thơ của các thầy các cô đã thấm vào trí não trong trẻo và da thịt hồng hào của chúng tôi. Ngọn gió nào thổi vào lớp học của chúng tôi cũng nhuốm màu lãng mạn và trong ngọn gió lãng mạn ấy còn nguyên tươi một cuộc chia ly màu đỏ của Nguyễn Mỹ...
Mười bốn giờ ba mươi phút ngày 8/2/1965 máy bay Mỹ dội bom xuống xưởng chế biến chè Bến Hải, xưởng gỗ Lê Thế Hiếu, Trường cấp III và Đài anh hùng. Thầy Lê Duy Minh của chúng tôi, thầy giáo dạy văn giỏi của Trường và tám bạn học sinh đã bị bom Mỹ giết hại. Đã năm mươi năm trôi qua, nhưng tôi vẫn còn nhớ mãi cái khung cảnh bi thương và da diết khi cùng các thầy các cô, bạn bè và phụ huynh đưa thi hài thầy Lê Duy Minh và tám bạn học sinh về nơi an nghỉ cuối cùng.
Ngày thống nhất đã đến 34 năm rồi. Trường cấp III Vĩnh Linh đến mùa thu này tròn năm mươi năm tuổi. Thầy Lê Duy Minh, tám học sinh và trên năm ngàn người dân Vĩnh Linh đã ngã xuống cho cầu Hiều Lương nối nhịp. Có nơi nào trên trái đất này mỗi người dân phải gồng mình gánh chịu trên bảy tấn bom đạn để tồn tại và tái sinh như ở Vĩnh Linh không? Và cũng chưa có một huyện nào được làm nhiệm vụ chiến lược của một đặc khu hơn 20 năm, được Nhà nước phong tặng 23 đơn vị anh hùng, 18 cá nhân anh hùng, được Bác Hồ tám lần gửi thư khen. Mảnh đất nghèo nhưng bao hy sinh và anh hùng đã cùng cả nước làm tất cả để bắt nhịp cầu cắt chia thành những nhịp cầu vui nối liền mãi mãi.
Sau sự kiện máy bay Mỹ ném bom xuống thị trấn Hồ Xá, trong tình trạng cả nước có chiến tranh, để bảo vệ nguồn lực, thực hiện chủ trương của Khu uỷ, trường cấp III Vĩnh Linh chia thành ba phân hiệu sơ tán về học ở xã Vĩnh Trung gọi là phân hiệu 1, Vĩnh Long phân hiệu 2 và Vĩnh Tân phân hiệu 3. Bạn bè cùng lớp mới quen biết nhau qua một học kỳ nay lại phải chia tay, nên ai cũng lưu luyến, bịn rịn. Tôi nhớ mãi hình ảnh Nguyễn Thị Bích Hải cứ ôm lấy Nguyễn Thị Nghĩa một bạn gái cùng lớp người xã Vĩnh Tân vừa cười, vừa khóc trông thật tội nghiệp. Trước khi về Vĩnh Tân, các lớp thuộc phân hiệu 3 phải học nhờ trường trung cấp nông nghiệp huyện tại xã Vĩnh Hoà vào ban đêm. Thế là suốt học kỳ II cứ bốn giờ chiều là học sinh thuộc các xã vùng đông Vĩnh Linh, ăn cơm sớm mang theo đèn dầu đi lên xã Vĩnh Hoà để học. Buổi học ban đêm thường bắt đầu từ 5h30 đến 9h30. Những hôm trời tạnh và có trăng thì không sao, nhưng những lúc gặp trời mưa, đường trơn lại phải leo dốc thì vất vả không tưởng tượng được. Có đêm trời mưa, học xong cả bọn bám vai nhau mò mẫm về đến nhà thì đã 12h đêm. Đấy là chưa kể trường hợp có đứa trượt chân ngã lấm lem cả quần áo, sách vở, đèn dầu, hôm sau phải vào chợ Do mua lại. Có một câu chuyện buồn cười mà đến giờ các học sinh cũ của lớp 8D ngày ấy vẫn còn nhớ là trường hợp Ngô Thị Huệ người cùng làng với tôi, sau khi nghe thầy Tình giáo viên dạy môn Sinh kể câu chuyện khoa học viễn tưởng: “Đầu giáo sư Oen” sợ quá, đêm nào cũng bắt cả bọn đem về tận nhà. Thế là hàng đêm bọn con trai phải thay nhau đưa Huệ về tận ngõ mới thôi. Bù lại, cả bọn chiều nào cũng được ăn ổi, vì nhà Huệ trồng rất nhiều ổi.
Năm học lớp 9, phân hiệu 3 chuyển về xã Vĩnh Tân, sát đường 70 về bãi tắm Cửa Tùng bây giờ. Để chuẩn bị cho năm học mới trong điều kiện chiến tranh, sau khi dựng xong phòng học, lớp nào cũng lao động một tháng để đào hầm hào phòng tránh. Phòng học là những hầm lán sâu một mét, có trần trát bằng đất để tránh bom bi. Hai bên phòng học có những đường giao thông hào ăn liền với hệ thống hầm ếch, hầm chữ A, địa đạo để thầy trò ẩn nấp khi có máy bay ném bom hoặc pháo hạm của Mỹ từ biển bắn vào. Tôi nhớ có bạn đang giờ ra chơi, bất thần pháo hạm của Mỹ từ biển bắn vào, cả lớp ùa nhau chạy xuống giao thông hào để tìm hầm ẩn nấp. Hết đợt pháo kích, mọi người lại vào lớp tiếp tục học thì thấy thiếu hai người là Ngô Thị Huệ và Ngô Thị Thành.  Tưởng hai người có mệnh hệ gì, cả lớp nháo nhào chạy đi tìm. Mãi lúc sau mới phát hiện cả hai người đang cố tìm cách leo lên trong cái giếng cạn của nhà ông thợ rèn. Thì ra vốn đã nhát, khi nghe pháo hạm nổ, cả hai người phát hoảng, không chạy xuống giao thông hào để tìm hầm tránh mà chạy tuốt vào xóm nhà dân và nhảy đại xuống giếng lấp trong vườn nhà ông thợ rèn. Thật là một phen hú vía!...
 

Cồn Cỏ ngoan cường

17/04/2014 lúc 14:43






D





ốc sức làm xong hệ thống chiến hào và công sự, có thể coi Cồn Cỏ đã dàn xong thế phòng ngự. Về lực lượng, không chỉ có súng phòng không mà còn có cả pháo mặt đất để đánh tàu, đặc biệt có cả bộ binh, sẳn sàng đánh trả khi chúng đặt chân lên đảo.
Về vũ khí cũng được trang bị khá đầy đủ. Trước có hai khẩu ĐKZ, bây giờ thêm hai là bốn khẩu. Cối 75 có hai khẩu, giờ thêm năm là 7 khẩu. Pháo 85, có một khẩu, giờ thêm sáu là 7 khẩu. Súng phòng không đã trang bị khá đầy đủ, không phải mang ra thêm. Các kho đạn cũng đã đầy ắp. Không sợ thiếu.
Về lực lượng, đáp ứng đúng yêu cầu của đảo. Ban chỉ huy đảo cho lính luyện tập đa năng. Anh là lính của binh chủng này có thể sẵn sàng là lính của binh chủng kia, nên hổ trợ cho nhau dễ dàng. Trong tình huống khó khăn nhất, các ổ phòng ngự không bị để trống.
Tinh thần của đảo là tinh thần quyết chiến quyết thắng. Nguyễn Ngọc Thanh cầm vũ khi ra công sự nữa, lính càng hồ hỡi, tin tưởng.
Giúp phần đẩy mạnh khí thế của đảo, đất liền đưa ra đoàn văn công gồm: Phan Ngạn, Ánh Dương, Lê Phu, Thanh Cảnh, Kim Huệ... Phan Ngạn là người đã giúp Ngọc Cừ hoàn chỉnh về âm nhạc cho bài “Con cua đá”, trở thành bài hát truyền thống của đảo. Đoàn quay phim ra có ba người: Lê Bình Lâm, Phan Hanh, Dương Phước An. Những chiến công của đảo, lập tức được đưa ngày lên truyền hình. Cũng để đưa tin nhanh, cập nhật, các anh Khoa, Phú, Sen, bám chắc từng trận địa, phản ánh tinh thần Cồn Cỏ kịp thời, đưa thông tin nhanh, giúp nhân dân cả nước hiểu thêm về Cồn Cỏ, cổ vũ cho Cồn Cỏ. Văn nghệ sĩ có các anh Hồ Phương, Nguyễn Khải, Sĩ Giang, Quang Thọ. Người thì viết văn, người thì vẽ, một mặt động viên tinh thần lính đảo, một phần quan trọng là các anh đã tôn vinh Cồn Cỏ như nó đã sống và chiến đấu như thế nào.
Cồn Cỏ sẵn sàng đối đầu với địch.
Trần Văn Thà đặt chân lên đảo Cồn Cỏ ngày 25/5/1967, anh bắt tay ngay vào kế hoạch phòng ngự, đúng như thượng tá Hoàng Đởm và trung  tá Đặng Kình giao: “Đồng chí ra để giữ đảo chứ không chi bắn mấy cái máy bay”. Trần Văn Thà cùng ban chỉ huy đảo quán triệt tinh thần ấy, không hề có một mảy may lơ là. Lính đảo luôn trực ở trận địa, chỉ chờ có lênh là phát hỏa.
Máy bay bay trên cao, và lượn vòng quanh đảo như chúng mới trinh sát. Từ hôm anh Thà ra chưa có cuộc chạm trán nào.
Ngoài khơi tàu địch cũng lảng vảng từ xa. Đêm đến chúng lượn quanh, chốc chốc lại bắn một quả vào đảo như để thăm dò phản ứng của đảo như thế nào. Song Trần Văn Thà vẫn im lặng, bám sát từng ngọn sóng, từng tiếng máy nổ để đợi một thời cơ tuyệt nhất.
Cho đến đúng một tháng sau khi Trần Văn Thà đến đảo, đó là ngày 20/6/1967 chập tối đã nghe tiếng tàu chạy ngoài khơi, ống nhòm nhìn rõ đó là tàu Vơ-Đet. Nó chạy ngoài xa cách đảo chừng 700m. Cự ly ấy chưa hợp lý để phát hỏa, đảo im lặng bám sát vào chiếc Vơ-Đet. Một lúc sau trời tối, không còn nghe tiếng máy của tàu và đêm cũng không biết nó đi đâu. Chỉ biết đêm nà nó không bắn.
Trần Văn Thà đi kiểm tra lại các trận đại phòng ngự của 2 khẩu ĐKZ, hai khẩu 12.7 ly, 2 khẩu 82. khẩu 85, và giào quyền chỉ huy cho Nguyễn Đức Tuân: “Mình rất muốn Đức Tuân chỉ huy thắng trận đầu tiên từ khi mình ra đảo”. Đức Tuân trả lời: “Anh cứ tin ở tôi. Anh em chiến sĩ cũng muốn thắng trận này lắm, nên suốt cả tuần nay chúng lởn vởn ngoài sa, không dám vào gần. Chỉ bắt ít phát như để  thăm dò ta thôi”. Trần Văn Thà gật đầu: “Tôi rất tin”
Đêm ấy trăng mờ mờ, ngoài xa khó thấy, nhưng gần thì có thể thất. Mất hút tàu vào lúc tối nhưng anh em vẫn không ngơi cảnh giác.
Về khuya bỗng thấy tàu lặng lẽ vào sát đảo. Thì ra để đánh lừa ta, chúng cho nổ máy ầm ĩ để hết anh em Cồn Cỏ về tiếng máy ấy, rồi mất hút để anh em mất cảnh giác. Chiếc Vơ-Đét vào phía Cửa Tùng rồi tắt máy, cứ cho tàu lặng lẽ trôi theo sóng, trôi theo gió đến gần bờ đảo
Nhìn thấy ngon quá. Đức Tuân hỏi Trần Văn Thà:
- Sao! Đánh được chưa?
Trần Văn Thà ra lệnh:
- Đánh!...
 

Địa lý hành chính Đông Hà qua các thời kỳ lịch sử

23/01/2014 lúc 09:17






T





rước khi thuộc về người Việt (đầu thế kỷ XI và nửa đầu thế kỷ XIV), vùng đất Đông Hà hiện nay về cơ bản là một phần của đất châu Ô (phía nam sông Hiếu) và châu Ma Linh (phía bắc sông Hiếu) của vương quốc Chămpa. Sau năm 1069, một phần đất của Đông Hà hiện tại nằm phía bắc sông Hiếu thuộc châu Ma Linh sát nhập vào bản đồ Đại Việt. Để hợp thức hóa lãnh thổ, năm 1075, nhà Lý cho đổi châu Ma Linh thành châu Minh Linh (1), đặt quan cai trị, chiêu mộ nhân dân đến khai thác. Tuy nhiên, thời gian này do hoàn cảnh chiến tranh liên miên nên người Việt vẫn chưa vào đến vùng đất phía bắc sông Hiếu .
Cuối thời Trần, suốt thời Hồ, thời thuộc Minh và đầu đời Lê sơ, vùng đất Đông Hà hiện nay là một phần của huyện Lợi Điều thuộc châu Thuận, trấn/ phủ/ lộ Thuận Hoá (2) (và có thể là một phần của huyện Dạ Độ thuộc châu Minh Linh (từ năm 1407 đổi thành châu Nam Linh), trấn/ phủ/ lộ Tây Bình/ Tân Bình ở phía bắc sông Hiếu). Tuy nhiên, trên thực tế, vùng đất Đông Hà thời kỳ này chủ yếu là các làng Chăm còn ở lại sống cộng cư với các nhóm chiến binh Việt. Các làng Việt và cư dân Việt còn rất thưa thớt. Phải đến sau năm 1471, với chiến dịch của Lê Thánh Tông đánh chiếm kinh đô Vijaya, kéo biên giới Đại Việt vào tận Phú Yên, kết thúc sự tồn tại của vương quốc Chămpa; đồng thời mở ra một trào lưu di dân mạnh mẽ của người Việt tiếp tục vào khai phá vùng Thuận - Quảng, thì vùng đất Đông Hà hiện nay mới đồng loạt xuất hiện nhiều làng/ xã của người Việt.
Từ năm Quang Thuận thứ 10 (1469), sau khi vua Lê Thánh Tông cho định lại bản đồ của các phủ, châu, huyện, xã, trang sách thuộc 12 thừa tuyên trong cả nước, châu Nam Linh đổi làm huyện Minh Linh (gồm 8 tổng, 63 xã), thuộc phủ Tân Bình. Châu Thuận cải đặt thành hai huyện: Hải Lăng (gồm 7 tổng, 75 xã) và Vũ Xương (8 tổng, 53 xã) cùng với 2 châu: Sa Bôi (10 tổng, 68 xã) và Thuận Bình (6 tổng, 26 xã) ở miền Tây, thuộc phủ Triệu Phong nằm trong thừa tuyên Thuận Hóa (3). Đông Hà vào thời Lê - Mạc thuộc huyện Vũ/ Võ Xương (tương ứng với huyện Triệu Phong nay), châu Thuận, thừa tuyên Thuận Hoá. Theo sách “Ô châu cận lục”, vào giữa thế kỷ XVI, huyện Võ Xương có 59 xã/ làng thì trên đất Đông Hà đã có các làng/ xã như sau: Hướng Ngao (sau đổi là Điếu Ngao), Hạ Đô, Thượng Đô (sau đổi là Thượng Nghĩa), Trung Chỉ, Thượng Độ, Hạ Độ (sau đổi là Đại Độ), Nghĩa Đoan (sau đổi là Nghĩa An), Vĩnh Phước, Thiên Áng, Tiểu Áng (sau đổi thành Đại Áng), Lai Cách (sau đổi là Lai Phước), Vĩnh Phúc/Vĩnh Phước, Liên Trì (sau đổi là Tây Trì) (4).
Đông Hà thời các chúa Nguyễn theo Lê Quý Đôn trong sách “Phủ biên tạp lục” là đất của hai tổng An Đôn và tổng An Lạc thuộc huyện Đăng Xương, phủ Triệu Phong, xứ Thuận Hoá.
Thuộc tổng An Đôn có các xã, phường sau: Vĩnh Phúc (tức Vĩnh Phước), Lai Phúc (tức Lai Phước), Vân An, Đại Áng, Trung Chỉ, Lập Thạch, Phưng Lương, Phú An, Lãng Phúc, Điếu Ngao, Đông Hà, Liên Trì (tức Tây Trì), Đông Vu (tức Đông Lai), Thượng Đô (tức Thượng Nghĩa), Thiết Trường tử chính, Thiết Trường hạ phường, Sơn Trập, Sơn Bàng, An Trung ngũ giáp.
Thuộc tổng An Lạc có các xã phường sau: An Lạc, Nghĩa An, Thanh Lương, Đình Tổ, Thượng Độ, Hạ Độ (tức Đại Độ), Thiết Trường (tức Thiết Tràng) (5).
Năm 1801, Nguyễn Ánh sau khi đánh bại triều đại Tây Sơn, lên ngôi Hoàng đế, (tháng 8 năm 1801) đã cho tổ chức sắp xếp lại các địa danh hành chính trong cả nước. Trong bối cảnh đó, Quảng Trị cũng được sắp xếp lại bằng việc Gia Long cho lấy hai huyện Hải Lăng, Đăng Xương thuộc phủ Triệu Phong và huyện Minh Linh thuộc phủ Quảng Bình, đặt thành dinh Quảng Trị. Công đường và lỵ sở của dinh Quảng Trị được đặt tại khu vực Trà Bát - Ái Tử nằm sát nách các xã thuộc vùng đất Đông Hà ở phía nam. Riêng phía tây lại đặt đạo Cam Lộ, mọi việc cống Man, thuế Man ở đạo Cam Lộ đều lệ vào Quảng Trị (6).
Đất Đông Hà lúc đó phần lớn thuộc huyện Đăng Xương. Phía tây huyện Đăng Xương là đạo Cam Lộ. Đất của phường Đông Thanh (có thể là cả Đông Giang) hiện nay lúc đó thuộc đạo Cam Lộ. Thành đạo Cam Lộ lúc đó đóng ở làng Nghĩa An. Thành được đắp bằng đất bốn mặt thành tạo thành một chiến luỹ kiên cố (7)....
 

Vài nét về địa danh Đông Hà

17/04/2014 lúc 14:43

 
LTS. Nhân dịp Đông Hà chuẩn bị lên thành phố, thể theo nguyện vọng của đông đảo bạn đọc, từ số này BBT chúng  tôi  giới thiệu đôi nét về Địa danh và Diên cách, địa hành chính vùng đất Đông Hà qua các thời kỳ…Còn nhiều nội dung, rất đáng quan tâm khác như Đặc diểm dân cư, dân số; Truyền thống lịch sử, văn hoá qua các thời kỳ; Những định hướng bảo tồn và phát huy  các giá trị truyền thống lịch sử, văn hoá Đông Hà trong việc quy hoạch, quản lý, phát triển đô thị…  sẽ được chuyên mục N & ĐQH giới thiệu vào các số tiếp theo.
 
Theo các nguồn tư liệu và thư tịch cổ, mà chúng ta biết đến hiện nay thì địa danh Đông Hà xuất hiện đầu tiên trong ghi chép của nhà bác học Lê Quí Đôn vào nửa cuối thế kỷ XVIII. Đó là vào năm 1776, khi ông giữ chức Hiệp trấn tham tán quân cơ ở Thuận Hoá. Trong 6 tháng làm quan ở đây, ông đã ghi chép những điều mắt thấy tai nghe ở xứ Thuận Hoá - Quảng Nam và đã tập thành một tập sách dưới dạng bút ký biên chép, đặt tên là “Phủ biên tạp lục”. Đây là tập sách phản ánh một cách khá chi tiết tình hình núi sông, thành quách, phong thổ, nhân vật của xứ Thuận Hoá. Ngoài ra, nó còn là một tài liệu cung cấp cho chúng ta biết cặn kẽ danh số các phủ huyện, tổng, xã, thôn của hai xứ Thuận - Quảng hồi thế kỷ XVIII.
Trong danh mục số phủ, huyện, tổng, xã, thôn, thuộc xứ Thuận Hoá mà Lê Quý Đôn đã ghi chép thì tên Đông Hà xuất hiện với địa danh là một xã/ làng thuộc tổng An Đôn, thuộc huyện Đăng Xương, phủ Triệu Phong, xứ Thuận Hoá.
   Huyện Đăng Xương gồm có 5 tổng: Tổng An Phúc, tổng An Lưu, tổng An Cư, tổng An Đôn và tổng An Lạc. Các xã, phường, giáp được ghi trong “Phủ biên tạp lục” lúc bấy giờ mà về sau cũng như hiện nay thuộc địa giới hành chính thị xã Đông Hà nằm trong hai tổng An Đôn và An Lạc, bao gồm:
   - Thuộc tổng An Đôn có 22 xã, 8 phường 5 giáp; bao gồm: Vĩnh Phúc, Lai Phúc, Vân An, Đại Áng, Trung Chỉ, Lập Thạch, Phưng Lưng, Phú An, Lãng Phúc, Điếu Ngao, Đông Hà, Liên Trì, Đông Vu, Thượng Đô, Thiết Trường tử chính, Thiết Trường hạ phường, Sơn Trập, Sơn Bàng, An Trung ngũ giáp (về sau thuộc Đông Hà), An Đôn, Thượng Phúc, Nhan Biều, Ái Tử, Phúc Toàn, Phú Áng, Trà Lễ, Hà Xá, Cây Khế, Giang Hến, Ỷ Bích, Bạch Câu (về sau thuộc Triệu Phong).
   - Thuộc tổng An Lạc có 22 xã, 18 phường; bao gồm: An Lạc, Đình Tổ, Nghĩa An, Thanh Lưng, Thượng Độ, Hạ Độ, Thiết Trường (về sau thuộc Đông Hà), Phả Lại, Kim Đâu, Cam Lộ, Cam Đường, Bích Giang, Định Xá, An Bình, Phú Ngạn, Trúc Khê, Trúc Kinh, Nhật Lệ, Thuận Đức, Trưng Xá, Lâm Lang, Phi Hưu, An Thịnh, Bào Đá, Trung Hác, Phả Lại, An Xuân, Phúc An, Khang Mỹ, An Bình, Khang Thái, Tân An, Ba Xuân, Cây Lúa, Bái Sơn, Thiên Xuân, Bố Chính, Quất Xá, án Cát (về sau thuộc huyện Gio Linh và Cam Lộ) (1).
Sách “Phủ biên tạp lục” của Lê Quý Đôn cũng cho biết vùng đất xung quanh làng Đông Hà thời bấy giờ có dân cư khá đông đúc, làng mạc đã khá trù phú chứ không như các làng xã phía trên Cam Lộ dân cư thưa thớt, có phần hoang vắng:
“Từ Cam Lộ theo sông đi xuống, qua các xã Thượng Độ, Nham Giang, Thuận Đức, Thiết Phủ, đường rất hiểm dốc, bên hữu đường đều là rừng núi, trèo non lội suối nửa ngày thì đến xã Đông Hà, mới thấy đất bằng phẳng, có đông dân cư” (2).
Đồng thời, do yếu tố địa lý thuận lợi, nên qua tư liệu, chúng ta thấy vùng đất Đông Hà hiện nay đã sớm có một vị trí quan trọng, được xem như một điểm nối với Dinh Cát (Ái Tử) trên đường Thiên Lý và thông với các Man, Sách ở Ai Lao, Lạc Hoàn qua đường thượng đạo xuyên Trường Sơn, đường thuỷ là sông Điếu Ngao (sông Hiếu). Ở các mục biên chép về đường sá, bến đò, nhà trạm, trị sở hai xứ Thuận Hoá, Quảng Nam, “Phủ biên tạp lục” có ghi: “Xã Phả Lại huyện Đăng Xương, tục gọi là chợ Sòng là chỗ đường thuỷ bộ tụ họp, đi lại tất phải qua đấy. Từ chợ ấy theo đường chính (đường Cái) mà đi sang sông Điếu Ngao đến Dinh Cát, không quá một canh”. Cũng tại một đoạn khác trong “Phủ biên tạp lục” lại ghi: “Xã Cam Lộ huyện Đăng Xương ở thượng lưu sông Điếu Ngao dưới thông với Cửa Việt, trên tiếp với các nguồn Sái đất Ai Lao, đường sá của dân Man đều ra tự đấy” (3).
Nhưng không phải đến khi Lê Quý Đôn biên chép sách “Phủ biên tạp lục” thì làng Đông Hà mới hình thành. Tiến trình hình thành vùng đất Đông Hà có một quá trình lịch sử lâu dài như bao địa phương khác mảnh đất Quảng Trị đầy thiên di và biến động.
Làng Đông Hà ngày nay là một trong những khóm phố của phường III thị xã Đông Hà. Phía bắc làng là dòng Hiếu Giang, phía đông giáp thôn Tây Trì, phía nam giáp Quốc lộ 9 và ở phía tây là thôn Thiết Tràng...
 

Vang dội Coóc Bai

22/01/2014 lúc 19:56

Sau thắng lợi ở 935, Sư đoàn được lệnh phát triển tiến công tiêu diệt căn cứ Coóc Bai. Điểm cao Coóc Bai nằm trên đường ranh giới hai tỉnh Quảng Trị - Thừa Thiên, cách đông bắc căn cứ 935 khoảng 9km, diện tích trên đỉnh không lớn, sườn dốc đứng nên dung lượng chứa quân không bằng 935.
Coóc Bai nằm kẹp giữa con sông Ô Lâu và Mỹ Chánh, Coóc Bai vừa là một căn cứ pháo binh, vừa là căn cứ hành quân của Trung đoàn 1, Sư đoàn 1 nguỵ Sài Gòn. Được xây dựng cùng thời điểm 935, căn cứ 935 là lá chắn cho Coóc Bai. 935 bị đạp vỡ, Coóc Bai trở thành căn cứ vòng ngoài chiến tuyến phòng thủ sông Bồ của địch, trên Coóc Bai có tiểu đoàn 3, Trung đoàn 54, tiểu đoàn 1, Trung đoàn 1 nguỵ và một trận địa pháo.
Xung quanh Coóc Bai có tiểu đoàn 1 dù Mỹ ở điểm cao 316, tiểu đoàn 2 ở Củng Cáp, tiểu đoàn 2 và 3 Trung đoàn 1 ở khu vực Động Ngãi, Cô Pung và CôVaLaĐạt. Pháo binh chi viện cho Coóc Bai có căn cứ Chiêm Dòng 267 Củng Cáp 316, 700 và các trận địa pháo tầm xa ở đồng bằng. Khi Coóc Bai bị tấn công, địch có điều kiện tăng quân nhanh để giải toả.
Sau khi cứ điểm 935 bị tiêu diệt 1 ngày Tổng thống Việt Nam cộng hoà Nguyễn Văn Thiệu đáp trực thăng xuống căn cứ Coóc Bai lên giây cót cho bọn lính nguỵ bị cô lập. Thiệu nói: “Bọn mũi lõ bỏ chạy, quân lực Việt Nam cộng hoà chúng ta quyết không chạy phải tử thủ đến cùng” Cánh quạt trực thăng của Tổng thống phải quay liên tụ sẵn sàng cất cánh để đưa Thiệu đi ngay tránh ăn đạn pháo của quân giải phóng. Lúc đó là 15 giờ ngày 29/8/1970.
Trận địa phòng ngự của địch xây theo tuyến dọc trên điểm cao bên bờ hai con sông, lấy Coóc Bai và 935 làm điểm hội tụ, để từ đây chúng có thể vươn tới bất kỳ mảnh đất nào ở tây đường 12. Vì vậy, Coóc Bai là vị trí chiến lược quan trọng mà địch quyết giữ bằng được. Song sau khi căn cứ 935 mất Coóc Bai thành khu vực độc lập, không cho phép địch dễ dàng chi viện cho nhau bằng bộ binh. S
Trung đoàn 3 được Bộ Tư lệnh Sư đoàn giao nhiệm vụ là lực lượng chủ yếu tiến công dứt điểm căn cứ Coóc Bai, phối hợp với Trung đoàn có tiểu đoàn 1 Trung đoàn 6 (Thừa Thiên) và Tiểu đoàn 7B đặc công.
Đội hình tác chiến: Tiểu đoàn 9 cùng Tiểu đoàn 1 (Thừa Thiên) có nhiệm vụ vây lấn từ hướng đông Nam sang tây Nam Coóc Bai.
Tiểu đoàn 7 và tiểu đoàn đặc công 7B bố trí ở Coóc Muộn và điểm cao 1314 sẵn sàng phát triển sang điểm cao 787, 884, Coóc Pe-Lai để đánh địch đổ bộ đường không phía sau hậu phương ta.
Tiểu đoàn 8 sẵn sàng đánh địch phản kích ở Quảng Trị vào. Phương châm chỉ đạo tác chiến là vây điểm, diệt viện, lấy mục tiêu diệt địch đóng dã ngoại là chính.
Trên cơ sở nhiệm vụ được giao Đảng uỷ các tiểu đoàn họp quán triệt quyết định phương án tác chiến và làm tốt công tác chuẩn bị chiến đấu.
16 giờ ngày 6/8 vào thời điểm nắng nóng trong ngày hè, lúc Mỹ - nguỵ đang căng thẳng nhất về tâm lý và tinh thần. Trung đoàn trưởng phát lệnh tiến công. Các trận địa hoả lực đồng loạt dội lửa xuống Coóc Bai, hàng chục tên nguỵ đang giành nhau nước tắm bị trúng đạn, 4 khẩu pháo 105 bị hất nghiêng sang bờ công sự, một số công sự bị phá, trận tập kích hoả lực đầu tiên vào Coóc Bai kéo dài 30 phút, gây thiệt hại nặng cho đại đội Nguỵ cùng với bọn chỉ huy tiểu đoàn 1, Trung đoàn 54 Nguỵ, một trận địa pháo bị phá huỷ.
Mười phút sau khi pháo ta phát hoả, các trận địa pháo của địch ở các điểm cao 367, 316, 700, Củng Cáp quay nòng vãi đạn suốt đêm vào khoảng rừng xung quanh Coóc Bai.
Từ ngày 7 đến ngày 12 tháng 8 địch liên tục đổ quân để giải toả Coóc Bai, các đợt đổ quân này đều bị Trung đoàn 6 Thừa Thiên đánh thiệt hại nặng. Ngày 13 tháng 8 chúng phải đổ bộ tiếp hai tiểu đoàn còn lại. Như vậy toàn bộ Trung đoàn 1 và tiểu đoàn 3, Trung đoàn 54 ngụy đã có mặt ở Coóc Bai...
 

Mối quan hệ giữa đình và chợ làng ở Quảng Trị đôi điều suy nghĩ

22/01/2014 lúc 19:55






Đ





ình - Chợ làng là một khái niệm đã ăn sâu vào tâm thức của mỗi người dân quê Quảng Trị. Từ bao đời nay người ta nhắc đến đình là gắn liền với khái niệm chợ như khu đình và chợ làng Bích La, khu đình và chợ phiên Cam Lộ, khu đình và chợ làng Câu Nhi...
Qua khảo sát thực tế ở một số chợ làng Quảng Trị chúng tôi thấy rằng hầu hết các chợ làng đều được nhóm họp cạnh hoặc trước đình làng. Tuy nhiên đa số các chợ làng đều ra đời muộn hơn đình làng. Chính vì nằm cạnh hay trước các đình làng nên mặc dù khác nhau về mặt cấu trúc, sinh hoạt nhưng chợ và đình làng có mối quan hệ nhất định với nhau về mặt không gian, cảnh trí cũng như địa điểm.
Về mặt không gian, đình gắn với làng là trung tâm sinh hoạt tinh  thần của một làng. Đình là biểu tượng tập trung nhất của làng trên tất cả mọi phương diện. Trước hết, nó là một trung tâm hành chính, là nơi hội họp, nơi diễn ra mọi công việc quan trọng của làng... Đình cũng là trung tâm văn hoá, là nơi tổ chức các lễ tiết, hội hè, tiệc tùng, nơi biểu diễn văn nghệ truyền thống. Ngoài ra, đình còn là trung tâm tôn giáo tín ngưỡng, tất cả các yếu tố phong thuỷ như: thế đất, hướng đình... đều có tác động chi phối đến vận mệnh của cả làng, là nơi thờ Thành Hoàng - vị thần bảo hộ cho làng. Và cuối cùng đình cũng là điểm tựa, nơi bám víu tình cảm của mọi gia đình và các cá nhân thành viên trong làng, là một trong những chất keo kết dính tính cộng đồng, làng xã.
Dựa vào những lợi thế về vị trí của đình và sự tập trung mọi thành viên trong làng đến sinh hoạt tại đình mà nhân dân đã sử dụng địa điểm này để họp chợ. Ngày xưa khi dựng đình làng người dân thường để một khoảng đất trống có diện tích khá rộng trước đình để làm nơi tổ chức các lễ tiết hội hè, tiệc tùng... vào những ngày lễ hội của làng. Những ngày lễ hội này được tổ chức một lần hoặc hai, ba lần trong một năm còn các ngày còn lại trong năm không tổ chức gì thì khoảng đất đó để trống. Nếu người ta cho trồng các loại cây rau màu, khoai, sắn... nơi đây thì khi cần lấy lại không gian để tổ chức các buổi họp làng đột xuất hoặc định kỳ rất khó khăn và tốn kém. Chính vì vậy, người ta tận dụng khoảng trống đó để cho họp chợ là thích hợp. Việc nhóm họp chợ ở đây chỉ đơn thuần vài ba gánh hàng của người dân địa phương đến để trao đổi những nhu yếu phẩm cần thiết trong cuộc sống hàng ngày. Hơn nữa, chợ được dựng lên ở đây tạm bợ mang tính chất “dã chiến” nếu khi cần không gian đó để sử dụng thì chợ sẽ trả về vị trí cho đình làng nên rất thuận lợi trong việc tæ chức các buổi họp của làng ở đình. Ban đầu chợ được nhóm họp mang tính chất tạm thời như vậy về sau lâu dần người mua bán ngày càng đông đúc, các lều quán được dựng lên nhiều hơn. Chợ bắt đầu hình thành dần và ổn định phát triển ngay trước cổng đình. Sự hình thành và phát triển đó của chợ được sự chấp nhận của dân làng và chính quyền địa phương nên việc tổ chức trong chợ được thiết lập với nhiều bộ phận để quản lý chợ.
Bên cạnh đó, chợ làng còn dựa vào vị trí của đình, đình thường dựng ở các trung tâm, các trục đường giao thông có nhiều người qua lại, gần các con sông uốn khúc bởi dòng sông ngày xưa là mối giao thông quan trọng của người dân trong vùng. Chính dòng sông đã trở thành mạch nguồn chuyển tải các yếu tố văn hoá, để lắng đọng trong nhận thức, tư duy của người dân. Từ đó sản sinh ra những nét văn hoá chợ độc đáo mang sắc thái riêng biệt của vùng quê Quảng Trị. Đặc biệt đình còn là ngôi nhà chung của mọi thành viên trong làng. Sinh hoạt ở đình làng là một nét văn hoá đã xuất hiện từ lâu trong đời sống của người dân nên mọi người đều tập trung ở đình rất thường xuyên không chỉ trong những ngày diễn ra các kỳ lễ tết mà cả ngày thường vì vậy thuận lợi cho việc nhóm họp chợ. Khi chợ đã phát triển ổn định thì trở lại phục vụ cho yêu cầu sinh hoạt cúng lễ của đình. Chợ cung cấp các loại hàng hoá cần thiết cho những buổi cúng lễ của đình như: hương đèn, hoa quả, giấy vàng bạc... Do vậy, đình làng có tác dụng rất lớn trong quá trình hình thành, tồn tại và phát triển của chợ làng...
 

Miếu bà Vương Phi họ Lê - Một di tích lịch sử, văn hóa ghi dấu thời kỳ

17/04/2014 lúc 14:46






M





iếu bà Vương Phi họ Lê thuộc địa phận làng Sa Trung, xã Vĩnh Long, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị. Nằm cách thị xã Đông Hà - trung tâm tỉnh lỵ Quảng Trị khoảng 30 km về phía Bắc; cách thị trấn Vĩnh Linh khoảng 3km về phía Tây. Miếu bà Vương Phi họ Lê là một di tích lịch sử, văn hoá tiêu biểu ghi dấu thời kỳ chiêu dân, lập ấp, mở mang bờ cõi củâ ông cha ta dưới thời Lê Sơ.
Cũng như bao ngôi làng khác trên vùng đất Quảng Trị, làng Sa Trung (Tức làng Sa Lung ngày xưa)(1) ra đời và phát triển gắn liền với quá trình Nam tiến của quốc gia Đại Việt. Xưa vùng đất này thuộc vương quốc Chăm Pa, từ năm Kỷ Dậu (1069) sau sự kiện vua Lý Thánh Tông đem quân đánh và bắt được vua Chiêm là Chế Củ. Để được tha về, Chế Củ xin dâng ba châu Bố Chính, Địa Lý và Ma Linh. Kể từ đây, ba châu này được sát nhập vào lãnh thổ Đại Việt. Châu Ma Linh là phần đất hai huyện Vĩnh Linh và Gio Linh ngày nay(2). Vua Lý cho đổi châu Địa Lý làm châu Lâm Bình, châu Ma Linh làm châu Minh Linh, xuống chiếu chiêu mộ dân đến ở và tổ chức việc cai trị. Đáp ứng lời chiêu mộ ấy, nhiều người đã từ miền Bắc, đa số là dân Nghệ Tĩnh vào khai khẩn làm ăn. Tuy nhiên, những đợt di dân này còn thưa thớt, Mãi đến đời nhà Hồ thế kỷ XIV và đặc biệt sau khi cuộc kháng chiến chống quân Minh giành thắng lợi, nhà Lê lên nắm quyền ổn định về mọi mặt, chủ trương di dân vào xứ Thuận - Quảng diễn ra trên quy mô lớn và chính trong giai đoạn này rất nhiều làng ở châu Minh Linh được thành lập như: Cổ Trai, Huỳnh Công, Hồ Xá của huyện Vĩnh Linh... trong đó có làng Sa Lung (Tức làng Sa Trung, Vĩnh Linh ngày nay).
Theo thế phả họ Lê(3) - một dòng họ được coi là tiền khai khẩn ở làng Sa Trung, viết từ năm 1663, đến đời Thiệu Trị (1841), người cháu đời thứ 12 là tiến sĩ Lê Đức - Tổng đốc Vĩnh Long, nghiên cứu và tu bổ lại sau khi tìm về cố quận là làng Sa Lung, Tổng Sa Lung, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định để xác minh nguồn gốc họ Lê. Với thế phả này, thì ông Thuỷ Tổ của họ có tên là Lê Viết Thức, người huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định đã có công đầu khai sinh ra làng Sa Lung. Ông đã sinh hạ ba người con “Trai vinh, gái quý, trực tiếp khai sơn phá trạch, chiêu dân lập ấp, để lại công lao to lớn trăm đời sau không thay đổi”.
Trong sách “Ô Châu cận lục” của Dương Văn An chép từ thời nhà Mạc năm 1553 đã đề cập đến Bà Vương Phi họ Lê và các người anh của bà như sau: “Bà Phi họ Lê: Bà vốn quê xã Sa Lung, châu Minh Linh, vốn là con gái vào hầu hạ trong cung. Lúc Mẫn Lệ Vương (tức Vua Lê Uy Mục) còn ở tiềm để (nơi ở của các ông hoàng lúc chưa lên ngôi) và đang theo học với vị vương phó, bà cũng đến học tập ở đấy. Vương thấy bà lấy làm vừa ý, hai bên trở nên quyến luyến nhau. Một hôm, vương dùng chân khèo chân bà, khi về bà đem chuyện ấy kể lại với sư mẫu, sư mẫu nói rằng: “Vậy là vương thử lòng con, sau này nếu con thấy vương làm như thế thì dùng hai tay che chân của vương lại để tỏ ý thân”
Hôm sau bà làm đúng như kế của sư mẫu đã bày, vương rất vừa lòng, từ đó về sau không cố ý chọc ghẹo nữa. Riêng bà cũng giữ kín mối tình đẹp chẳng hề lộ ra. Đến khi vương lên ngôi, bà được tuyển vào hậu cung. Vốn là người thông minh nên bà được yêu chuộng hơn cả, vì vậy bà được thăng lên làm hàng phi”(4) Bà Lê Quý Phi được Vua Lê Uy Mục (1505 - 1509) đưa vào hậu cung lập làm Vương Phi. Sau khi Lê Tương Dực truất ngôi và giáng Lê Uy Mục xuống làm Mẫn Lệ Vương, nên các sách sử đời sau thường gán tên gọi bà Vương Phi họ Lê là Mẫn Lệ Phi.
Cũng trong Ô Châu cận lục của Dương Văn An có ghi ông Phủ họ Lê tức Lê Viết Đáo - anh trai bà Lê Phi vì là người thân với hoàng cung phi nên ông được ban là Hiệu lệnh Xá nhân Tư mã chỉ huy sứ, sau làm Cai tri bản châu Minh Linh. Do giỏi ứng xử công việc nên được phong tước Tấn Trung tử. Có người em trai làm Kinh lược sứ, chuyên lo việc khẩn hoang lập làng mới. Từ sau khi nhận tước vị của triều đình ban cho, anh và em trai của bà Lê Quý Phi thực hiện công cuộc khai hoang lập địa, mộ dân ở nhiều nơi mà chủ yếu là các tỉnh phía Bắc như Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh trở vào đến định cư lập nghiệp, quy tụ thành làng xóm, ngoài vùng Sa Lung còn có một dãy rộng lớn từ Sen Thuỷ - Quảng Bình đến vùng Gio Linh - Quảng Trị. Như vậy, Bà Vương Phi họ Lê cùng người anh Đô đốc Lê Viết Đáo và em Lê (Kinh lược sứ) là những người có công lao rất lớn trong việc khai cơ lập địa và mở mang cương thổ về phía Nam. Để tỏ lòng tôn kính và nhớ ơn ba anh em Họ Lê, nhân dân làng Sa Lung (Sa Trung) đã xây dựng miếu, lập mộ và cung thỉnh các di vật của Bà về đây thờ phụng hết sức tôn nghiêm...
 

Góc nhìn từ một dòng sông

22/01/2014 lúc 19:35






T





ừ khai thiên lập địa của thời kỳ nguyên đại địa chất thứ hai. Trong cái địa thế cát lập ấy. Một nguồn nước được hình thành bởi những làn mưa mỏng ban đầu và những màn sương ngọt ngào từ trong sâu thẳm của thời gian, thấm đẫm dần thành những mạch nguồn âm thầm rả rích, rồi chung sức chảy thành một nguồn nước. Dần dần nguồn nước ấy có chiều kích thành một dòng sông vươn dài ra biển cả.
Năm tháng âm thầm đằng đẵng. Dòng nước cứ lặng lờ trôi qua các bờ bãi bình yên. Lắm lúc ào ạt, bứt phá, lao phóng xuống những ghềnh thác cheo leo hiểm trở. Bình trôi hay dữ dội; hung hãn hay đằm thắm âu cũng là tướng mạo và số phận cố hữu của một dòng sông không tên tuổi. Thế rồi, một sáng tinh sương giữa đất trời, con người men đến dòng nước để tìm tòi, khám phá và nương náu. Dòng nước trong lành ấy đã giúp con người có nước uống; cơm ăn; có phù sa bồi đắp bờ bãi; có nước trong tắm, tưới hoa màu. Dòng nước dâng hết sức mình cho hoa lá đôi bờ; cho cuộc sống con người tươi xanh để khỏi phụ lòng cha trời mẹ đất hào hiệp sinh ra. Tấm lòng hào phóng tận tâm ấy - con người vốn mang nặng ân tình - đã ban tặng cho dòng nước hiền thục mầu nhiệm với cái tên yêu quý là: Hiếu Giang(1).
Hiếu Giang, dòng sông thơm thảo hiếu tình, từ ngày ơn nặng sinh thành, như người con gái được về nhà chồng yêu quý, bâng khuâng hớn hở lạ thường. Tinh thần phấn chấn ấy đã sinh sôi bao điều, nâng tầm dòng sông lên mọi mặt. Dòng sông thao thức, trăn trở, vươn mình để bắt kịp với nhịp sống văn hoá văn minh vốn được con người khai hoá.
Quả vậy, cái ngõ ngách; cái thai nghén của các nền văn minh nhân loại được bắt nguồn và hình thành từ những dòng sông...
Hiếu Giang là một dòng sông nhỏ bé, không được như trường giang kỳ vĩ Amazone; không như sông Nil; cũng chẳng sánh nổi với “Quân bất kiến Hoàng Hà chi thuỷ thiên thượng lai”...
Hiếu Giang phát xuất ở triền Bắc “Động Sá Mùi” có độ cao 1.300m. Đây là “Tháp nước” trên mái nhà chung của Quảng Trị và Sêpôn của Việt Nam và nước bạn Lào.
Từ cội nguồn thoát thai: bôn ba, trôi nổi, bồng bềnh, lãng du để về hội ngộ với vạn sống trùng khơi; về chan hoà cái ngọt ngào, trong veo của mình với cái mặn mà chan chứa của biển Đông. Hiếu Giang còn được tiếp sức từ các phụ lưu: “Nác Rào” của dòng Rào Quán; của dòng Sébanghiêng; của dòng Sesamy. Lại càng mạnh mẽ và dạt dào hơn khi hợp với sông Trinh Hinh- phát xuất từ “”Động La Ruông” ở độ cao 1.139m; hơn thế nữa khi về đến ngã ba làng Gia Độ cách cầu Đông Hà trên tuyến đường Quốc lộ 1A về phía Đông khoảng ba cây số thì nhập dòng với sông Thạch Hãn rồi cùng nhau chảy về Cửa Việt. Trên đường về biển, sông còn có một chi hà chảy ra phía Bắc để bắt tay với hạ lưu sông Bến Hải. Nhờ thế, Hiếu Giang mới có một lưu vực rộng đến 460 cây số vuông...
Thầm nghĩ: Sông lớn đến mức nào; sông nhỏ đến độ nào đều có những tơ vương gắn bó, những dấu ấn trong tâm thức của dân sinh sống ven bờ.
Đêm nằm nghe bản trường ca thác đổ- đầu nguồn bên bờ sông Hiếu (Cam Lộ)- giữa đại ngàn thâm u hùng vĩ của núi rừng Trường Sơn. Những màn trăng pha sương tắm gội cho ngàn cây, tràn qua kẻ lá, trôi nổi bồng bềnh, uốn khúc rồi vội vã thả vào cùng thác đổ. Nước chở trăng đi. Trăng cỡi nước về chơi dạo miền xuôi. Thật là thơ mộng! Thật là hoang dã! Đã những ngàn năm như thế - hùng thiêng vời vợi...
Cùng giữa thời gian không gian ấy, các cư dân bản tộc họ sống với nương rẫy, với suối sông một cách nhọc nhằn vất vả mà thấy họ vẫn an nhiên tự tại. Họ sống gần như nguyên bản cội nguồn. Cái dốc kia lên nương rẫy, cái hố nọ xuống thác ghềnh như bạn đời thân quen với họ. Một miếng thịt rừng, một con cá suối, một chồi măng non, lá cây lá rau rừng, một tai nấm mốc, một trái cây rừng như là lương thực cho người dân nơi này. Núi rừng hào phóng đã ban sẵn như vậy. Khi dồi dào dành dụm, lúc ít ỏi tự cung tự cấp. Họ cho thế là đủ, là thoả đáng những gì có được trong thực tại. Cuộc sống không mơ ước gì hơn vì chẳng lấy đâu ra, làm gì được trong bốn bức tường rừng núi. Họ sống gắn bó với núi rừng, khe suối; với muông thú như tim óc như máu thịt, như hơi thở của mình...
 

Hệ thống dẫn thủy cổ Gio An

22/01/2014 lúc 19:34






T





rong rất nhiều dấu tích, di tích người Chàm để lại trên đất Quảng Trị, Hệ thống khai thác và xử lý nước cổ ở xã Gio An còn lại khá nhiều và tương đối nguyên vẹn.
Hệ thống giếng cổ này bao gồm hơn 30 giếng nằm rải rác ở bắc nam đường 75 (Km 7,8) thuộc địa phận năm thôn: An Nha, An Hướng, Hảo Sơn, Long Sơn, Tân Văn...
Đây là những công trình khai thác nước ngầm, sử dụng phương pháp xếp, kè, đẽo đá rất điêu luyện của các thế hệ người Chàm, Việt trên vùng gò đông miền tây Gio Linh và một số nơi khác như Vĩnh Linh, Cam Lộ, Đông Hà.
Đặc điểm kỹ thuật nổi bật của hệ thống khai thác nước là các công trình đều xây dựng theo phương thức xếp, kè và đẽo bằng đá bazan mà dân địa phương gọi là đá ong hay đá mồ côi.Chúng được sử dụng ở đây không chỉ là xếp, kè nhằm tạo ra các bể vách ngăn dưới dạng đá gốc hay tạo ra các máng dẫn, bi giếng, đá phiến lót thành giếng thông qua kỹ thuật chế tác gọt đẽo ở các bộ phận chính của giếng mà còn được dùng kè các bậc cấp, đường lên xuống, hệ thống mương dẫn và bờ ruộng bậc thang. Các công trình đều cùng một mục đích là khai thác nguồn nước ngầm để thực hiện hai chức năng: Cung cấp nước cho sinh hoạt và trồng trọt.
Về khái quát, hệ thống khai thác nước Gio An tập trung ba loại chính sau:
Loại thứ nhất: Là loại có cấu trúc hoàn chỉnh nhất. Đây là những công trình xây dựng qui mô, nhiều bộ phận kết hợp khá chặt chẽ, liên hoàn. Tất cả được phân thành ba hoặc hai bậc cấp với các bể chức năng khác nhau. Bậc cao nhất trên cùng là một bể lắng (hay bãi hứng) được xếp đá cuội, ở vách phía trên chừa các lỗ nhỏ cho nước thoát ra. Tiếp đó là bộ phận tràn và bể chứa, nước từ bể lắng chảy xuống bể chứa qua một bãi tràn có đặt các máng đá, máng đá này được chế tác từ đá bazan dạng nửa hình trụ bổ dọc, dài từ 1,3m - 1,5m, mặt trên có một đường rãnh chạy dọc dài theo thân để dẫn nước. Bể chứa hình tròn hoặc hình bầu dục được xếp đá xung quanh, phía ngoài có các đường cho nước thoát ra chảy vào các con mương. Bể chứa thường sâu từ 1-2m rộng từ 15 - 30m2. Đây vừa là nơi lấy nước sinh hoạt phục vụ ăn uống, vừa là nơi tắm giặt của con người. Cuối cùng là các kênh mương dẫn nhỏ được kè đá hoặc đắp bằng đất chạy ngoằn ngoèo, có nhiệm vụ nhận nước trực tiếp từ bể chứa rồi dẫn ra ruộng. Những giếng thuộc loại này tiêu biểu là: Giếng Đào, giếng Trạng (An Nha), giếng Côi, giếng Kình (An Hướng), giếng Máng (Long Sơn), giếng Gái (Hảo Sơn).
Loại thứ hai: Là giếng không có bể lắng, không có máng dẫn mà thường là các bể chứa nhận trực tiếp nước từ những mội nước (mạch nước) phun nổi có lưu lượng dòng chảy mạnh. Phía ngoài có cửa thoát nước ra mương dẫn hay chảy thẳng ra ruộng. Loại công trình này do chỉ có một bể chứa nên tất cả các sinh hoạt đều diễn ra ở trong lòng bể. Vì thế, để giữ vệ sinh người ta rải một số khối đá chắn ngang một phần ba phía trong với mục đích đào tạo ra một đường ranh giới qui ước, từ đó phần bên trong chỉ dành lấy nước ăn, phần bên ngoài là nơi tắm giặt. Những giếng thuộc loại này tiêu biểu là giếng Ông, giếng Tép (Hảo Sơn), giếng Nậy (Thanh Khê).
Loại thứ ba: Loại giếng này kết hợp giữa hình dạng giếng khơi cổ truyền ở vùng đồng bằng của người Việt và kỹ thuật xếp đá truyền thống tuân thủ theo nguyên tắc tự chảy của người Chàm. Giếng Pheo (Tân Văn) còn nguyên vẹn, được xây dựng ngay chân đồi bằng cách thả “bi giếng” xuống nơi có mạch nước ngầm tạo thành vách từ dưới đáy lên khỏi mặt đất, các bi giếng có hình trụ tròn, mặt ngoài khum, dạng hình tang trống cao chừng 0,4m, đường kính 0,5m dày 0,1m. Nền được xếp các phiến đá ong ghè đẽo sắc sảo. Mặc dù có sự khác biệt về cấu trúc đối với hai loại trên nhưng nó vẫn giữ nguyên tắc khai thác nước ngầm.
Hệ thống dẫn thuỷ cổ Gio An là một loại hình di tích độc đáo của Quảng Trị và cả nước, có giá trị về lịch sử, văn hoá và cả kiến trúc nghệ thuật. Đã có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến các công trình dẫn thuỷ cổ này như: M.Colani, Trần Quốc Vượng, Lâm Mỹ Dung, Lê Duy Sơn... Tuy có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn gốc, chủ nhân, niên đại... song giới nghiên cứu đều công nhận rằng đây là những sản phẩm văn hoá được hình thành bởi sự sáng tạo tuyệt vời của con người từ rất xa xưa.
 

Hòn ngọc giữa biển xanh

22/01/2014 lúc 19:33






Đ





ảo Cồn Cỏ có tên gọi là Hòn Cỏ, Hòn Gió, Thảo Phú, đảo Con Hổ... Cồn Cỏ cách Cửa Tùng 30km về phía Đông Bắc, cách thôn Vĩnh Mốc 25km về phía Đông. Từ huyện đảo Cồn Cỏ nhìn về phía Tây sẽ thấy rõ màu xanh của rừng ven biển Cửa Tùng, Vĩnh Thái. Phía Tây Nam là dãi bờ ven sông Bến Hải.
Huyền thoại về hình thành Đảo thật mộng mơ: Có ông Thồ lồ (khổng lồ) gánh đất đắp nên dãy Trường Sơn. Một hôm đất đá nặng quá, đòn gánh gãy hai đầu đất rơi xuống. Một đầu thành đồi Lò Ren (xã Vĩnh Thuỷ bây giờ). Đầu kia văng ra biển thành một hòn Đảo, cây cỏ mọc xanh, tên gọi Cồn Cỏ muôn đời.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Cồn Cỏ đã đánh 841 trận, bắn rơi 48 máy bay, đánh chìm 17 tàu chiến, vinh dự được nhà nước hai lần tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, xứng đáng được Bác Hồ 3 lần gửi thư khen ngợi và đề tặng câu thơ:
“Cồn Cỏ nở đầy hoa thắng trận
Đánh cho tan xác giặc Hoa Kỳ”
Cồn Cỏ không chỉ chiếm vị trí quan trọng về mặt chiến lược đối với An ninh Quốc phòng mà còn có giá trị lớn về sinh học và kinh tế. Những ngày đẹp trời từ Vĩnh Mốc trong tầm ngắm mắt thường, Cồn Cỏ như một con rùa khổng lồ đang ngoi lên mặt biển. Trên Đảo có các loại rừng nhiệt đới với nhiều tầng cây cỏ làm cho Cồn Cỏ thực sự là hòn đảo xanh với các thảm thực vật phong phú.
Đã có nhiều đoàn khảo sát liên hợp của các trung tâm nghiên cứu, trường Đại học, chuyên gia của các nước... ra Cồn Cỏ khai quật khảo cổ, nghiên cứu khoa học và bảo tồn biển. Đoàn của cố giáo sư Trần Quốc Vượng và nghệ sĩ nhân dân Xuân Đàm ra Đảo từ tháng 7/1994. Tại đây đoàn đã tìm thấy đồ đá cũ trên dưới hai vạn năm ở vùng Bến Nghè và vùng Bến Tranh gồm các hiện vật thuộc các thời đại khác nhau như rìu đá mài nhọn cùng nhiều đồ sành sứ. Thực vật trên Đảo khá phong phú và những giống cây lạ mà đất liền không có. Ở Đảo có những loại cây thân vằn vèo nhiều đốt; cũng có cây giống như cây ổi nhưng to cao, gỗ cứng và nặng, khi xây xát nhựa chảy ra có màu đỏ gọi là cây “dầu máu”. Cây “dầu máu” dùng để ngâm rượu uống trừ phong rất tốt. Lại có loài khoai dại lá to hơn cả lá chuối, giúp người che nắng che mưa. Những rừng bàng vào mùa thu lá đỏ ối cả một vùng trên Đảo. Cây phong ba có sức kháng cự trước gió bão, đến mùa hoa nở trắng trông rất đẹp. Các loại cây đu đủ, chuối, bí... trồng ở đây lúc nào cũng xanh tốt. Thế giới động vật trên đảo không nhiều nhưng chủng loại khá độc đáo. Trên trời, những bầy chim én bay lượn gửi đến con người những tính hiệu bình yên. Dưới đất có nhiều loại rắn dùng làm được thuốc chữa bệnh rất tốt. Nhưng nổi tiếng vẫn là loài cua đá to bằng bàn tay, đã từng là món đặc sản cho lính biển những năm tháng chiến tranh. Bài hát “Con cua đá” của Ngọc Cừ và Phan Ngạn biểu hiện sự lạc quan của chiến sĩ Cồn Cỏ “Cồn Cỏ có con cá đua, là con cua đá - nó nằm trong đá, nó nằm trong khe, có tám cái que, có hai cái càng.... A... lính ta chiến đấu suốt ngày đêm. Có canh là canh cua đá - Càng bền sức trai...”
Đứng trên cao điểm 63,5m nhìn toàn cảnh Cồn Cỏ như một chiếc nón chụp xuống biển Đông. Có hai điểm cao là đồn Hải Phòng 63,5m, đồi cây Si 33m, còn lại là địa hình thoải xuống ven bờ đá và xen lẫn cát trắng, san hô. Nền đá mẹ là phím xuất basalte đệ tứ mà phần phủ ngoài đã bị phong hoá thành thổ nhưỡng lasalte gọi nôm na là đất đỏ. Cấu tạo địa hình Cồn Cỏ không khác gì các mũi đất ở Cửa Tùng, Mũi Si, Mũi Lay.
Vùng biển từ Mũi Lay đến Cồn Cỏ có độ sâu 30 - 40m, vùng Bắc và Đông Bắc Cồn Cỏ có độ sâu 50-90m quy tụ rất nhiều loại hải sản quý hiếm. Tháng 5/2005 đoàn công tác của Dự án bảo tồn biển tiến hành khảo sát và nghiên cứu bờ biển đảo Cồn Cỏ và phát hiện ở đây vùng san hô tốt nhất trong các đáy biển đã khảo sát ở Việt Nam. Ông Ponald Jmacintosh cố vấn trưởng Dự án đã nghiên cứu tại hai điểm Hà Nam và Bến Nghè ở độ sâu 8 - 10m có 45% là san hô lớn, đặc biệt có loại san hô màu đỏ rất quý. Tại Bến Nghè có hải sâm đen, sao biển xanh. Theo kết quả nghiên cứu Cồn Cỏ có 267 loại cá của 120 giống thuộc 69 họ, ngoài ra còn có các loại giáp xác, nhuyễn thể, cua, tôm hùm, ghẹ và cá thu, ngừ... có giá trị xuất khẩu cao...
 

Quân dân Quảng Trị với Đường Trường Sơn

17/04/2014 lúc 14:46






T





rong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, để kịp thời chi viện cho chiến trường miền Nam, Đảng và Nhà nước ta đã mở nhiều con đường chiến lược cả trên không, trên bộ và trên biển để cơ động lực lượng, tiếp tế lương thực, vũ khí đạn dược cho chiến trường. Nhằm giữ bí mật an toàn tuyệt đối, hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do địch gây ra, ngày 19/5/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký quyết định thành lập Binh đoàn Trường Sơn, gọi tắt là Đoàn 559 có nhiệm vụ “xẻ dọc Trường Sơn” xây dựng đường vận tải chiến lược cho các chiến trường trên toàn Đông Dương. Đường Hồ Chí Minh đã trở thành một huyền thoại, mãi mãi âm vang khúc trường ca của một thời“Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước / Mà lòng phơi phới dậy tương lai”.
Nhận thức sâu sắc tính chất đặc biệt quan trọng của đường Trường Sơn, đặc khu Vĩnh Linh đã cử cán bộ (trực tiếp là Ban chỉ huy Lữ đoàn phòng vệ giới tuyến 341) phối hợp cán bộ Ban cán sự Đoàn 559, tập kết tại Khe Hó, cải trang thành người đi khai thác gỗ triển khai hoạt động, tổ chức khảo sát, cắm mốc, đưa một bộ phận tiền trạm soi đường vào Nam. Đầu tháng 6/1959, Đoàn 559 cử đồng chí Võ Bẩm trực tiếp chỉ huy, Tỉnh uỷ Quảng Trị cử đồng chí Pả Cương - Thường vụ huyện uỷ Hướng Hoá và một số cán bộ địa phương thông thạo địa hình Trường Sơn cùng phối hợp mở đường.
 Khe Hó - Vĩnh Linh được chọn làm điểm khởi đầu cho tuyến đường lịch sử này. Từ đó phát triển về hướng tây nam qua làng Mít vào đến Tà Riệp, điểm cuối là Pa Lin. Địa hình khu vực này rất hiểm trở, núi cao, vực thẳm, nhiều đoạn phải vượt qua lèn đá cheo leo nên việc khai thông đường là rất khó khăn. Thời điểm này địch tiến hành đánh phá ác liệt, cùng với máy bay trinh sát, lực lượng thám báo nắm tình hình. Nhưng được sự giúp đỡ cấp uỷ, chính quyền khu vực Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị, nhất của đồng bào các dân tộc miền tây Vĩnh Linh, Hướng Hoá chỉ dẫn, nên việc khai thông và nguỵ trang đường có nhiều thuận lợi. Một số tuyến đường phía Đông Trường Sơn bị địch nhòm ngó và tiến hành các hoạt động phong toả. Tháng 7 năm 1959, Ban cán sự miền tây Trị - Thiên cùng ban giao liên Đoàn 559 họp bàn mở thêm một số cung đường mới phía Tây Trường Sơn. Được sự giúp sức của nhân dân hai nước Việt - Lào, sau hơn một tháng các cung trạm đã hoàn thành. Hơn 100 thanh niên các địa phương Vĩnh Linh, Hướng Hoá nơi có tuyến đường đi qua đã tình nguyện tham gia mở đường và làm công tác bảo vệ. Cuối năm 1959, trên địa bàn Quảng Trị đã có nhiều tuyến đường liên hoàn, nhiều cung đường nối truyến ra Bắc vào Nam và một số cung đường đi qua đất bạn Lào, tạo điều kiện thuận lợi cho việc liên lạc, cơ động, tiếp tế bảo đảm bí mật, bất ngờ. Quá trình khai thông cũng như bảo vệ các cung đường lực lượng vũ trang, nhân dân Quảng Trị đã dốc sức, dốc lòng, đóng góp hàng vạn ngày công để phục vụ nên tốc độ xây dựng diễn ra nhanh chóng. Đặc biệt là lực lượng dân quân du kích các xã vùng phía Tây Vĩnh Linh, Hướng Hoá, vừa làm nhiệm vụ thông đường, vừa vụ tiếp tế lương thực, thực phẩm, tham gia chiến đấu, vận tải thương binh... Lần đầu tiên, ngày 20 tháng 8 năm 1959, hơn 500 kg vũ khí do Đoàn 301 chuyển vào Nam qua địa bàn Quảng Trị đã được giao an toàn cho Liên khu 5 ở Tà Riệp.
Trong suốt chiều dài của cuộc kháng chiến chống Mỹ, lực lượng vũ trang Quảng Trị với quyết tâm “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, cùng với lực lượng thanh niên xung phong và nhân dân vượt qua ngàn thác lũ, lam sơn chướng khí, rừng thiêng nước độc để bám đất, bám dân, tổ chức chiến đấu không cho địch nống lên phía Tây nhằm bảo vệ cho tuyến đường được an toàn. Hàng ngày, trên các cung đường, hàng ngàn thanh niên xung phong, với tinh thần “sống bám cầu, bám đường, chết kiên cường, dũng cảm” đã tham gia mở đường, xây dựng cầu cống, truy bắt lực lượng thám báo, phối hợp với bộ đội chủ lực xây dựng các trận địa bắn máy bay, tổ chức vận chuyển hàng hoá, cứu chữa thương binh. Nhiều thanh niên Vân Kiều đã đưa năng suất gùi thồ lên 90 đến 100 kg mỗi chuyến. Nhân dân các dân tộc vùng núi Hướng Hoá, nhân dân các bộ tộc Lào anh em đã không quản mưa rừng, thác lũ ngày đêm sát cánh cùng với bộ đội, thanh niên xung phong bạt núi mở đường, đào đắp, vận chuyển hàng vạn m3 đất đá. Nhiều cháu nhỏ mặc dù mới 13, 14 tuổi nhưng vẫn tình nguyện lên mặt đường cùng các anh, các chị, các cô, các bác khuân đá, chặt cây, nguỵ trang mặt đường. Đồng bào dân tộc Vân Kiều, Pa Cô nghe theo tiếng gọi của Đảng, Bác Hồ đã dốc lòng, dốc sức cho cách mạng. Mặc dù cơm không có ăn, áo không có mặc,  nhưng đồng bào dân tộc vẫn một lòng đi theo Đảng, Bác Hồ. Họ đã dành đến hạt gạo cuối cùng, củ khoai, củ sắn cuối cùng để tiếp tế cho bộ đội, dù phải ăn rau rừng, măng đắng hay phải nhịn đói, nhịn khát nhưng không tơ hào đến một hạt gạo, hạt muối của cách mạng. Điều đó đã tạo nên cảm hứng cho các nhạc sĩ viết nên nhiều ca khúc đi cùng năm tháng...
 

40 năm gặp lại

14/12/2013 lúc 22:54






C





hiến tranh đã lùi xa hơn 30 năm, nhưng những ký ức về nó không bao giờ phai nhạt trong tâm trí của người dân đất Việt. Để bây giờ, mỗi câu chuyện thời chiến tranh kể lại vẫn luôn mang đến cho chúng ta nhiều điều thật thiêng liêng, ý nghĩa. Câu chuyện tôi ghi lại sau đây cũng vậy, giống như cổ tích trong hàng triệu câu chuyện cổ tích mà dân tộc chúng ta đã viết nên từ lịch sử. Đó là cuộc hội ngộ của một người lính cụ Hồ từng chiến đấu trên quê hương Quảng Trị với đôi vợ chồng tại xã Hải Vĩnh, huyện Hải Lăng...
Hơn 40 năm về trước, khi cuộc chiến tranh chống Mỹ của dân tộc ta đang trong giai đoạn quyết liệt nhất, sự sống và cái chết luôn song hành trong mỗi bước chân hành quân của người lính chiến đấu vì quê hương đất nước. Năm 1968, anh bộ đội Nguyễn Đình Yên, 25 tuổi, quê ở Hồng Lĩnh, Hà Tĩnh, thuộc trung đoàn 812, sư đoàn 324 đã tham gia chiến đấu tại chiến trường Hải Lăng. Trong một lần đi trinh sát vào ban đêm, anh rơi vào ổ phục kích và bị thương nặng. Anh được du kích xã Hải Vĩnh cõng vào trú ẩn ở một gia đình địa phương. Hải Vĩnh lúc này là vùng kháng chiến, nên Mỹ ngụy càn quét, truy lùng Việt cộng rất gắt gao. Vết thương nặng khiến anh Yên mê man bất tỉnh mấy giờ liền. Khi tỉnh dậy, anh thấy mình đang nằm trên chiếc chõng tre, đầu kê lên một chiếc gối màu hồng trong căn nhà lụp xụp. Ở đó, có một đôi trai gái rất trẻ đang ngồi tỉ mỉ rửa nước muối lên vết thương cho anh. Những cơn đau liên hồi khiến anh Yên lúc tỉnh lúc mê nhưng vẫn kịp nghe những tiếng người con gái sụt sùi...

Trận đầu phải thắng

14/12/2013 lúc 22:50






Đ





ầu năm 2008, Chi hội văn học Thái Bình tổ chức cho anh chị em đi tham quan Làng Vây (Quảng Trị). Biết tay Ngọc Trung đã từng phục vụ cho chiến thắng Làng Vây năm nào, tôi hỏi và hắn kể:
Hồi ấy em là chiến sỹ lái xe của binh trạm 32, cung đường vận chuyển của chúng em là từ Lùm Bùm trên đất Triệu Voi tới nam Tha Mé rồi tắt qua Đường Chín bên Nam Lào để lập chân hàng cho mặt trận Khe Sanh ở bên kia sông Sê Pôn. Một trong những kỷ niệm của em là được đi cùng đội xe tăng do anh Phạm Văn Hai làm đại đội trưởng, lần đầu tiên ra quân của Binh chủng tăng – thiết giáp đã san phẳng căn cứ Làng Vây của Lục quân Mỹ.
Làng Vây là một làng của người Vân Kiều thuộc huyện Hướng Hóa tỉnh Quảng Trị nằm hai bên Đường Chín nằm giữa nhà tù Lao Bảo, nơi ra đời bài thơ “con cá chột nưa” nổi tiếng của Nhà thơ Tố Hữu; và thị trấn Khe Sanh, nơi diễn ra đòn cân não của Quân giải  phóng với Lục quân Mỹ trong mùa khô 1967 - 1968. Năm ấy ta mới dùng một đại đội xe tăng để đánh vào Làng Vây. Tiếng súng mở màn cho chiến dịch Khe Sanh đã diễn ra vào ngày 13/1/1968 (tức 14 tháng Chạp âm lịch). Đại đội xe tăng từ Hậu phương lớn âm thầm đi theo một con đường bí mật dài gần 1.000 cây số rồi ém quân trên một khu rừng già ở thượng nguồn sông Sê Pôn; một con sông chảy ngược về nguồn, vắt qua dải Trường sơn hùng vĩ. Đoạn sông ở bản Ka Đáp này rộng chừng 300 mét...

Chuyện học hành thời chiến

17/04/2014 lúc 14:46






1





. Giặc Mỹ tuyên chiến với học trò.Ngày 05/8/1964 Mỹ ném bom miền Bắc Việt Nam mở đầu cuộc chiến tranh phá hoại với cái cớ "trả đũa sự kiện Vịnh Bắc Bộ".
Từ đó, cùng với cả nước, trường cấp III Vĩnh Linh của chúng tôi hừng hực như lửa. Thầy chủ nhiệm thông báo: "Quân và dân ta đã bắn rơi 6 máy bay Mỹ và bắn bị thương nhiều chiếc khác" cả lớp 9B của chúng tôi gào lên hoan hô, nhiều đứa đấm bàn, múa tay một cách náo loạn.
Đã là học sinh cấp III nhưng chúng tôi là những đứa trẻ con, suy nghĩ về chiến cuộc thường thiên về chiến thắng. Chúng tôi mong đối mặt với kẻ thù tại mảnh đất này. Nhìn thầy giáo dạy văn Nguyễn Nguyên Long khoác cây súng trường tôi thấy oai phong quá, khát khao có được một cây súng như thầy.
Cùng thị trấn, trường chúng tôi bắt đầu đào hầm hào trú ẩn. Bọn học sinh chúng tôi bảo nhau: Đào chiến hào! Từ "chiến hào" nghe khí thế tiến công hơn. Hiểu rõ tâm trạng chúng tôi, cứ đến buổi lao động, thầy Hải lại nói: "Chiều nay lớp ta đào chiến hào". Những buổi lao động như vậy rất khí thế, không khác gì dân Liên Xô đào chiến hào quanh thủ đô chống phát xít Đức.
Nhờ tầng đất đỏ ba-zan dày, chiến hào của chúng tôi đào sâu lút đầu, thành đất dẻo khá vững. Toàn trường thay nhau đào liên tục. Hào bao bọc xung quanh trường, chạy dài hai nhánh theo hướng Đông sát mép sân vận động, chạy mãi ra những đồi sim móc hoang dại, tủa ra nhiều nhánh để phân tán học sinh khi có báo động. Với hệ thống chiến hào đó, nhà trường báo động diễn tập và cả báo động thật vì máy may của địch vụt qua đầu. Mỗi buổi học hơn 400 học sinh trong phút chốc đã mất hút dưới chiến hào, rút ra khỏi khu vực trường, tản mát theo các nhánh.
Ngày 8/02/1965, buổi học đầu tiên sau tết nguyên đán, khối học chiều của tôi chuyển lên học sáng, khối học sáng chuyển xuống học chiều. Khoảng hơn 2h chiều, còi báo động của thị trấn rú lên, tôi và một người bạn học đến chơi nhà chạy ra sân xem 5 chiếc máy bay phản lực F4H đang nhào lượn trên bầu trờ phía Đông thị trấn. Tôi biết ở đấy có một đơn vị ra đa và một đơn vị cao xạ. Trước khi nghỉ tết, trường tôi tổ chức hơn 200 học sinh trong đó có tôi lên thăm và đắp thêm công sự cho các chú. Lúc chia tay, các chú chúc chúng tôi và gia đình ăn tết vui vẻ. Khi máy bay đến ném bom, cao xạ nổ lụp bụp, chiếc máy bay xịt một luồng khói đen, tôi và bạn tôi vỗ tay hoan hô. Nhưng không, những chiếc máy bay liền đó cũng như vậy, mỗi khi đổ bom, cua lên đều xịt khói đen, lại lượn vòng nhào xuống. Bom nổ mỗi lúc một dữ dội, không còn nghe tiếng cao xạ, không còn thấy những đốm khói trắng của đạn cao xạ bung ra trên bầu trời nữa. Máy bay nhào xuống mỗi lúc một thấp, tiếng bom nổ làm rung chuyển đất dưới chân chúng tôi đứng. Tuy không nói ra điều hệ trọng, nhưng tôi biết điều gì đã diễn ra ở ngoài đó.
Năm chiếc máy bay xếp thành hình chữ V bay ra biển. Tôi nói với bạn tôi chạy lên đó xem các chú bộ đội thế nào. Mẹ tôi hốt hoảng ngăn lại:
- Nó đã đánh trạm ra đa chắc chắn sẽ còn đánh nữa.
Mẹ tôi hoàn toàn không biết gì về quân sự vẫn nói một lời rất chính xác. Còi báo động lại vang lên, chưa dứt một hồi, tôi đã thấy từ 3 phía: Tây, Nam và Đông máy bay ùa đến. Ngay tức khắc pháo cao xạ, súng máy phòng không, súng bộ binh và bom cùng nổ, ầm ầm như động đất, như trời vỡ. Khói lửa bốc mù mịt. Mảnh bom đạn, đất đá, gạch ngói bay véo véo, sít sịt. Tôi và bạn tôi nhảy ra bờ sông, lăn xuống một đoạn hào đào dang dở, nông choèn. Máy băy lượn ngang dọc loạn xạ, sà xuống rất thấp. Tôi nằm ngửa nhìn lên, thấy nhiều chiếc ườn bụng trước tầm mắt ngỡ như có một chiếc sào dài có thể chọc trúng bụng nó.
Cạnh tôi có một chú công an vũ trang, chẳng biết đến đây từ lúc nào, đang dựa lưng vào một cây xoan nhỏ. Khẩu súng CKC trên tay chú rà theo mắy bay nổ đều từng phát rất đanh. Mảnh bom rơi lủm bủm xuống sông sau lưng chú. Tôi chồm lên vỗ vào lưng chú chỉ xuống hào, chú đẩy tôi về chỗ cũ, đôi chân dạng ra, ưỡn thẳng người, nòng súng vẫn bám chặt máy bay, điểm xạ đều đều, chắc nịch, bình tỉnh một cách kỳ diệu. Từ đó, hình ảnh người chiến sỹ ấy in đậm trong tôi như một người anh hùng không biết tên.
Trận ném bom diễn ra và chấm dứt rất nhanh. Bầy máy bay biến đâu mất. Tôi và bạn tôi chồm lên khỏi hào. Mặt đất hoàn toàn đổi khác. Đất đá, gạch ngói tung tóc khắp nơi, toang toác những hố bom đây đó. Lửa đang cháy và khói bụi mù mịt trời. Tôi chạy lên trường và giật mình khi nhìn thấy một bộ lòng người bay từ đâu tới, treo lỏng thỏng trên dây điện, ven đường quốc lộ 1A đối diện trường cấp II.
Bom đạn tung nát cả khuôn viên trường cấp III của tôi, nhiều hố tròn, toang hoác như mồn hà mã khổng lồ có thể nuốt chửng cả một sân bóng chuyền. Sách vở học trò tung tóe, trắng xoá. Chỉ có thầy Nguyễn Nguyên Long đứng giữa sân trường, vẫn cây súng trường trung chính cũ kỹ của Pháp khoác chéo qua vai. Tôi nói:
- Thầy ẩn nấp ở chỗ nào mà lên đây? Các bạn của em đâu cả rồi?
Thầy nói:
- Tiếc quá, thầy chỉ có 16 viên đạn, không đủ cho trận đánh vừa rồi.
Thầy chỉ cho tôi thấy một trái bom câm, xuyên qua tầng lầu, đâm xuống cạnh cầu thang thành một lỗ tròn. Nếu trái bom này nổ, trường cấp III của tôi sẽ bị xé tung làm hai mảnh đổ về hai phía. Chỉ về phía Trạng Cù thầy nói:
- Các bạn của em sau đó....

Người bắc những nhịp cầu khuyến học

22/01/2014 lúc 16:05






C





on người tâm huyết và lý luận.
Mở đầu bài tham luận bác Nguyễn Đức Tảo nhấn mạnh “Dân tộc Việt Nam có nền văn hiến lâu đời, có tư chất thông minh, cần cù, chịu khó. Ấy thế mà do sự đô hộ, xâm lược của thực dân, phong kiến, đất nước Việt Nam có nền giáo dục chậm phát triển so với các nước khác”. Bằng sự hiểu biết Bác lập luận “Nhưng trong những đêm đen nô lệ ấy, không thiếu hình ảnh những người nông dân lao khổ tập đọc trên ruộng cày, tập viết dưới ánh trăng sao, hay lấy đom đóm làm đèn để đến với các lớp bình dân học vụ. Khắc phục mọi khó khăn, phát huy nguồn lực trí tuệ, trang bị cho mình những tri thức cần thiết, phá vỡ vòng cương toả của chính sách ngu dân của bọn xâm lược”. Xuyên suốt bài Tham luận “Tư tưởng Hồ Chí Minh về sự học và khuyến học” (tại Trung tâm học tập cộng đồng ở xã Cam Hiếu), bác Nguyễn Đức Tảo luôn lấy tấm gương tự học của Chủ tịch Hồ Chí Minh để mọi người noi theo. Kết thúc bài tham luận, một lần nữa Bác Tảo khẳng định “Học tập suốt đời, học tập thường xuyên, học tập cho mọi người là nội dung chủ yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh về sự học và khuyến học, đây cũng là nội dung cốt lõi của khái niệm xã hội học tập mà Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng trong bối cảnh thế giới đang phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học và công nghệ, sự bùng nổ của cách mạng thông tin”.
Bác Tảo say sưa nói với tôi về bài tham luận như đứng trước buổi toạ đàm hôm nào, Bác đưa ra nhiều chứng cứ về thực tiễn địa phương mình (xã Cam An) để minh chứng “Giáo dục, đào tạo là một sự nghiệp lớn, vĩ mô, chiến lược lâu dài”. Nhắc đến đây tôi nhớ đến câu nói của Bác Hồ: “Trình độ văn hoá của nhân dân nâng cao sẽ giúp chúng ta đẩy mạnh công cuộc khôi phục kinh tế, phát triển dân chủ. Nâng cao trình độ văn hoá của nhân dân cũng là một việc cần thiết để xây dựng nước ta thành một nước hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”. Quan điểm giáo dục được Bác Hồ cụ thể hoá khi Người đến với các trường học, các địa phương: như học tập để làm cho nước Việt Nam sánh vai cùng với các cường quốc năm châu; học tập không phải để đi làm quan mà để phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân mà nhân dân đang đòi hỏi; phải “học đi đôi với hành”, “học tập kết hợp với lao động sản xuất”…Từ những tư tưởng giáo dục đó của Bác Hồ, xuất phát từ thực tiễn đất nước Văn kiện Đại hội IX của Đảng đã nhấn mạnh “Đẩy mạnh phong trào học tập trong nhân dân bằng những hình thức giáo dục chính quy và không chính quy, thực hiện “giáo dục cho mọi người”, “Cả nước trở thành một xã hội học tập”; Văn kiện Đại hội X nêu rõ thêm “Chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở - mô hình xã hội học tập với hệ thống giáo dục suốt đời, đào tạo liên tục, liên thông giữa các bậc học, ngành học; xây dựng và phát triển hệ thống học tập cho mọi người với những hình thức học tập, thực hành linh hoạt, bảo đảm sự công bằng xã hội trong giáo dục”. Và tinh thần Chỉ thị 11 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập, xác định “xây dựng xã hội học tập là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, là mục tiêu cơ bản trong chiến lược chấn hưng và phát triển giáo dục của nước ta…” đó là những quyết tâm thực hiện mong muốn của Bác Hồ: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành…”.
Nhịp cầu khuyến học Cam An hôm nay.
Bác Nguyễn Đức Tảo kể lại: “Tốt nghiệp Cử nhân Anh văn, Bác vào quân đội năm 1963; Bác đã tham gia nhiều trận đánh lớn góp phần giải phóng quê hương đất nước. Năm 1984 bác được nghỉ hưu, nhưng với bản chất anh bộ đội Cụ Hồ, với những tri thức của mình, Bác đã dạy kèm cho các em hiếu học trong xã, thôn về Anh văn mà không bao giờ Bác nhận thù lao. Rất nhiều em được Bác dạy bảo nay đã trưởng thành, lúc nào có dịp lại ghé về thăm thầy cũ”....
 

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức HCM :

22/01/2014 lúc 16:03






N





gày 7 tháng 11 năm 2006, Bộ chính trị Ban chấp hành trung ương Đảng (khóa X) đã ban hành chỉ thị số 06 - CT/TW về tổ chức cuộc vận động " Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh"      
Tuy nhiên, tấm gương đạo đức của Bác thì chúng ta đã học từ lâu và sẽ học mãi mãi. Một trong những tư tưởng của Bác đã để lại cho con cháu là: "Kiên quyết không ngừng thế tấn công". Câu này Bác viết ở bài thơ "Học đánh cờ" trong "Ngục trung nhật ký" từ cuối năm 1942, khi bọn Tưởng Giới Thạch nghi cho Bác là Hán gian rồi bắt giam Bác và giải từ nhà tù này đến nhà tù khác. Tư tưởng "Kiên quyết không ngừng thế tấn công" của Bác không chỉ trong tấn công, mà cao hơn tấn  công, là trong phòng thủ. "Tấn công trong phòng thủ" vừa là khoa học vừa độc đáo và đã được kiểm nghiệm qua nhiều chiến dịch, đã trở thành một trong những tư tưởng nổi bật nhất trong Binh thư giữ nước của dân tộc ta.
Một trong những chiến dịch "tấn công khi phòng thủ" là lần quân dân Quảng Trị đánh bại liên tiếp 4 cuộc hành quân "Lam Sơn 72A", "Sóng thần 36", "Sóng thần 45", và "Sóng thần 18"  của Mỹ - ngụy vào mùa mưa năm 1972.
Là người được tổ chức phân công theo dõi diễn biến các cuộc hành quân này để viết bài cho "Tuần tin tức" của Bộ Tham mưu B2 (Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ), tôi xin kể lại sự chỉ đạo của Bộ chỉ huy Mặt trận Trị - Thiên ngày đó để các bạn chưa sinh ra "khi nước nhà còn chia cắt" được rõ:
Ngày ấy; 16/9/1972, với nhiều lý do quân ta phải rút khỏi Thành Cổ, mà lý do chủ yếu là phải hấng chịu nhiều cơn bão, áp thấp nhiệt đới  và lũ quét. Nước mưa cùng lũ trên nguồn đổ về trắng trời trắng đất, thị xã Quảng Trị và Thành Cổ bỗng chốc biến thành biển khơi, nước lũ cuốn đi tất cả những gì trên mặt đất. Tường Thành Cổ dày là thế mà cứ rùng mình rồi cùng nhau đổ rùng rùng xuống chiến hào của chiến sĩ ta chốt chặn. Lợi dụng " Thiên thời" ấy, Mỹ- ngụy đã tiếp tay cho bão tố bằng những trận ném bom hủy diệt mọi sinh linh trên mặt đất và dùng súng phun lửa quét ràn rạt vào lính ta khi ngoi lên khỏi chiến hào hết ngày này qua ngày khác. Trong hoàn cảnh này, những người trong cuộc mới  hiểu được giá trị trong câu "Thực tiễn là thước đo chân lý" mà Võ Tổng (theo cách gọi đầy khâm phục của Đoàn chuyên gia Trung Quốc đối với anh Văn) đã rút ra  trong chiến dịch Điện Biên lừng lẫy địa cầu. Sự quái ác của bão lũ đến đột ngột quá, buộc quân ta phải bỏ Thành Cổ rơi vào tay Mỹ -ngụy. Mất Thành Cổ, bỏ lại hài cốt đồng đội bên kia sông Thạch Hãn là cái uất mỗi khi nghĩ tới của Bộ chỉ huy Mặt trận Trị - Thiên, của các sư đoàn 308, 304, 316, 325, 324, 320B và lực lượng vũ trang địa phương.
Cái uất chặn ngang cổ họng mỗi khi đưa thỏi lương khô lên miệng. Vì sao vậy? Vì không thua giặc đất mà thua "giặc trời". Cái uất chưa hề nguôi ngoai thì mấy ngày sau khi quân ta rút khỏi Thành Cổ, Mỹ - ngụy lại mở cuộc hành quân "Lam Sơn 72A" nhằm tái chiếm phần đất "đã mất" trước ngày 1/5/1972, trong đó có cảng Cửa Việt. Mỹ - ngụy đã huy động 2 sư đoàn dự trữ chiến lược, 1 liên đoàn biệt động "dày dạn sa trường"của Ngụy quân Sài Gòn và được không quân, pháo binh, chiếm hạm của quân đội viễn chinh Mỹ chi viện cao nhất, dã man nhất. Mục tiêu của cuộc hành quân "Lam Sơn 72A" là cắt đứt đường dây chiến lược của ta từ Tây Trường Sơn tiếp sức cho Mặt trận Trị - Thiên bằng cách đánh bật các chốt của ta trên cao điểm 367, Động Ông Do…ra khỏi phía tây Quảng Trị: cho quân ngụy vượt hồ nước Tích Tường hất quân ta xuống sông Thạch Hãn; và chiếm bằng được vùng ngã ba Sông Hiếu rồi hợp nhau chiếm ái Tử - Đông Hà- Cửa Việt.
Đi "tiên phong" trong cuộc hành quân này là hai sư đoàn sừng sỏ nhất của quân ngụy Sài Gòn là sư đoàn "Thiên thần mũ đỏ",  sư đoàn "Cọp biển" và lợi dụng tối đa mưa bão, áp thấp nhiệt đới, lũ quét trong mùa mưa trắng trời trắng đất của miền Trung.
Như vậy, muốn giữ được chốt trên một chiến tuyến dài hơn 50km từ biên giới Việt -Lào tới đồng bằng huyện Triệu Phong, quân ta không chỉ phải phòng thủ giữ chốt mà quan trọng hơn là phải tiến công; tiến công vào hậu phương quân ngụy  và tiến công vào lũ quét."Tiến công vào lũ quét" là bài học rút ra từ cái uất khi quân ta phải rút khỏi Thành Cổ...
 

108 ngày bên Cửa Việt

17/04/2014 lúc 14:46






Đ





úng như phán đoán của chỉ huy tiểu đoàn 47, sang 11 tháng 3, không phải quân nguỵ, mà quân Mỹ tấn công. Mới 6 giờ sáng, một tàu há mồm chở 3 M113, và thuyền cao su chở một đại đội lính thuỷ quân lục chiến cập bến Mai Xá.
Tàu há mồn cho xe thiết giáp từng cái một lên bờ, chiếc thứ ba vừa lăn xích liên bị một quả DKZ, xe tăng nhào ngay xuống nước. Cùng lúc đó hai xuồng cao su cũng bị bắn chìm.
Hai thiết giáp dẫn lính thuỷ quân lục chiến vào làng Mai Xá, từ các hầm phục kích, đạn bắn ra như mưa. Thêm 2 M113 bị cháy, và 10 tên lính Mỹ gục tại chỗ. Riêng Nguyễn Văn Lộc bắn cháy 2 M113.
Lính Mỹ mất sự yểm trợ của xe tăng đang lúng túng thì máy bay chiến đấu tới đỡ đòn tấn chông cho chúng. Bọn lính Mỹ này rất lỳ lợm, chúng hung hăng tấn công vào làng.
Đến 12 giờ trưa, tổng số lính Mỹ bị diệt lên tới 50 tên, dưới tầm kiểm soát của máy bay, chúng đã chiếm được nửa làng Mai Xá.
Lần đầu tiên đại đội 1 phải chống trả quyết liệt dưới bom đạn dày đặc của máy bay.
Để bảo toàn lực lượng, chuẩn bị cho một đợt tấn công mới, không thể để làm mồi cho bom đạn ở một trận địa sức chiến đấu cả lực lượng và khí tài đang từng phút chênh lệch đang kể, ban chỉ huy tiểu đoàn 47 hạ lênh cho bộ đội đại đội1 rút khỏi Mai Xá, dừng chân ở Vinh Quang Thượng.
Trước khi đi, ta đã chôn xong liện sĩ, và khi hành quân ta không bỏ rơi một thương binh nào.
Sau ngày rút về Vinh Quang Thượng, Trần Văn Thà sắp xếp lại đội hình:
- Đại đội 1 chốt ở Vinh Quang Thượng, xóm Đá, xóm Đồng.
- Đại đội 2 chốt tại Vinh Quang Hạ, Đại Bộ, xóm Hiến.
- Đại đội 3 chốt Kỳ Trúc, Kỳ Lâm.
- Chỉ huy tiểu đoàn đóng ở Kỳ Trúc.
Củng có lại đội hình xong, trong 4 đêm liền cho quân về quấy rối, thăm dò đại đội Mỹ đóng ở Mai Xá. Lính 47 chưa quen công đồn kiểu lính Mỹ đóng lẫn với dân, đánh thì nguy hiểm nhất là tên rơi đạn lạc, không chết Mỹ mà chết dân thì tội quá. Lính Mỹ ở Mai Xá cũng rất cáo già chúng có chống trả, nhưng tỏ ra yếu ớt, để quân giải phóng không thể hiểu lực lượng, bố phòng của chúng như thế nào.
Đến ngày 8 tháng 3, mới 6 giờ sáng, chúng cho pháo bắn tầm tả vào Vinh Quang Thượng, sau 4 tiếng đồng hồ bắn phá, 10 giờ, 50 tên Mỹ từ Mai Xá từng bược thận trọng tiến về Vinh Quang Thượng.
Lần này Nguyễn Văn Lộc không mai phục trong làng, anh cho bộ đội làm hầm, chôn quân dưới đất cách làng 50 mét. Nhìn địa thế, Lộc đoán, nếu đánh Vinh Quang Thượng địch sẽ đi hướng nào. Lộc đã đoán đúng, cho quân phục hướng đó.
Thấy đich từ xa, lính ta nhấp nhô. Lộc nói:
- Anh em lấy lương khô ra, ăn bữa trưa đi, nếu không lát nữa ham đánh, đói bụng, mất sức. Tôi sẽ bám chắc địch, khi nào tôi nổ súng, anh em mới được bắn.
Bọn Mỹ tưởng đâu, nếu quân giải phóng có mai phục, thì phục trong làng, chúng có biết đâu Nguyễn Văn Lộc đã thay đổi cách đánh. Cho nên cách làng 50 mét chúng vẫn tỏ ra thủng thẳng.
Hai tên Mỹ đến trước mũi súng của Lộc cách có 2 mét,  Lộc nổ súng. Hai tên Mỹ ngã gục tại chỗ. Cùng tiếng súng của Lộc, các cây súng đã chọn được mục tiêu cũng bóp cò. Như vậy là ngay loạt đạn đầu, trừ 2 tên Mỹ bị Lộc giết, 5 tên khác cũng ngã vật tắt thở. Gần 40 tên Mỹ phía sau chạy lui. Lính ta chạy lên công sự lấy ngay 7 tên Mỹ chết làm bên bắn, bắn đuổi theo.
Ngay lập tức ta thu 2 M79, 2 trung liên, hai tiểu liên.
Ta không xung phong ra khỏi làng. Địch không dám xông vào. Cứ thế, trận chiến kéo dài suốt một ngày. Tối Mỹ mới rút, không dám liều chết lấy xác đồng đội của mình.
Trong cuộc giằng co ngày mồng 8, có một con lợn của dân bị đạn lạc, chết. Bộ đội mấy ngày ăn lương khô, thèm lắm. Nhưng nguyên tắc không được đụng tới sợi chỉ cây kim của dân, các anh sợ làm hỏng công tác dân vận, nên con lợn chết chỗ nào cứ nằm chỗ nấy. Rồi đi tìm cán bộ thôn báo cho họ biết có con lợn bị chết...
 

Diễn viên độc tấu Lúa Xanh chữa thơ

18/11/2013 lúc 17:11






C





hủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam, một Hồi tôi còn học lớp Đệ Nhất (tương đương với lớp 5 bây giờ) tại trường Tân Dân - Nam Đàn, một đêm lên Rú Dồi thuộc xã Nam Hùng xem Văn công Quân đội diễn. Tôi nhớ mãi có một nam diễn viên được giới thiệu là Lúa Xanh lên độc tấu. Anh nói giọng Huế trọ trẹ, nhẹ nhàng, trơn tru... thật dễ thương!. Sau mấy đêm xem diễn ở Rú Dồi tôi được nghe một cô gái thuộc loại hoa khôi của làng Bố Đức đã mê anh Lúa Xanh và quả quyết rằng: Lúa Xanh chính là nhà thơ Phùng Quán. Lớn lên, có dịp tôi thẩm tra lại thì đúng như vậy!
... Theo lời hẹn, khoảng 4 giờ chiều tôi tới chỗ anh làm việc, sau đó sẽ về nhà anh trọ ở làng Nghi Tàm nghỉ đêm. Từ dưới sân bước lên tam cấp nhìn sang trái là chỗ anh làm việc. Gọi là chỗ làm  việc cho oai chứ ngoài chiếc bàn, chiếc ghế mộc ra thì chẳng còn cái gì. Hồi đó anh đang dính vào vụ “Nhân văn giai phẩm” ...

« 3738394041 »

Tạp chí số cũ
Dự thảo
tư tưởng Hồ Chí Minh
Du Lịch Quảng Trị

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

06/08

25° - 27°

Mưa

07/08

24° - 26°

Mưa

08/08

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground